Đại gia Gatsby

Lượt đọc: 34 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
IX

❊ ❊ ❊

Sau hai năm, phần còn lại của ngày hôm đó, đêm ấy và ngày hôm sau chỉ đọng lại trong trí nhớ tôi như một chuỗi ngày mệt mỏi đến cùng cực với cảnh cảnh sát, thợ ảnh và phóng viên ra vào cửa trước nhà Gatsby. Một sợi dây thừng căng ngang cổng chính cùng một viên cảnh sát túc trực ở đó để ngăn những kẻ tò mò, nhưng lũ trẻ nhanh chóng phát hiện ra chúng có thể đột nhập qua sân nhà tôi, và lúc nào cũng có vài đứa đứng há hốc mồm quanh hồ bơi. Chiều hôm đó, một kẻ với dáng điệu quả quyết, có lẽ là một thám tử, đã thốt lên từ “tên điên” khi hắn cúi người kiểm tra thi thể Wilson, và quyền lực tình cờ từ giọng nói của hắn đã định hướng cho các bản tin trên báo vào sáng hôm sau.

Hầu hết những bản tin đó đều là một cơn ác mộng — kỳ dị, đầy chi tiết bịa đặt, hăng hái nhưng hoàn toàn sai sự thật. Khi lời khai của Michaelis tại cuộc điều tra làm sáng tỏ những ngờ vực của Wilson đối với vợ mình, tôi cứ ngỡ toàn bộ câu chuyện ấy sẽ sớm bị đem ra xào nấu thành những bài châm biếm cay cay — nhưng Catherine, người vốn có thể tuôn ra đủ thứ chuyện, lại ngậm tăm không nói một lời. Cô ta cũng thể hiện một bản lĩnh đáng kinh ngạc trong chuyện đó — nhìn viên quan điều tra bằng đôi mắt kiên định dưới cặp chân mày đã được tỉa tót cẩn thận, và thề rằng chị gái cô ta chưa từng gặp Gatsby, rằng chị cô ta hoàn toàn hạnh phúc với chồng, và chị cô ta chưa từng nhúng chàm vào bất kỳ chuyện tai quái nào. Cô ta tự huyễn hoặc bản thân bằng điều đó, rồi khóc nức nở vào chiếc khăn tay, cứ như thể chính cái giả thiết kia là điều quá sức chịu đựng đối với cô ta. Thế là Wilson bị gán cho nhãn mác một kẻ “mất trí vì đau khổ” để vụ án được khép lại theo hướng đơn giản nhất. Và mọi chuyện dừng lại ở đó.

Nhưng tất cả những phần ấy dường như thật xa vời và phù phiếm. Tôi thấy mình đứng về phía Gatsby, và hoàn toàn đơn độc. Kể từ khoảnh khắc tôi gọi điện báo tin thảm kịch về làng West Egg, mọi phỏng đoán về anh, mọi câu hỏi mang tính thực tế, đều đổ dồn lên đầu tôi. Ban đầu tôi ngỡ ngàng và rối bời; rồi khi anh nằm đó trong căn nhà của mình, bất động, không thở, không nói năng suốt hàng giờ liền, cảm giác trách nhiệm cứ thế lớn dần lên trong tôi, bởi vì chẳng còn ai khác quan tâm nữa — ý tôi là sự quan tâm sâu sắc mang tính cá nhân mà bất cứ ai cũng có chút quyền mơ hồ được nhận vào lúc cuối đời.

Tôi gọi cho Daisy nửa tiếng sau khi chúng tôi tìm thấy xác anh, gọi theo bản năng và không chút do dự. Nhưng cô ta và Tom đã rời đi từ đầu giờ chiều hôm đó, mang theo cả hành lý.

“Không để lại địa chỉ à?”

“Không.”

“Có nói khi nào họ về không?”

“Không.”

“Có manh mối nào về nơi họ ở không? Làm sao tôi liên lạc được với họ?”

“Tôi không biết. Chịu thôi.”

Tôi muốn tìm ai đó cho anh. Tôi muốn bước vào căn phòng nơi anh nằm và trấn an: “Tôi sẽ tìm người đến cho anh, Gatsby. Đừng lo. Cứ tin ở tôi và tôi sẽ tìm người đến cho anh—”

Tên của Meyer Wolfshiem không có trong danh bạ điện thoại. Người quản gia cho tôi địa chỉ văn phòng của lão trên đại lộ Broadway, và tôi gọi tổng đài tra cứu số, nhưng khi tôi có được số thì đã quá năm giờ chiều, và chẳng có ai bắt máy.

“Anh gọi lại giúp tôi được không?”

“Tôi gọi ba lần rồi.”

“Việc này rất quan trọng.”

“Xin lỗi. E rằng không có ai ở đó.”

Tôi quay lại phòng khách và trong một khoảnh khắc đã tưởng đám đông công quyền bất thình lình lấp đầy căn phòng này chỉ là những vị khách ghé qua tình cờ. Nhưng, dẫu họ có vén tấm vải trải giường lên và nhìn Gatsby với đôi mắt bàng hoàng, lời khẩn khoản của anh vẫn văng vẳng trong tâm trí tôi:

“Này anh bạn già, cậu phải tìm người đến cho tôi chứ. Cậu phải cố gắng vào. Tôi không thể chịu đựng cảnh này một mình đâu.”

Ai đó bắt đầu đặt câu hỏi cho tôi, nhưng tôi gạt đi, chạy lên lầu và lục lọi vội vã những ngăn bàn không khóa — anh chưa từng nói rõ với tôi rằng bố mẹ mình đã qua đời. Nhưng chẳng có gì cả — ngoại trừ bức ảnh của Dan Cody, một minh chứng cho những bạo tàn đã lùi vào dĩ vãng, đang lặng lẽ nhìn xuống từ trên tường.

Sáng hôm sau, tôi sai người quản gia mang thư đến New York cho Wolfshiem, trong thư tôi dò hỏi thông tin và giục lão bắt chuyến tàu sớm nhất để đến đây. Lúc đặt bút viết, yêu cầu đó có vẻ thật thừa thãi. Tôi đinh ninh lão sẽ lên đường ngay khi đọc báo, cũng như tôi chắc mẩm sẽ có bức điện tín từ Daisy trước buổi trưa — nhưng chẳng có bức điện tín nào hay ông Wolfshiem nào xuất hiện cả; chẳng có ai tới ngoài thêm mấy toán cảnh sát, thợ ảnh và phóng viên. Khi người quản gia mang câu trả lời của Wolfshiem trở về, trong tôi bắt đầu nhóm lên một cảm giác ngạo mạn, một sự đoàn kết đầy khinh miệt giữa tôi và Gatsby chống lại tất cả bọn họ.

Kính gửi ông Carraway. Đây là một trong những cú sốc khủng khiếp nhất đời tôi, tôi hầu như không thể tin đó là sự thật. Một hành động điên rồ như kẻ đó đã làm nên khiến tất cả chúng ta phải suy ngẫm. Hiện tại tôi không thể xuống đó được vì đang vướng vào một số việc rất quan trọng và không thể dây dưa vào chuyện này lúc này. Nếu có việc gì tôi có thể giúp sau ít lâu nữa, xin hãy báo cho tôi qua lá thư do Edgar cầm. Tôi gần như chẳng biết mình đang ở đâu khi nghe về một chuyện thế này và đã hoàn toàn suy sụp quỵ ngã.

Thân gửi ông

Meyer Wolfshiem

và ngay bên dưới là lời tái bút vội vã:

Hãy cho tôi biết về đám tang v.v. tôi hoàn toàn không biết gì về gia đình cậu ấy.

Khi chiếc điện thoại reo lên vào buổi chiều hôm đó và tổng đài đường dài báo có cuộc gọi từ Chicago, tôi cứ ngỡ cuối cùng đó cũng là Daisy. Nhưng đầu dây bên kia vang lên giọng một người đàn ông, rất mỏng và xa xăm.

“Tôi là Slagle đây…”

“Vâng?” Cái tên này thật xa lạ.

“Quả là một cú sốc chết tiệt, phải không? Nhận được điện của tôi chưa?”

“Chẳng có bức điện nào cả.”

“Thằng bé Parke gặp rắc rối rồi,” hắn nói nhanh như bắn súng. “Họ tóm cổ nó ngay lúc nó giao mấy tờ trái phiếu qua quầy. Họ nhận được thông tri từ New York cung cấp số sê-ri đúng năm phút trước đó. Cậu thấy sao, hả? Mấy cái thị trấn tỉnh lẻ này thì chẳng bao giờ đoán trước được điều gì—”

“Alo!” Tôi thở dốc cắt ngang. “Này — đây không phải ông Gatsby đâu. Ông Gatsby chết rồi.”

Đầu dây bên kia chìm trong một khoảng lặng kéo dài, tiếp theo là một tiếng kêu thảng thốt… rồi tiếng réo tút tút cụt lủn khi cuộc gọi bị cắt đứt.

Tôi nghĩ là vào ngày thứ ba thì có một bức điện tín ký tên Henry C. Gatz gửi từ một thị trấn ở Minnesota đến. Nội dung chỉ ngắn ngủi báo rằng người gửi đang lên đường ngay lập tức và hãy hoãn đám tang lại cho tới khi ông đến.

Đó là cha của Gatsby, một cụ ông trang nghiêm, vô cùng bất lực và hoang mang, quấn mình trong chiếc áo khoác dài rẻ tiền để chống chọi với cái khí trời tháng Chín oi bức. Đôi mắt cụ cứ rỉ nước mãi vì xúc động, và khi tôi đón lấy chiếc túi xách cùng ô từ tay cụ, cụ bắt đầu túm lấy bộ râu thưa thưa điểm bạc của mình đến mức tôi phải vất vả lắm mới cởi được chiếc áo khoác ra hộ cụ. Cụ đã kiệt sức đến nơi, thế nên tôi dìu cụ vào phòng nhạc và mời cụ ngồi xuống trong lúc sai người đi lấy gì đó cho cụ ăn. Nhưng cụ nhất quyết không ăn, và ly sữa trên tay cụ run lẩy bẩy đến mức làm tràn cả ra ngoài.

“Tôi đọc được trên báo Chicago,” cụ nói. “Tất cả đều có trên báo Chicago. Tôi lập tức lên đường ngay.”

“Cháu đã không biết làm cách nào để liên lạc với bác.”

Đôi mắt cụ vô hồn, đảo liên hồi khắp căn phòng.

“Đó là một kẻ điên,” cụ nói. “Hắn ta chắc chắn phải điên rồi.”

“Bác dùng chút cà phê nhé?” Tôi ân cần giục.

“Tôi chẳng cần gì đâu. Tôi ổn rồi, cậu…”

“Carraway ạ.”

“À, tôi ổn rồi. Họ quàn thằng Jimmy ở đâu?”

Tôi dìu cụ vào phòng khách, nơi thi thể đứa con trai đang nằm, rồi để cụ lại một mình ở đó. Mấy đứa trẻ tò mò đã leo lên bậc thềm và ngó vào trong sảnh; khi tôi nói cho chúng biết ai vừa đến, chúng đành miễn cưỡng bỏ đi.

Một lát sau, ông Gatz đẩy cửa bước ra, miệng hé mở, khuôn mặt ửng đỏ đôi chút, khóe mắt rỉ những giọt nước mắt lẻ loi và muộn màng. Cụ đã ở cái tuổi mà sự chết chóc không còn mang dáng dấp của một cú sốc kinh hoàng nữa, và khi lần đầu tiên cụ đưa mắt quan sát xung quanh, nhìn thấy chiều cao cùng vẻ nguy nga tráng lệ của sảnh lớn cùng những căn phòng thênh thang nối tiếp nhau, nỗi đau buồn trong lòng cụ bắt đầu pha lẫn niềm tự hào đầy kính sợ. Tôi dìu cụ lên phòng ngủ trên lầu; trong lúc cụ cởi áo khoác và áo ghi-lê, tôi báo cho cụ biết rằng mọi nghi thức đã được hoãn lại cho tới khi cụ có mặt.

“Bác không biết cháu muốn thế nào, ông Gatsby—”

“Gatz là họ của tôi.”

“—Ông Gatz. Cháu cứ nghĩ bác có ý muốn đưa thi hài nó về miền Tây.”

Cụ lắc đầu.

“Thằng Jimmy xưa nay vẫn thích miền Đông hơn. Nó đã gầy dựng được cơ nghiệp ở miền Đông này. Cậu có phải bạn của con trai tôi không, ông…?”

“Chúng cháu là bạn thân.”

“Nó có một tương lai rộng mở chờ phía trước, cậu biết đấy. Nó còn trẻ lắm, nhưng bộ óc thì cực kỳ thông minh.”

Cụ chạm tay lên trán đầy vẻ kiêu hãnh, và tôi gật đầu đồng tình.

“Nếu nó còn sống, nó đã trở thành một vĩ nhân rồi. Một người như James J. Hill. Nó sẽ góp phần xây dựng đất nước này.”

“Điều đó đúng ạ,” tôi ngượng ngùng đáp.

Cụ lần mò tấm khăn trải giường thêu hoa, cố kéo nó ra khỏi giường, rồi cứ thế cứng đờ ngả lưng xuống — và chìm vào giấc ngủ ngay lập tức.

Đêm đó, một giọng nói rõ là đang hoảng sợ gọi đến, gặng hỏi cho bằng được tôi là ai thì mới chịu xưng tên.

“Tôi là Carraway đây,” tôi đáp.

“Ồ!” Giọng hắn nhẹ nhõm hẳn. “Tôi là Klipspringer đây.”

Tôi cũng thấy nhẹ nhõm, bởi điều đó có vẻ như hứa hẹn sẽ có thêm một người bạn nữa đến viếng mộ Gatsby. Tôi không muốn đám tang lên báo để rồi kéo theo một đám đông hiếu kỳ đến xem, thế nên bản thân tôi đã chủ động gọi cho vài người. Họ quả thực rất khó tìm.

“Đám tang diễn ra vào ngày mai,” tôi nói. “Ba giờ chiều, tại nhà tôi. Ước gì anh báo lại cho bất cứ ai thấy quan tâm.”

“Ồ, tôi sẽ báo chứ,” hắn vội vàng thanh minh. “Dĩ nhiên là tôi chẳng mấy khi gặp ai, nhưng nếu có dịp.”

Giọng điệu của hắn khiến tôi đâm nghi ngờ.

“Dĩ nhiên là chính anh sẽ có mặt chứ.”

“À, tôi nhất định sẽ cố gắng. Chuyện tôi gọi đến là…”

“Đợi đã,” tôi cắt ngang. “Sao không nói thẳng là anh sẽ đến đi?”

“Chà, thực tế là — sự thật là tôi đang ở nhờ nhà mấy người quen trên Greenwich này, và họ hơi mong tôi ở lại với họ vào ngày mai. Thực ra, có một buổi dã ngoại hay đại loại thế. Dĩ nhiên là tôi sẽ cố hết sức để chuồn đi.”

Tôi bật ra một tiếng “Hừ!” không kìm chế được, và chắc chắn hắn đã nghe thấy, bởi hắn lại huyên thuyên một cách sốt vó:

“Chuyện tôi gọi tới là để hỏi về đôi giày tôi bỏ quên ở đó. Không biết có phiền lắm không nếu nhờ người quản gia gửi chúng hộ tôi. Số là, đó là giày tennis, và tôi gần như chẳng thể làm gì thiếu chúng được. Địa chỉ của tôi là chuyển phát qua B. F.—”

Tôi chẳng nghe nốt cái tên phía sau, bởi tôi đã dập máy cái rụp.

Sau chuyện đó, tôi cảm thấy hơi hổ thẹn thay cho Gatsby — một kẻ bề trên mà tôi gọi điện tới đã ám chỉ rằng anh ta nhận được kết cục như vậy là đáng đời. Dù sao thì đó cũng là lỗi của tôi, bởi hắn vốn là một trong những kẻ từng buông lời chế giễu Gatsby cay độc nhất mỗi khi mượn hơi men của lão, và đáng lẽ tôi phải thừa khôn ngoan để không gọi cho hắn mới phải.

Sáng ngày cử hành tang lễ, tôi lên New York để tìm Meyer Wolfshiem; dường như tôi chẳng thể liên lạc với lão bằng cách nào khác. Căn phòng mà tôi đẩy cửa bước vào, theo lời chỉ dẫn của một cậu bé trực thang máy, có tấm biển đề “Công ty Cổ phần Hoạt họa Swastika” (The Swastika Holding Company), và thoạt nhìn có vẻ bên trong chẳng có ma nào cả. Nhưng khi tôi cất giọng gọi “alo” mấy lần liền trong vô vọng, một cuộc cãi vã bỗng nổ ra đằng sau tấm vách ngăn, và ngay sau đó một người phụ nữ Do Thái xinh đẹp xuất hiện ở cánh cửa bên trong, dò xét tôi bằng đôi mắt đen đầy thù địch.

“Không có ai ở nhà đâu,” cô ta nói. “Ông Wolfshiem đi Chicago rồi.”

Vế đầu tiên rõ ràng là dối trá, bởi văng vẳng bên trong có ai đó vừa bắt đầu huýt sáo bài “The Rosary” lạc cả nhịp.

“Xin cô hãy nói là ông Carraway muốn gặp mặt.”

“Tôi có thể lôi ổng từ Chicago về chắc?”

Đúng lúc ấy, một giọng nói không thể nhầm lẫn là của Wolfshiem cất lên “Stella!” từ phía bên kia cánh cửa.

“Cứ để lại tên trên bàn làm việc đi,” cô ta lươn lẹo nói nhanh. “Tôi sẽ chuyển lại cho ổng khi ổng về.”

“Nhưng tôi biết chắc ổng có ở trong đó.”

Cô ta bước tới một bước và bắt đầu bực bội trượt hai tay lên xuống bên hông.

“Mấy cậu thanh niên các người cứ nghĩ muốn xông vào đây lúc nào cũng được chắc,” cô ta mắng mỏ. “Chúng tôi phát ngấy lên được rồi. Khi tôi đã bảo ổng ở Chicago, tức là ổng ở Chicago.”

Tôi nhắc đến cái tên Gatsby.

“Ồ-h!” Cô ta đánh giá tôi từ đầu đến chân một lần nữa. “Cậu vui lòng — Tên cậu là gì nhỉ?”

Cô ta biến mất hút. Chỉ một thoáng sau, Meyer Wolfshiem nghiêm nghị đứng ở khung cửa, giơ cả hai bàn tay ra. Lão kéo tôi vào phòng làm việc của mình, cất giọng đầy vẻ thành kính rằng đây là thời điểm buồn bã cho tất cả chúng ta, rồi mời tôi một điếu xì-gà.

“Trí nhớ của tôi lại quay về thuở ban đầu gặp nó,” lão nói. “Một gã thiếu quân vừa rời quân ngũ và mang trên mình đầy rẫy huy chương chiến trận. Nó túng quẫn đến mức cứ phải mặc hoài bộ quân phục vì chẳng đủ tiền mua nổi dăm bộ thường phục. Lần đầu tiên tôi thấy nó là lúc nó bước vào tiệm bi-a của Winebrenner trên đường Forty-third và xin việc làm. Nó đã nhịn đói suốt mấy ngày trời. ‘Lại đây ăn trưa với tôi đi,’ tôi bảo thế. Nó nốc sạch số đồ ăn trị giá hơn bốn đô-la chỉ trong vòng nửa tiếng.”

“Bác là người dẫn dắt nó vào thương trường à?” tôi gặng hỏi.

“Dẫn dắt gì chứ! Chính tôi đã tạo nên nó.”

“Ồ.”

“Tôi kéo nó lên từ cõi hư vô, lôi thẳng nó ra khỏi vũng bùn nhơ nhớp. Ngay từ cái nhìn đầu tiên, tôi đã thấy đó là một thanh niên khôi ngô, lịch thiệp, và khi nó nói với tôi rằng nó từng học ở Oggsford, tôi biết mình có thể tận dụng được tài năng của nó. Tôi vận động cho nó gia nhập American Legion và nó từng giữ vị trí cao ở đó hẳn hoi. Ngay lập tức nó nhận làm vài việc cho một khách hàng của tôi trên Albany. Chúng tôi quấn quýt lấy nhau trong mọi chuyện thế này đây” — lão giơ hai ngón tay phình to lên — “lúc nào cũng kè kè bên nhau.”

Tôi tự hỏi liệu sự gắn kết này có bao gồm cả vụ dàn xếp giải World Series năm 1919 hay không.

“Giờ thì nó chết rồi,” tôi nói sau một thoáng im lặng. “Bác là người bạn thân thiết nhất của anh ấy, nên tôi biết bác sẽ muốn đến dự đám tang vào chiều nay.”

“Tôi rất muốn đến chứ.”

“Vậy thì đến đi.”

Những sợi lông trong mũi lão hơi động đậy, và khi lão lắc đầu, đôi mắt ngấn lệ.

“Tôi không thể — tôi không thể dây dưa vào mấy chuyện này được,” lão nói.

“Chẳng có gì gọi là dây dưa cả. Mọi chuyện chấm dứt hết rồi mà.”

“Khi có người bị sát hại, tôi không bao giờ thích nhúng tay vào bằng bất cứ cách nào. Tôi luôn đứng ngoài lề. Thời trai trẻ của tôi thì khác — nếu một người bạn của tôi qua đời, bất kể vì lý do gì, tôi vẫn gắn bó với họ đến phút chót. Cậu có thể cho rằng thế là sến sẩm, nhưng tôi nói thật đấy — đến tận cùng cay đắng.”

Tôi hiểu rằng vì lý do riêng nào đó, lão đã kiên quyết từ chối xuất hiện, thế nên tôi đứng dậy.

“Cậu có phải dân đại học không?” lão bất ngờ hỏi.

Trong một thoáng, tôi cứ ngỡ lão sắp đề cập đến một mối “làm-ăn-chung” nào đó, nhưng lão chỉ gật đầu và bắt tay tôi.

“Chúng ta hãy học cách thể hiện tình cảm bạn bè với một người khi họ còn sống chứ không phải sau khi họ đã nằm xuống,” lão gợi ý. “Sau đó thì nguyên tắc của tôi là để mọi thứ trôi đi tự nhiên.”

Khi tôi rời khỏi văn phòng của lão, bầu trời đã tối sầm lại và tôi trở về West Egg trong một làn mưa lất phất. Sau khi thay quần áo, tôi sang nhà bên cạnh và bắt gặp ông Gatz đang đi tới đi lui đầy kích động ở sảnh. Niềm tự hào của cụ về đứa con trai và những tài sản của nó cứ lớn lên mãi, và giờ đây cụ lại có thứ để khoe với tôi.

“Thằng Jimmy gửi cho tôi bức ảnh này đấy.” Cụ run rẩy lấy ví ra. “Cậu nhìn xem.”

Đó là bức ảnh chụp ngôi nhà, rách rưới ở các góc và hoen bẩn bởi biết bao dấu tay cầm nắm. Cụ hào hứng chỉ cho tôi xem từng chi tiết nhỏ. “Nhìn kìa!” rồi hướng ánh mắt tìm kiếm sự tán thưởng từ tôi. Cụ đã trưng ra bức ảnh đó nhiều lần đến mức tôi nghĩ giờ đây đối với cụ, nó còn chân thực hơn cả ngôi nhà thật sự.

“Thằng Jimmy gửi cho tôi đấy. Tôi nghĩ đây là một bức ảnh rất đẹp. Chụp ăn ảnh ghê chứ.”

“Rất đẹp ạ. Bác gặp nó lần cuối cách đây lâu chưa?”

“Nó ghé thăm tôi cách đây hai năm và mua cho tôi ngôi nhà tôi đang ở hiện giờ. Dĩ nhiên là chúng tôi từng cạch mặt nhau khi nó bỏ nhà ra đi, nhưng giờ thì tôi hiểu có lý do cả. Nó biết tương lai của nó vô cùng rộng mở. Và kể từ ngày thành công, nó đối xử với tôi rất hào phóng.”

Cụ có vẻ chần chừ không muốn cất bức ảnh đi, cứ cầm nó thêm một lát, lưu luyến trước mắt tôi. Sau đó cụ nhét ví vào túi rồi lôi ra một cuốn sách cũ kỹ rách rưới mang tựa đề Hopalong Cassidy.

“Cậu xem này, đây là cuốn sách nó giữ khi còn là một cậu bé. Nó nói lên tất cả đấy chứ.”

Cụ lật mở trang bìa sau và quay về phía tôi cho dễ nhìn. Trên tờ tị biên cuối cùng có in dòng chữ thời gian biểu và ngày 12 tháng 9 năm 1906. Ngay bên dưới là:

Thức dậy khỏi giường

6:00

sáng

Tập tạ và trèo tường

6:15 – 6:30

“

Nghiên cứu điện học, v.v.

7:15 – 8:15

“

Làm việc

8:30 – 4:30

chiều

Bóng chày và thể thao

4:30 – 5:00

“

Luyện hùng biện, phong thái và cách đạt được nó

5:00 – 6:00

“

Nghiên cứu các phát minh cần thiết

7:00 – 9:00

“

Những quyết tâm chung

Không lãng phí thời gian ở tiệm Shafter hay [một cái tên, không đọc được]

Không hút thuốc hay nhai trầu thuốc nữa.

Tắm rửa cách ngày

Đọc một cuốn sách hoặc tạp chí mang tính bồi dưỡng mỗi tuần

Tiết kiệm 5,00 đô-la [gạch bỏ] 3,00 đô-la mỗi tuần

Đối xử với cha mẹ tốt hơn

“Tôi tình cờ vớ được cuốn sách này,” cụ ông thổ lộ. “Nó phản ánh đúng con người nó, phải không cậu?”

“Đúng thế ạ.”

“Thằng Jimmy nhất định phải ngóc đầu lên được. Lúc nào nó cũng có mấy bản quyết tâm thế này hoặc đại loại thế. Cậu có để ý những điều nó viết về việc trau dồi trí tuệ không? Nó luôn rất tâm huyết với chuyện đó. Có lần nó chê tôi ăn uống như heo, và tôi đã cho nó một trận vì điều đó.”

Cụ quyến luyến không muốn gấp sách lại, đọc to từng mục rồi ngước lên nhìn tôi đầy mong mỏi. Tôi thầm nghĩ có lẽ cụ đang kỳ vọng tôi chép lại danh sách này để tự áp dụng cho bản thân.

Gần ba giờ chiều, mục sư dòng Luther từ Flushing đến, và tôi bắt đầu vô thức đưa mắt ngóng ra cửa sổ xem có chiếc xe nào khác tới không. Cha của Gatsby cũng làm vậy. Khi thời gian trôi qua và những người hầu bước vào đứng đợi trong sảnh, mắt cụ bắt đầu chớp liên hồi đầy lo âu, rồi cụ lẩm bẩm về cơn mưa bằng một giọng đầy phập phồng, bất an. Vị mục sư liếc nhìn đồng hồ mấy bận, thế nên tôi kéo riêng ông sang một bên và xin ông đợi thêm nửa tiếng nữa. Nhưng chẳng ích gì. Chẳng có ma nào đến cả.

Khoảng năm giờ, đoàn xe ba chiếc của chúng tôi đến nghĩa trang và dừng lại trong làn mưa lất phất dày đặc ngay sát cổng — đầu tiên là một chiếc xe tang chở cốt đen sì và ướt sũng đến rợn ngợp, tiếp theo là xe hơi chở ông Gatz, vị mục sư và tôi, rồi sau đó ít phút là bốn năm người đưa tiệc gồm đám gia nhân và người phát thư ở West Egg trên chiếc xe trạm của Gatsby, ai nấy đều ướt sũng như chuột lột. Khi chúng tôi bắt đầu bước qua cổng vào nghĩa trang, tôi nghe tiếng một chiếc xe dừng lại, theo sau là tiếng ai đó lội bì bõm đuổi theo chúng tôi trên nền đất sũng nước. Tôi quay lại nhìn. Đó chính là người đàn ông đeo kính mắt cú mèo mà tôi từng bắt gặp đang trầm trồ ngắm nghía tủ sách của Gatsby trong thư viện vào một đêm cách đó ba tháng.

Từ dạo ấy tôi chưa từng gặp lại ông ta. Tôi chẳng biết ông ta hay tin đám tang bằng cách nào, hay thậm chí tên họ ông ta là gì. Hạt mưa xối xả trên cặp kính dày cộp, ông ta liền tháo ra lau để có thể nhìn thấy tấm bạt che được kéo ra khỏi ngôi mộ của Gatsby.

Lúc đó tôi cố nghĩ về Gatsby trong giây lát, nhưng anh đã ở quá xa xôi, và tôi chỉ có thể nhớ lại, không chút oán hận, rằng Daisy đã chẳng gửi dù chỉ một lời nhắn hay một nhành hoa. Văng vẳng bên tai tôi tiếng ai đó thì thầm “Phước thay những kẻ chết được mưa rơi trên mồ,” và rồi người đàn ông kính cú mèoõ dõng dạc cất giọng: “Amen vì điều đó.”

Chúng tôi nhanh chóng bước bì bõm dưới làn mưa để trở ra xe. Lão kính cú chặn tôi lại bên cổng.

“Tôi không tài nào vào được trong nhà,” lão phàn nàn.

“Chẳng ai vào nổi cả.”

“Thôi đi!” Lão giật mình. “Trời ạ! Họ từng kéo đến đó hàng trăm người cơ mà.”

Lão tháo kính ra, cẩn thận lau lại cả mặt trong lẫn mặt ngoài.

“Thằng chó đẻ đáng thương,” lão lẩm bẩm.

Một trong những ký ức sống động nhất trong tôi là chuyến trở về miền Tây từ trường dự bị và sau đó là từ đại học vào dịp Giáng sinh. Những ai đi xa hơn Chicago sẽ tụ tập tại nhà ga Union Station cũ kỹ mờ ảo vào lúc sáu giờ của một buổi tối tháng Mười hai, cùng với vài người bạn Chicago đã vội vã cuốn vào không khí vui tươi ngày lễ của riêng họ, để nói lời tạm biệt vội vàng. Tôi nhớ những chiếc áo khoác lông thú của các tiểu thư từ trường này trường nọ trở về, tiếng trò chuyện phả ra làn hơi đông cứng, những cánh tay vẫy rối rít trên cao khi chúng tôi bắt gặp người quen cũ, và những lời hẹn hò lặp đi lặp lại: “Cậu có dự tiệc nhà nhà Ordway không? Nhà Hersey? Hay nhà Schultz?” cùng những tấm vé xanh dài ngoằng bị siết chặt trong đôi găng tay. Và cuối cùng là những toa tàu màu vàng xỉn của tuyến đường sắt Chicago, Milwaukee và St. Paul trông tươi vui hệt như ngày lễ Giáng sinh đậu trên các đường ray ngay cạnh cổng.

Khi đoàn tàu lăn bánh vào đêm đông và tuyết thật sự — tuyết của chúng tôi — bắt đầu trải dài bên ngoài, lấp lánh phản chiếu qua khung cửa sổ, cùng những ánh đèn mờ ảo của các trạm xe lửa nhỏ ở Wisconsin lần lượt lướt qua, một luồng gió lạnh buốt, hoang dại bỗng ùa vào không khí. Chúng tôi hít hà thật sâu khi bước qua những toa nối lạnh giá từ phòng ăn trở về, cảm nhận rõ rệt đến tận cùng mối dây liên kết của mình với mảnh đất này trong một giờ đồng hồ kỳ lạ, trước khi lại hòa lẫn vào đó mà không tài nào phân biệt nổi.

Đó chính là miền Tây trong tôi — không phải những cánh đồng lúa mì hay thảo nguyên hay những thị trấn người Thụy Điển đã mai mốt, mà là những chuyến tàu hỏa hân hoan trở về của tuổi trẻ, là những ngọn đèn đường và tiếng chuông xe trượt tuyết trong đêm giá lạnh, là bóng những vòng hoa ô-rô hắt qua ô cửa sổ sáng đèn lên lớp tuyết trắng. Tôi là một phần của chốn ấy, mang chút vẻ trang nghiêm của những mùa đông dài dặc, chút tự mãn vì được lớn lên trong ngôi nhà của gia đình Carraway tại một thành phố nơi người ta vẫn gọi tên các căn nhà bằng họ của một dòng họ qua bao thập kỷ. Giờ đây tôi mới nhận ra, xét cho cùng, đây vẫn là câu chuyện về miền Tây — Tom và Gatsby, Daisy, Jordan và tôi, tất cả chúng tôi đều là người miền Tây, và có lẽ chúng tôi đều mang trong mình mộtếm khuyết chung nào đó khiến chúng tôi trở nên tinh tế đến mức chẳng thể thích nghi nổi với đời sống miền Đông.

Ngay cả khi miền Đông làm tôi phấn khích nhất, ngay cả khi tôi nhận thức rõ ràng nhất sự vượt trội của nó so với những thị trấn buồn tẻ, luộm thuộm, trương phình bên kia bang Ohio, với những cuộc tra vấn vô tận tha cho mỗi trẻ con và người già — ngay cả khi ấy, nó vẫn luôn mang trong tôi một nét méo mó dị thường. Nhất là West Egg, vẫn hiện lên trong những giấc mơ hoang đường nhất của tôi. Tôi nhìn nó như một bức tranh cảnh đêm của El Greco: hàng trăm ngôi nhà, vừa tầm thường vừa kỳ quái, đang co ro dưới bầu trời u ám, trĩu nặng và ánh trăng vô hồn. Ở tiền cảnh, bốn người đàn ông nghiêm nghị diện trang phục dạ hội đang rảo bước trên vỉa hè, khiêng một chiếc cáng trên đó có một người phụ nữ say mèm mặc đầm dạ hội trắng. Bàn tay cô ta buông thõng bên thành cáng, lấp lánh thứ ánh sáng lạnh lẽo của kim cương. Bốn người đàn ông trang nghiêm rẽ vào một ngôi nhà — đi nhầm nhà rồi. Nhưng chẳng ai biết tên người phụ nữ ấy, và cũng chẳng ai thèm bận tâm.

Sau cái chết của Gatsby, miền Đông đối với tôi mang một nỗi ám ảnh tựa như thế, méo mó vượt quá tầm mắt tôi có thể nắn chỉnh lại. Thế nên khi làn khói lam chiều từ những chiếc lá khô giòn bốc lên trong không gian và ngọn gió thổi cứng đờ mớ đồ giặt ướt trên dây phơi, tôi quyết định trở về nhà.

Còn một việc phải giải quyết trước khi tôi rời đi, một chuyện ruốc rắc, khó chịu mà có lẽ cứ mặc thây nó thì hơn. Nhưng tôi muốn dọn dẹp mọi thứ cho ngăn nắp chứ không muốn phó mặc cho dòng nước biển dễ dãi và dửng dưng kia cuốn trôi đi đám rác rưởi của mình. Tôi gặp Jordan Baker và đem chuyện những gì đã xảy ra giữa chúng tôi ra bàn tán mổ xẻ, cả những chuyện xảy ra với tôi sau đó nữa, còn cô ta cứ thế nằm bất động, lắng nghe trên một chiếc ghế bành lớn.

Cô ta ăn vận để chơi golf, và tôi nhớ mình từng nghĩ cô ta trông hệt như một người mẫu trong tranh minh họa, cằm ngẩng lên vẻ đầy bất cần, mái tóc mang màu của chiếc lá mùa thu, khuôn mặt nhuốm màu nâu y hệt chiếc găng tay cụt ngón trên đầu gối. Khi tôi nói dứt lời, cô ta thản nhiên thông báo rằng mình đã đính hôn với một người đàn ông khác mà chẳng kèm theo một lời bình luận nào. Tôi hoài nghi chuyện đó, dẫu cô ta thừa sức kết hôn với bất cứ ai chỉ bằng một cái gật đầu, nhưng tôi vẫn vờ làm ra vẻ kinh ngạc. Chỉ trong một phút, tôi tự hỏi liệu mình có đang sai lầm không, rồi tôi ngẫm nghĩ lại thật nhanh và đứng dậy nói lời chia tay.

“Dù sao thì anh cũng đã bỏ rơi tôi,” Jordan bất ngờ cất lời. “Anh đã đá tôi qua điện thoại đấy. Giờ thì tôi chẳng thèm đếm xỉa gì đến anh nữa đâu, nhưng đó là một trải nghiệm mới mẻ đối với tôi, và tôi đã thấy hơi choáng váng trong chốc lát.”

Chúng tôi bắt tay nhau.

“À, và anh có nhớ không” — cô ta nói thêm — “cuộc trò chuyện giữa chúng ta dạo nọ về chuyện lái xe ấy nhỉ?”

“Ừm — không nhớ rõ lắm.”

“Anh bảo một kẻ lái xe tồi chỉ an toàn cho đến khi gặp phải một kẻ lái xe tồi khác đúng không? Chà, cuối cùng tôi đã gặp một kẻ lái xe tồi như thế, phải không nào? Ý tôi là tôi thật bất cẩn khi đoán sai bét nhè như vậy. Tôi cứ tưởng anh là một con người thành thật, ngay thẳng. Tôi tưởng đó là niềm kiêu hãnh thầm kín của anh cơ đấy.”

“Tôi ba mươi tuổi rồi,” tôi đáp. “Tôi đã già hơn năm tuổi để tự dối lòng mình bằng cái mác danh dự.”

Cô ta không đáp. Vừa tức giận, vừa vương vấn chút tình cảm với cô ta, lại vừa thấy vô cùng thương hại, tôi quay lưng bỏ đi.

Vào một buổi chiều muộn cuối tháng Mười, tôi trông thấy Tom Buchanan. Hắn đang rảo bước phía trước tôi dọc theo Đại lộ Fifth với dáng điệu lanh lẹ, ngổ ngáo quen thuộc, hai tay hơi dang ra xa thân mình như thể để gạt phắt mọi thứ cản trở, đầu ngoắt đi ngoắt lại sắc bén, thích ứng với đôi mắt láo liên, bồn chồn của mình. Ngay lúc tôi giảm tốc độ để tránh vượt qua mặt hắn, hắn khựng lại và đăm đăm cau mày nhìn vào tủ kính của một tiệm kim hoàn. Bỗng nhiên hắn nhận ra tôi và bước ngược lại, chìa tay ra.

“Sao thế, Nick? Cậu từ chối bắt tay với tôi à?”

“Ừ. Anh biết tôi nghĩ gì về anh rồi đấy.”

“Cậu điên rồi, Nick,” hắn láu táu nói. “Điên thật rồi đấy. Tôi chẳng hiểu nổi cậu bị làm sao nữa.”

“Tom,” tôi gặng hỏi, “anh đã nói gì với Wilson chiều hôm đó?”

Hắn trân trân nhìn tôi không nói nên lời, và tôi biết mình đã đoán trúng phóc về những khoảng thời gian mất tích đó. Tôi toan quay đi, nhưng hắn sải bước đuổi theo và tóm lấy cánh tay tôi.

“Tôi nói sự thật cho hắn biết,” hắn bảo. “Hắn mò đến cửa nhà lúc chúng tôi đang chuẩn bị chuồn, và khi tôi sai người xuống nhắn là chúng tôi không có nhà, hắn liền giở trò trèo lên lầu bằng vũ lực. Hắn điên đến mức sẵn sàng bắn chết tôi nếu tôi không khai ra ai là chủ nhân chiếc xe. Tay hắn kè kè thủ sẵn khẩu súng lục trong túi suốt quãng thời gian ở trong nhà—” Hắn bất chấp buông lời thách thức. “Thì sao chứ, nếu tôi bảo hắn thế? Tên khốn đó đáng đời lắm. Hắn tung hỏa mù vào mắt cậu y như hắn đã làm với Daisy, nhưng hắn là một tay dữ dằn. Hắn chẹt qua người Myrtle hệt như cán qua một con chó mà thậm chí chẳng buồn dừng xe lại.”

Tôi chẳng thể thốt lên lời nào, ngoài một sự thật không thể phủ nhận rằng mọi chuyện không phải như thế.

“Và nếu cậu nghĩ tôi không phải chịu đựng đau khổ — này nhé, lúc tôi đến trả lại căn hộ đó và nhìn thấy cái hộp đựng bánh quy cho chó quái quỷ ấy nằm chỏng chơ trên tủ ly, tôi đã ngồi sụp xuống và khóc nức nở như một đứa trẻ. Thề có Chúa, chuyện đó khủng khiếp làm sao—”

Tôi không thể tha thứ cho hắn hay ưa nổi hắn, nhưng tôi nhận ra những gì hắn đã làm, trong tâm tưởng hắn, hoàn toàn là việc chính đáng. Mọi chuyện thật bất cẩn và rối rắm. Chúng là những kẻ bất cẩn, Tom và Daisy — chúng đập phá tan hoang mọi sự vật và sinh linh rồi rút lui về sau bức tường tiền tài hay sự bàng quan vô tận của chúng, hoặc bất cứ thứ gì dung dưỡng chúng lại với nhau, rồi mặc cho kẻ khác dọn dẹp mớ hỗn độn do chúng gây ra…

Tôi bắt tay hắn; có vẻ thật ngớ ngẩn nếu không làm thế, bởi bỗng nhiên tôi có cảm giác như mình đang nói chuyện với một đứa trẻ. Rồi hắn bước vào tiệm kim hoàn để mua một chuỗi ngọc trai — hoặc có lẽ chỉ là một cặp khuy măng-sét — rũ bỏ được thứ tâm lý quê mùa e dè của tôi vĩnh viễn.

Ngôi nhà của Gatsby vẫn bỏ hoang khi tôi rời đi — cỏ mọc trên bãi rậm rạp chẳng kém gì cỏ nhà tôi. Một trong những tài xế taxi ở làng chưa từng chở khách qua cổng chính mà không chịu dừng lại một phút để chỉ trỏ vào bên trong; có lẽ chính hắn là kẻ đã chở Daisy và Gatsby sang East Egg vào đêm xảy ra tai nạn, và biết đâu hắn đã tự thêu dệt nên một câu chuyện cho riêng mình. Tôi chẳng muốn nghe thứ đó và đã tránh mặt hắn lúc xuống tàu.

Tôi dành những tối thứ Bảy ở New York bởi những bữa tiệc lấp lánh, chói lọi của anh bám rễ quá sâu vào ký ức đến nỗi tôi vẫn còn văng vẳng nghe thấy tiếng nhạc và tiếng cười, mờ ảo và bất tận, vọng ra từ khu vườn của anh, cùng tiếng xe hơi chạy ngược xuôi trên đường lái xe. Có một tối nọ tôi thực sự nghe thấy tiếng động cơ xe hơi ở đó, và thấy ánh đèn của nó dừng lại trước những bậc cửa nhà. Nhưng tôi không ra xem xét. Chắc hẳn đó lại là một vị khách muộn màng nào đó vừa từ tận cùng thế giới trở về và chẳng hề hay biết bữa tiệc đã tàn.

Vào đêm cuối cùng, khi chiếc rương đã đóng gói xong và chiếc xe hơi đã được bán cho tay bán tạp hóa, tôi lại sang ngắm nghía cái cơ ngơi thất bại vĩ đại đầy lộn xộn ấy một lần nữa. Trên những bậc thềm trắng, một từ tục tĩu do một đứa trẻ nào đó hí hoáy vẽ bằng một mẩu gạch vỡ nổi bật rõ mương mương dưới ánh trăng, và tôi đã xóa nó đi, kéo lê đế giày cọ xát ken két trên nền đá. Sau đó tôi lang thang ra bờ biển và thả người nằm xoài trên cát.

Hầu hết những khu điền trang lớn ven bờ giờ đây đều đóng cửa và chẳng còn lấy một ánh đèn, ngoại trừ thứ ánh sáng mờ ảo đang di chuyển của một chuyến phà ngang qua eo biển. Và khi mặt trăng dâng cao hơn, những ngôi nhà phù phiếm bắt đầu tan biến vào hư vô cho đến khi tôi dần nhận thức được hòn đảo cổ xưa từng nở hoa rực rỡ dưới ánh mắt của những thủy thủ người Hà Lan thuở nào — một bầu ngực xanh non tươi mới của thế giới mới. Những tán cây đã biến mất của nó, những hàng cây từng nhường chỗ cho ngôi nhà của Gatsby, thuở nào từng thì thầm nịnh bợ giấc mơ tối thượng và vĩ đại nhất của nhân loại; trong một khoảnh khắc kỳ diệu thoáng qua, con người hẳn đã phải nín thở trước lục địa này, bị cuốn vào một sự chiêm ngưỡng thẩm mỹ mà họ chẳng tài nào hiểu nổi cũng chẳng thiết tha gì, đối mặt lần cuối cùng trong lịch sử với něng gì tương xứng với khát vọng kỳ diệu của họ.

Và khi tôi ngồi đó trầm ngâm về thế giới cổ xưa, vô danh ấy, tôi lại nghĩ về niềm ngây ngất của Gatsby khi anh lần đầu tiên bắt gặp ánh đèn xanh ở cuối cầu tàu của Daisy. Anh đã vượt qua một chặng đường dài để đến với bãi cỏ xanh ngắt này, và giấc mơ của anh hẳn đã ở gần đến mức anh khó lòng trượt tay để nắm bắt nó. Anh đâu hề hay biết rằng nó đã ở lại phía sau mình, đâu đó trong chốn mờ mịt bao la bên kia thành phố, nơi những cánh đồng tăm tối của nền cộng hòa cứ thế trải dài dưới màn đêm.

Gatsby tin vào ngọn đèn xanh, vào tương lai cuồng nhiệt năm này qua năm khác cứ lùi dần trước mắt chúng ta. Nó đã tuột khỏi tầm tay chúng ta dạo ấy, nhưng chẳng hề gì — ngày mai chúng ta sẽ chạy nhanh hơn, vươn những cánh tay xa hơn… Và rồi vào một buổi sáng đẹp trời—

Cứ thế chúng ta tiến lên, những chiếc thuyền chống lại dòng nước, bị cuốn ngược không ngừng nghỉ về quá khứ.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.