Đại gia Gatsby

Lượt đọc: 69 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
III

❊ ❊ ❊

Suốt những đêm hè, từ ngôi nhà bên cạnh vẳng lên tiếng âm nhạc. Trong khu vườn xanh ngắt của hắn, những tốp nam thanh nữ tú dập dìu qua lại như bầy thiêu thân giữa tiếng thì thầm, tiếng sâm-panh và ánh sao trời. Vào những buổi chiều nước triều dâng cao, tôi thường đứng ngắm khách khứa nhà hắn lặn ngụp từ tháp chiếc bè nổi, hoặc phơi mình trên bãi cát nóng hổi trong khi hai chiếc xuồng máy rẽ sóng mặt vịnh Sound, kéo theo những tấm ván trượt lướt qua các tầng thác bọt tung trắng xóa. Cuối tuần, chiếc Rolls-Royce của hắn biến thành một cỗ xe buýt đưa rước khách khứa xuôi ngược về thành phố từ chín giờ sáng mãi cho đến tận khuya lắc khuya lơ, còn chiếc xe hơi chở đồ thì thoăn thoắt chạy như một con bọ vàng lanh lẹ để đón mọi chuyến tàu. Và đến thứ Hai, tám người đầy tớ, bao gồm cả một tay làm vườn phụ, phải đầu tắt mặt tối cả ngày với giẻ lau, bàn chải, búa và kéo cắt cây để khắc phục những tàn tích của đêm tiệc hôm trước.

Cứ thứ Sáu hàng tuần, năm thùng cam chanh lại được chuyển đến từ một cửa hàng hoa quả ở New York — để rồi đến thứ Hai, đống vỏ cam chanh vắt kiệt nước ấy lại chất đống thành một hình chóp ngay ngoài cửa hậu. Trong bếp có một cỗ máy đủ sức vắt kiệt nước hai trăm quả cam chỉ trong nửa tiếng đồng hồ nếu ngón cái của người quản gia chịu khó bấm vào chiếc nút nhỏ ấy đúng hai trăm lần.

Ít nhất mỗi tháng hai lần, một đội ngũ nhân viên phục vụ kéo đến mang theo hàng trăm thước bạt cùng vô số ngọn đèn màu đủ để biến khu vườn rộng thênh thang của Gatsby thành một cây thông Noel rực rỡ. Trên những bàn tiệc buffet trang hoàng bằng các món khai vị lấp lánh, những chiếc giăm-bông nướng tẩm gia vị nằm sát bên những đĩa salad sặc sỡ sắc màu, những chú heo quay bằng bột bánh và gà tây được phủ lớp nước sốt vàng óng như bùa phép. Ở đại sảnh, một quầy bar với thanh vị bằng đồng thật sự được dựng lên, chất đầy gin, rượu mạnh và những loại rượu mùi đã bị lãng quên lâu đến mức đa phần các vị khách nữ còn quá trẻ để phân biệt được loại này với loại khác.

Đến bảy giờ, dàn nhạc đã có mặt; đó không phải là một nhóm năm người èo uột nào cả, mà là cả một dàn kèn gỗ, kèn trombone, kèn saxophone, vĩ cầm, kèn cornet, kèn piccolo cùng trống lớn trống nhỏ tề tựu đông đủ. Những người bơi lội cuối cùng đã rời bãi biển lên lầu thay đồ; những chiếc xe hơi từ New York đậu liền năm hàng kín lối đi, và chẳng mấy chốc sảnh đường, phòng khách cùng hiên nhà đã rực rỡ những gam màu nguyên thủy, những mái tóc cắt ngắn theo kiểu mới lạ, và những chiếc khăn choàng đẹp vượt mọi giấc mơ xứ Castile. Quầy bar nhộn nhịp người qua lại, những khay cocktail được chuyền tay lan tỏa ra cả khu vườn ngoài trời, khiến bầu không khí râm ran tiếng chuyện trò, tiếng cười giòn giã, những lời châm biếm bâng quơ, những màn giới thiệu vừa thốt ra đã quên ngay, và những cuộc hội ngộ đầy phấn khích giữa những phụ nữ thậm chí còn chẳng biết tên nhau.

Ánh đèn ngày càng rực rỡ khi trái đất quay dần khuất khỏi mặt trời, và lúc này ban nhạc đang tấu lên khúc nhạc cocktail mang sắc vàng dịu ngọt, trong khi âm vực của những giọng nói trò chuyện cũng vút lên một quãng tám. Tiếng cười vang lên dễ dàng hơn sau từng phút, tuôn trào hào phóng, bật ra chỉ vì một câu nói vui vẻ. Các nhóm người thay đổi chóng mặt, phình to ra với những vị khách mới đến, rồi lại tan ra và kết cấu lại chỉ trong chớp mắt; đâu đó đã xuất hiện những kẻ lang thang, những cô nàng tự tin luồn lách giữa đám đông có phần đẫy đà và ổn định hơn, chớp nhoáng trở thành tâm điểm đầy kiêu hãnh của một nhóm người, rồi lại hân hoan lướt đi giữa dòng người tấp nập, muôn vàn gương mặt và sắc màu dưới thứ ánh sáng biến đổi khôn lường.

Bỗng nhiên, một cô ả digan khoác chiếc áo màu ngọc lấp lánh chộp lấy một ly cocktail lơ lửng trong không trung, nốc cạn để lấy can đảm rồi uyển chuyển nhún nhảy đôi tay theo điệu Frisco, một mình bước ra sàn bạt khiêu vũ. Cả không gian chợt chìm vào sự tĩnh lặng chớp nhoáng; trưởng ban nhạc niềm nở đổi nhịp chiều theo ý cô, và một tràng tiếng xôn xao lại rộ lên khi cái tin đồn thất thiệt lan truyền rằng cô chính là diễn viên đóng thế cho Gilda Gray trong đoàn k Follies. Buổi tiệc chính thức bắt đầu.

Tôi tin rằng vào đêm đầu tiên đặt chân đến nhà Gatsby, tôi là một trong số ít những vị khách thực sự nhận được thiệp mời. Người ta đâu có được mời—họ cứ thế mà đến. Họ leo lên những chiếc xe hơi chở mình ra tận Long Island, rồi bằng cách nào đó lại trôi dạt đến trước cửa nhà Gatsby. Khi đã ở đó, họ được giới thiệu bởi một ai đó quen biết Gatsby, và sau đó thì tự do cư xử theo những lề thói chốn công viên giải trí. Thậm chí có lúc họ đến rồi đi mà chẳng hề gặp mặt Gatsby lấy một lần, cứ thế kéo đến dự tiệc với một sự ngây thơ mộc mạc coi đó như chiếc vé vào cửa của chính mình.

Còn tôi thì thực sự được mời. Sáng hôm thứ Sáu đó, một người tài xế mặc đồng phục màu xanh trứng sáo đã bước qua thảm cỏ nhà tôi, mang theo tấm thiệp mời lịch sự đến ngạc nhiên từ người chủ của anh ta: tấm thiệp viết rằng sẽ là vinh hạnh lớn lao cho Gatsby nếu tôi đến dự "bữa tiệc nhỏ" của ông ấy vào tối hôm đó. Ông đã nhìn thấy tôi vài lần, và đã định đến thăm tôi từ lâu trước đó, nhưng vì một chuỗi tình cờ kỳ lạ nên chưa thể ghé qua—ký tên Jay Gatsby, với những nét chữ hùng hồn.

Khoác lên mình bộ đồ nỉ trắng, tôi bước sang bãi cỏ nhà ông chừng hơn bảy giờ một chút, thẫn thờ đi dạo với chút ngượng ngùng giữa những nhóm người tấp nập mà tôi chẳng hề quen biết—dù đôi chỗ tôi thoáng bắt gặp vài gương mặt từng thấy trên chuyến tàu đi làm. Tôi lập tức bị ấn tượng bởi số lượng những thanh niên người Anh có mặt rải rác khắp nơi; ai nấy ăn mặc tươm tất, trông có vẻ hơi đói khát, và đang thì thầm bằng giọng trầm tư, nghiêm túc với những người Mỹ đĩnh đạc, thành đạt. Tôi chắc mẩm họ đang chào bán thứ gì đó: trái phiếu, bảo hiểm hay ô tô. Ít ra thì họ cũng nhận thức rõ một cách cay đắng về khoản tiền kiếm dễ như trở bàn tay ở chốn này, và đinh ninh rằng mình chỉ cần nói vài câu đúng điệu là sẽ bỏ túi được chúng.

Ngay khi vừa đến nơi, tôi đã cố gắng tìm kiếm người chủ nhà, nhưng hai hay ba người mà tôi hỏi thăm về tung tích của ông lại nhìn tôi với ánh mắt kinh ngạc đến mức khó tả, và chối đây đẩy rằng họ chẳng hề hay biết gì về hành tung của ông, khiến tôi đành lủi thủi chuồn về phía bàn bày cocktail—nơi duy nhất trong khu vườn mà một kẻ đơn độc có thể đứng lảng vảng mà không ra vẻ vô tích sự hay lạc lõng.

Tôi đang định nốc cho say khướt vì ngượng ngùng tột độ thì Jordan Baker từ trong nhà bước ra, đứng ở bậc thềm cẩm thạch, hơi ngả người ra phía sau và dán mắt nhìn xuống khu vườn với vẻ tò mò đầy khinh miã.

Dù được chào đón hay không, tôi cũng thấy mình cần phải bám lấy ai đó trước khi thốt ra những lời xã giao ngớ ngẩn với những kẻ qua lại.

“Chào cô!” Tôi cất giọng oang oang khi tiến về phía cô ấy. Giọng tôi vang lên giữa khu vườn to một cách bất thường.

“Tôi cứ nghĩ anh sẽ có mặt ở đây,” cô đáp một cách lơ đễnh khi tôi bước đến. “Tôi nhớ là anh sống ngay cạnh nhà—”

Cô hờ hững nắm lấy tay tôi như một lời hứa rằng cô sẽ đoái hoài đến tôi trong chốc lát, rồi quay sang chú ý đến hai cô gái mặc váy vàng giống hệt nhau đang dừng chân dưới chân bậc thềm.

“Chào cô!” họ đồng thanh cất tiếng. “Tiếc thật vì cô không giành chiến thắng.”

Đó là câu chuyện về giải đấu golf. Cô đã thua ở vòng chung kết vào tuần trước.

“Các cô chẳng biết chúng tôi là ai đâu,” một trong hai cô gái mặc váy vàng lên tiếng, “nhưng chúng ta đã gặp nhau ở đây khoảng một tháng trước đấy.”

“Tóc cô đã nhuộm lại kể từ dạo đó rồi,” Jordan nhận xét khiến tôi giật mình, nhưng hai cô gái đã hững hờ bước tiếp và lời nhận xét ấy được dành cho vầng trăng non mọc sớm, chắc hẳn cũng được dọn ra từ giỏ của nhà hàng tiệc cưới chẳng khác gì món khai vị. Với cánh tay thon thả bằng vàng của Jordan tựa vào tay tôi, chúng tôi bước xuống bậc thềm và thong thả dạo bước trong vườn. Một khay cocktail lướt qua chúng tôi giữa chập choạng hoàng hôn, và chúng tôi ngồi xuống một cái bàn cùng hai cô gái mặc váy vàng và ba người đàn ông, mà mỗi người khi được giới thiệu đều mang cái tên Mr. Mumble.

“Các cô có hay đến dự những buổi tiệc thế này không?” Jordan hỏi cô gái ngồi cạnh.

“Lần gần đây nhất chính là lần tôi gặp cô đấy,” cô gái đáp bằng giọng điệu lanh lẹ, đầy tự tin. Cô quay sang người đi cùng: “Chẳng phải thế sao, Lucille?”

Lucille cũng đồng tình.

“Tôi thích đến đây lắm,” Lucille nói. “Tôi chẳng bận tâm mình làm gì, thế nên lúc nào tôi cũng vui vẻ hết nấc. Lần trước đến đây tôi đã làm rách chiếc đầm của mình vào cái ghế, thế là ông ấy hỏi tên và địa chỉ của tôi—chỉ trong vòng một tuần, tôi nhận được một bưu phẩm từ hãng Croirier bên trong có hẳn một chiếc đầm dạ hội mới tinh.”

“Cô có giữ lại không?” Jordan hỏi.

“Chứ sao lại không. Tôi đã định mặc nó tối nay đấy, nhưng phần ngực lại rộng quá nên phải đem đi sửa lại. Đầm màu xanh ngọc pha hạt cườm oải hương. Hai trăm sáu mươi lăm đô-la đấy.”

“Có điều gì đó thật kỳ quặc ở một gã đàn ông sẵn sàng làm chuyện như thế,” cô gái kia hăng hái chen vào. “Hắn chẳng muốn rắc rối với bất kỳ ai cả.”

“Ai cơ?” tôi thắc mắc.

“Gatsby. Có ai đó đã nói với tôi rằng—”

Cả hai cô gái và Jordan cùng chụm đầu lại với nhau đầy vẻ bí mật.

“Có người bảo họ nghĩ rằng hắn từng giết người.”

Một luồng điện chạy dọc sống lưng tất cả chúng tôi. Ba vị Mr. Mumble cùng chồm người lên chăm chú lắng nghe.

“Tôi không nghĩ là chuyện đó đâu,” Lucille hoài nghi phản bác; “chủ yếu là vì hắn từng là gián điệp của Đức trong thời chiến thì đúng hơn.”

Một người đàn ông gật đầu xác nhận.

“Tôi nghe điều đó từ một kẻ rành tuốt tuồn tuột về hắn, lớn lên cùng hắn ở Đức đấy,” anh ta quả quyết khẳng định.

“Ồ, không,” cô gái đầu tiên cãi lại, “không thể nào có chuyện đó được, bởi vì hắn từng phục vụ trong quân đội Mỹ suốt thời chiến.” Khi lòng tin của chúng tôi lại ngả về phía cô ấy, cô liền hào hứng chồm người tới trước. “Anh cứ thử nhìn hắn lúc hắn nghĩ rằng chẳng ai đang nhìn mình mà xem. Tôi dám cá là hắn từng giết người đấy.”

Cô nheo mắt lại và rùng mình một cái. Lucille cũng rùng mình. Tất cả chúng tôi đều quay người nhìn quanh để tìm Gatsby. Đó chính là minh chứng cho những lời đồn thổi lãng mạn mà hắn khơi gợi, đến mức ngay cả những kẻ vốn chẳng bao giờ tìm thấy điều gì đáng bàn tán ở cõi đời này cũng phải thì thầm to nhỏ về hắn.

Bữa ăn nhẹ đầu tiên—sẽ còn một bữa nữa sau nửa đêm—đang được dọn lên, và Jordan mời tôi nhập tiệc cùng nhóm bạn của cô đang quây quần bên chiếc bàn ở phía bên kia khu vườn. Nhóm này gồm ba cặp vợ chồng và một gã theo đuổi Jordan vô cùng kiên trì, kẻ luôn văng ra những lời bóng gió thô thiển và rõ ràng đang ôm mộng rằng trước sau gì Jordan cũng sẽ dâng hiến thân xác cho hắn ít nhiều. Thay vì tản mác như những người khác, nhóm này vẫn giữ được sự đồng nhất đầy trang trọng, tự nhận lấy sứ mệnh đại diện cho tầng lớp quý tộc điền trang đứng đắn—phía Đông East Egg đầy kẻ cả nhìn xuống phía Tây West Egg và luôn cảnh giác cao độ trước bầu không khí rực rỡ mang màu sắc quang phổ của nơi đó.

“Chuồn thôi,” Jordan thì thầm sau nửa tiếng đồng hồ vừa lãng phí vừa lạc điệu; “chỗ này lịch sự quá mức chịu đựng đối với tôi rồi.”

Chúng tôi đứng dậy, và cô giải thích rằng chúng tôi đang đi tìm chủ nhà: cô bảo tôi chưa từng gặp ông ấy, và điều đó khiến tôi cảm thấy không yên. Gã sinh viên kia gật đầu vẻ hoài nghi và u sầu.

Quầy bar, nơi chúng tôi ghé qua đầu tiên, đang đông nghịt người, nhưng Gatsby không có ở đó. Cô không thể tìm thấy hắn từ chỗ cao nhất của bậc thềm, và hắn cũng chẳng có mặt ngoài hiên. Thử vận may, chúng tôi đẩy cửa bước vào một căn phòng trông có vẻ quan trọng, hóa ra đó là một thư viện kiểu Gothic cao ráo, ốp gỗ sồi Anh chạm trổ tinh xảo, có lẽ đã được tháo dỡ nguyên vẹn từ một tòa lâu đài đổ nát nào đó ở bên kia đại dương.

Một người đàn ông trung niên béo múp míp, đeo cặp kính gọng sừng to tướng trông như mắt cú, đang ngồi ngà ngà say ở mép một chiếc bàn lớn, đờ đẫn dán mắt vào những dãy kệ sách. Khi chúng tôi bước vào, hắn hốt hoảng quay phắt lại và săm soi Jordan từ đầu đến chân.

“Cô nghĩ sao?” hắn buột miệng hỏi.

“Về cái gì cơ?”

Hắn khua tay về phía những giá sách.

“Về đống này này. Thực ra cô chẳng cần phải bận tâm xác thực đâu. Tôi đã kiểm chứng rồi. Chúng là sách thật đấy.”

“Sách á?”

Hắn gật đầu.

“Thật một trăm phần trăm—có cả trang giấy hẳn hoi. Tôi cứ tưởng chúng chỉ là mấy bìa các-tông bền chắc nào đó chứ. Mà thực ra thì chúng thật hoàn toàn. Cả trang giấy và—Đây! Để tôi cho cô xem.”

Cho rằng chúng tôi chắc chắn đang hoài nghi, hắn lao tới giá sách và quay lại với Tập Một của bộ sách *Bài giảng của Stoddard*.

“Nhìn này!” hắn hân hoan kêu lên. “Đây là một ấn phẩm in ấn đàng hoàng đàng hoàng hẳn hoi nhé. Nó đã qua mặt được tôi đấy. Gã này đúng là một Belasco chính hiệu. Thật là một kỳ tích. Quá đỗi tỉ mỉ! Quá ư chân thực! Lại còn biết điểm dừng nữa chứ—chẳng thèm rọc giấy gì sất. Nhưng mà cô còn đòi hỏi gì nữa chứ? Cô mong đợi cái quái gì cơ chứ?”

Hắn giật phăng cuốn sách khỏi tay tôi rồi vội vã nhét trả lên giá, lầm bầm rằng chỉ cần rút ra một viên gạch là toàn bộ thư viện này có nguy cơ sụp đổ ngay lập tức.

“Ai đã dẫn hai người tới đây?” hắn hách dịch hỏi. “Hay tự hai người mò tới? Còn tôi thì được người ta dẫn đến đấy. Đa phần mọi người đều được đưa đến đây mà.”

Jordan nhìn hắn đầy cảnh giác, vui vẻ mà không thèm đáp lời.

“Tôi được một người phụ nữ tên Roosevelt dẫn tới,” hắn tiếp lời. “Bà Claud Roosevelt. Hai người có biết bà ấy không? Tôi gặp bà ấy ở đâu đó tối qua rồi. Tôi đã say mèm suốt khoảng một tuần nay rồi, và tôi cứ nghĩ ngồi trong một thư viện thế này có lẽ sẽ giúp mình tỉnh táo lại đôi chút.”

“Thế có khá hơn không?”

“Chắc là có một chút. Tôi chưa rõ lắm. Tôi mới ở đây có một tiếng đồng hồ thôi mà. Tôi đã kể cho hai người nghe về mấy cuốn sách chưa nhỉ? Chúng là sách thật đấy. Chúng là—”

“Anh kể rồi.”

Chúng tôi nghiêm túc bắt tay hắn rồi quay trở ra ngoài trời.

Lúc này trên tấm bạt trải giữa vườn người ta đang khiêu vũ; những ông già đẩy các cô gái trẻ xoay vòng vòng trong những điệu nhảy vô duyên đến muôn thủa, những cặp đôi kênh kiệu ôm chặt lấy nhau một cách đầy vặn vẹo, hợp thời rồi nấp vào các góc khuất—và vô số những cô nàng đi lẻ đang nhảy một mình hoặc thay phiên nhau gánh vác cây đàn banjo cùng bộ gõ giúp ban nhạc trong chốc lát. Đến nửa đêm, sự cuồng nhiệt đã dâng lên cao độ. Một nam danh ca đã hát những khúc ca Ý, một nữ contralto khét tiếng thì hát nhạc jazz, và giữa các tiết mục, người ta thi nhau biểu diễn đủ mọi “trò hề” khắp khu vườn, trong khi những tràng cười hạnh phúc, ngây dại vút bay lên bầu trời mùa hè. Một cặp song sinh diễn viên, hóa ra chính là hai cô gái mặc váy vàng lúc nãy, liền diễn một trò hài trẻ con trong trang phục hóa trang, và sâm-panh được phục vụ trong những chiếc ly to hơn cả bát rửa tay. Vầng trăng đã nhô lên cao hơn, và lững lờ trên mặt nước vịnh Sound là một tam giác vẩy bạc, khẽ rung rinh theo tiếng đàn banjo khô khốc, cứng nhắc trên bãi cỏ.

Tôi vẫn đi cùng Jordan Baker. Chúng tôi ngồi vào một bàn cùng một gã đàn ông tầm tuổi tôi và một cô nhóc ồn ào, hễ có chút cớ nhỏ nhặt nào là lại lăn ra cười không tài nào kìm lại được. Lúc này tôi đang tận hưởng bữa tiệc vô cùng. Tôi đã nốc liền hai bát rửa tay đựng sâm-panh, và khung cảnh trước mắt bỗng biến đổi thành một thứ gì đó đầy ý nghĩa, nguyên thủy và sâu sắc.

Vào một phút lắng đọng của buổi tiệc, gã đàn ông nọ nhìn tôi rồi mỉm cười.

“Gương mặt anh trông quen quá,” hắn lịch sự lên tiếng. “Có phải anh từng ở Sư đoàn Một trong thời chiến không?”

“Ơ phải chứ. Tôi ở Trung đoàn Bộ binh Hai mươi tám.”

“Tôi thuộc Trung đoàn Mười sáu cho đến tháng Sáu năm mươi tám. Tôi cứ thấy mình đã gặp anh ở đâu đó rồi cơ.”

Chúng tôi trò chuyện đôi chút về những ngôi làng nhỏ xám xịt và ẩm ướt ở Pháp. Hiển nhiên là hắn sống ở khu vực này, bởi hắn khoe rằng mình vừa mua một chiếc thủy phi cơ và định sáng mai sẽ đem ra thử nghiệm.

“Muốn đi cùng tôi không, anh bạn già? Ngay sát bờ biển dọc theo vịnh Sound thôi.”

“Mấy giờ?”

“Mấy giờ anh thấy tiện nhất cũng được.”

Tôi đang chực hỏi tên hắn thì Jordan quay sang và mỉm cười.

“Anh đang vui chứ?” cô hỏi.

“Vui hơn nhiều rồi.” Tôi quay lại phía người quen mới. “Đây là một bữa tiệc bất thường đối với tôi đấy. Tôi còn chưa gặp mặt chủ nhà cơ mà. Tôi sống ở đằng kia—” tôi khua tay về phía hàng rào tàng hình ở đằng xa, “và cái gã tên Gatsby này đã cử tài xế mang thiệp mời tới tận nơi.”

Trong khoảnh khắc, hắn nhìn tôi như thể không tài nào hiểu nổi.

“Tôi chính là Gatsby đây,” hắn bỗng cất lời.

“Cái gì!” tôi thốt lên. “Ôi, tôi xin lỗi nhé.”

“Tôi cứ tưởng anh biết rồi chứ, anh bạn già. E rằng tôi không phải là một người chủ nhà chu đáo cho lắm.”

Hắn mỉm cười đầy thấu hiểu—thậm chí còn vượt cả sự thấu hiểu thông thường. Đó là một trong những nụ cười hiếm hoi mang theo thứ năng lực trấn an vĩnh cửu, thứ mà bạn chỉ có thể bắt gặp bốn hay năm lần trong đời. Nó đón nhận—hoặc có vẻ như đón nhận—toàn bộ thế giới vĩnh hằng trong một tích tắc, rồi tập trung trọn vẹn vào bạn với một thiện cảm không thể chối cãi. Nó thấu hiểu bạn vừa đúng mức mà bạn muốn được thấu hiểu, tin tưởng bạn đúng như cách bạn hằng mong mình được nhìn nhận, và cam đoan với bạn rằng hắn đang mang đúng cái ấn tượng về bạn mà ở phiên bản hoàn hảo nhất, bạn hằng hy vọng có thể truyền tải. Ngay đúng thời điểm đó—nó vụt biến mất, và trước mắt tôi chỉ còn lại một gã du thủ du thực bảnh chọe tầm trên dưới ba mươi tuổi, với lối nói năng khách sáo đến mức suýt chút nữa thì trở nên lố bịch. Từ trước lúc hắn tự giới thiệu, tôi đã mang ấn tượng sâu sắc rằng hắn đang rất cẩn trọng chọn từng câu chữ.

Gần như ngay lúc Mr. Gatsby tự bạch thân phận, một người quản gia vội vã chạy đến báo tin rằng Chicago đang gọi điện cho ông. Ông xin phép cáo lui kèm theo một cái gật đầu nhẹ lần lượt hướng về phía từng người chúng tôi.

“Nếu anh muốn thứ gì thì cứ bảo nhé, anh bạn già,” hắn giục tôi. “Xin lỗi nhé. Tôi sẽ quay lại ngay.”

Khi hắn vừa đi khuất, tôi liền quay sang Jordan ngay lập tức—buộc phải bày tỏ sự ngạc nhiên của mình với cô. Tôi cứ đinh ninh rằng Mr. Gatsby phải là một gã trung niên đỏ đảnh và béo trục béo tròn cơ.

“Hắn là ai vậy?” tôi hỏi dồn. “Cô có biết không?”

“Chỉ là một người tên Gatsby thôi.”

“Ý tôi là hắn từ đâu tới? Và làm nghề gì?”

“Anh lại khơi mào cái đề tài này rồi đấy,” cô đáp lại với nụ cười nhạt nhẽo. “Ừm, có lần hắn bảo tôi rằng hắn từng học ở Oxford.”

Một quá khứ mờ ảo bắt đầu thành hình phía sau lưng hắn, nhưng ngay câu nói tiếp theo của cô đã xóa nhoà nó đi.

“Tuy nhiên, tôi chẳng tin đâu.”

“Sao lại thế?”

“Tôi chịu,” cô quả quyết, “chỉ là tôi không nghĩ hắn từng học ở đó.”

Điệu bộ trong giọng điệu của cô gợi cho tôi nhớ đến câu nói “Tôi nghĩ hắn từng giết người” của cô gái nọ, và nó có tác dụng khơi dậy sự tò mò trong tôi. Tôi sẵn sàng chấp nhận không một chút hoài nghi thông tin rằng Gatsby xuất thân từ những vùng đầm lầy Louisiana hay khu Lower East Side ở New York. Điều đó còn có thể hiểu được. Chứ còn những gã thanh niên nào đời nào lại—ít ra là theo kinh nghiệm tỉnh lẻ ít ỏi của tôi—bình thản bước ra từ cõi hư vô rồi sắm hẳn một tòa lâu đài bên vịnh Long Island Sound cơ chứ.

“Dù sao đi nữa, hắn cũng hay tổ chức những bữa tiệc lớn,” Jordan đổi chủ đề với vẻ thờ ơ mang phong cách thị thành đối với những thứ cụ thể. “Và tôi thích những bữa tiệc lớn. Chúng mang tính thân mật biết bao. Chứ ở những buổi tiệc nhỏ thì chẳng có lấy nổi chút riêng tư nào cả.”

Tiếng trống bass vang lên thình thịch, và giọng của người trưởng ban nhạc bỗng cất cao lấn át cả thứ âm thanh hỗn độn của khu vườn.

“Thưa quý vị,” hắn hô lớn. “Theo yêu cầu của Mr. Gatsby, chúng tôi xin gửi đến quý vị tác phẩm mới nhất của Mr. Vladimir Tostoff, tác phẩm từng gây chấn động tại Carnegie Hall vào tháng Năm vừa qua. Nếu hay đọc báo hẳn quý vị biết đã có một sự kiện chấn động lớn xảy ra.” Hắn cười xòa với vẻ bề trên đầy nhã nhặn, rồi nói thêm: “Một sự kiện chấn động thật sự!” Ngay lập tức ai nấy đều phá lên cười.

“Bản nhạc mang tên,” hắn dõng dạc kết luận, “ ‘Lịch sử Nhạc Jazz Thế giới của Vladimir Tostoff!’ ”

Bản chất sáng tác của Mr. Tostoff là gì thì tôi hoàn toàn chịu thua, bởi đúng lúc nó vừa cất lên thì mắt tôi bắt gặp Gatsby đang đứng một mình trên những bậc thềm cẩm thạch, đưa đôi mắt mãn nguyện ngắm nhìn hết nhóm người này sang nhóm người khác. Làn da rám nắng áp sát vào khuôn mặt một cách đầy quyến rũ và mái tóc ngắn trông có vẻ như được cắt tỉa mỗi ngày. Tôi chẳng thể tìm thấy điểm gì mờ ám ở hắn. Tôi tự hỏi không biết việc hắn không uống rượu có giúp hắn trở nên khác biệt giữa đám đông khách khứa hay không, bởi tôi có cảm giác hắn càng trở nên chuẩn mực hơn khi sự cuồng hoan của tình bè bạn ngày một dâng cao. Khi bản “Lịch sử Nhạc Jazz Thế giới” vừa dứt, các cô gái lại ngả đầu lên vai đàn ông với vẻ nũng nịu, xu nịnh, các cô gái ngã ngửa ra sau đầy tinh nghịch vào vòng tay đàn ông, thậm chí ngã vào cả đám đông, biết thừa rằng sẽ có người đỡ lấy họ—nhưng chẳng ai ngả người vào Gatsby cả, chẳng có mái tóc ngắn kiểu Pháp nào chạm vào vai Gatsby, và chẳng có nhóm tứ ca nào được lập nên với cái đầu của Gatsby làm một mắt xích.

“Xin lỗi ngài.”

Người quản gia của Gatsby bỗng xuất hiện bên cạnh chúng tôi.

“Thưa cô Baker?” anh ta hỏi. “Xin lỗi cô, nhưng Mr. Gatsby muốn có vài lời riêng với cô.”

“Với tôi á?” cô ngạc nhiên thốt lên.

“Vâng, thưa bà.”

Cô chậm rãi đứng dậy, nhướng mày nhìn tôi đầy kinh ngạc, rồi lẽo đẽo bước theo người quản gia vào nhà. Tôi để ý thấy cô diện chiếc đầm dạ hội—và cả những chiếc đầm khác của cô nữa—y như những bộ đồ thể thao; dáng điệu của cô toát lên vẻ phóng khoáng tựa như cô từng học cách bước đi trên những sân golf vào những buổi sáng trong lành, se lạnh.

Tôi đứng một mình và lúc đó đã gần hai giờ. Từ một căn phòng dài có nhiều ô cửa sổ nhìn ra khoảng sân thượng bỗng phát ra những âm thanh hỗn độn và đầy cuốn hút suốt một hồi lâu. Tránh mặt gã sinh viên của Jordan—lúc này đang say sưa bàn chuyện sinh nở với hai cô vũ nữ và khẩn khoản nài nỉ tôi nhập bọn—tôi bước vào trong nhà.

Căn phòng lớn đông nghịt người. Một trong hai cô gái mặc váy vàng đang chơi piano, đứng bên cạnh là một thiếu nữ tóc đỏ cao lê khênh xuất thân từ một đoàn hợp xướng nổi tiếng đang cất cao tiếng hát. Cô nàng đã nốc không ít sâm-panh, và trong lúc cao hứng, cô ta ngớ ngẩn kết luận rằng mọi thứ trên đời đều vô cùng, vô cùng buồn bã—cô ta không chỉ hát mà còn khóc rưng rức nữa. Hễ bài hát có quãng nghỉ nào là cô ta lại bù lu bù loa nức nở, rồi sau đó lại tiếp tục cất cao giọng nữ cao run rẩy để hát tiếp phần lời. Những giọt nước mắt lăn dài trên má—nhưng không hề rơi lã chã, bởi khi chạm vào hàng mi chuốt mascara dày cộm của cô, chúng liền nhòe thành một màu mực đen kịt và tiếp tục hành trình còn lại thành những dòng suối đen sì, chậm chạp. Có người buông lời trêu chọc kêu cô hãy hát luôn cả những nốt nhạc trên mặt mình, thế là cô nàng liền quăng hai tay lên trời, ngã phịch xuống ghế và chìm vào giấc ngủ say mèm nồng nặc mùi men rượu.

“Cô ta vừa cãi nhau với một gã tự nhận là chồng mình đấy,” một cô gái đứng cạnh khủy tay tôi giải thích.

Tôi đảo mắt nhìn quanh. Hầu hết những phụ nữ còn lại lúc này đều đang cãi tay đôi với những gã đàn ông được cho là chồng của họ. Thậm chí nhóm của Jordan, bộ tứ đến từ East Egg, cũng đang rạn nứt vì những bất hòa. Một gã đàn ông đang say sưa nói chuyện với một nữ diễn viên trẻ bằng vẻ mãnh liệt kỳ lạ, còn người vợ của hắn, sau khi cố gắng cười trừ trước tình huống ấy với vẻ trang trọng và dửng dưng, cuối cùng đã hoàn toàn sụp đổ và quay sang chơi trò đánh úp—thỉnh thoảng cô ta lại đột ngột xuất hiện bên cạnh hắn như một viên kim cương giận dữ, rồi rít lên bên tai hắn: “Anh đã hứa rồi cơ mà!”

Sự chần chừ không muốn ra về chẳng phải chỉ là đặc quyền của những gã đàn ông ngổ ngáo. Tiền sảnh lúc này đang bị chiếm dụng bởi hai gã đàn ông tỉnh táo đến mức đáng chê trách cùng những người vợ vô cùng tức giận của họ. Các bà vợ đang đồng cảm với nhau bằng những giọng điệu cao hơn bình thường một chút.

“Hễ thấy tôi đang vui vẻ là hắn lại giở trò đòi về nhà cho bằng được.”

“Tôi chưa từng thấy ai ích kỷ đến thế trong đời.”

“Lúc nào chúng ta cũng là những kẻ chuồn về đầu tiên.”

“Nhà tôi cũng thế.”

“Thì tối nay chúng ta cũng sắp là những kẻ về chót còn gì,” một trong hai gã đàn ông ngượng ngùng lên tiếng. “Ban nhạc đã dọn đồ chuồn từ nửa tiếng trước rồi cơ mà.”

Mặc cho các bà vợ đồng lòng khẳng định rằng sự cay nghiệt ấy thật vượt ngoài sức tưởng tượng, cuộc cãi vã cuối cùng cũng kết thúc bằng một màn vật lộn ngắn ngủi, và cả hai bà vợ đều bị nhấc bổng lên, chân đạp loạn xạ để ra về trong đêm tối.

Trong lúc đứng chờ lấy mũ ở tiền sảnh, cánh cửa thư viện mở ra và Jordan Baker cùng Gatsby cùng nhau bước ra ngoài. Hắn đang dặn dò cô dăm câu cuối cùng, nhưng vẻ mặt hân hoan ban nãy bỗng chốc cứng đờ lại thành sự xã giao khi có mấy người bước đến chào tạm biệt hắn.

Nhóm của Jordan đang đứng ngoài hiên số ruột gọi cô, nhưng cô vẫn nán lại một chút để bắt tay.

“Tôi vừa nghe được một chuyện kinh ngạc lắm nhé,” cô thì thầm. “Chúng ta ở trong đó bao lâu rồi nhỉ?”

“Ờ, tầm một tiếng chứ mấy.”

“Đúng là… kinh ngạc hết chỗ nói,” cô thẫn thờ lặp lại. “Nhưng tôi thề là không được hé răng nửa lời thế mà giờ lại đứng đây trêu ngươi anh đấy.” Cô duyên dáng ngáp dài ngay trước mặt tôi. “Hôm nào hãy đến chơi với tôi nhé… Cầu cứu danh bạ điện thoại ấy… Dưới cái tên Mrs. Sigourney Howard… Dì tôi đấy…” Cô vừa nói vừa lật đật rảo bước—bàn tay nâu phất phờ vẫy chào tạm biệt trước khi hòa mình vào nhóm bạn đang đứng chờ ở cửa.

Cảm thấy hơi ngượng ngùng vì mới ngày đầu diện kiến mà đã ở lại muộn đến thế, tôi nhập bọn cùng những vị khách cuối cùng của Gatsby đang vây quanh ông. Tôi muốn giải thích rằng mình đã tìm ông từ chầu đầu buổi tối và xin lỗi vì đã không nhận ra ông ngoài vườn.

“Đừng bận tâm chuyện đó,” hắn hăng hái ngăn lời tôi. “Đừng nghĩ ngợi gì nữa cả, anh bạn già.” Biểu cảm quen thuộc ấy chẳng hề mang lại cảm giác thân thuộc hơn cái cách bàn tay hắn vỗ về trấn an bờ vai tôi. “Và đừng quên sáng mai chúng ta sẽ bay thủy phi cơ lúc chín giờ đấy nhé.”

Rồi tiếng người quản gia vọng lên từ phía sau vai hắn:

“Philadelphia gọi điện tìm ngài kìa, thưa ngài.”

“Được rồi, đợi một phút. Bảo họ là tôi ra ngay đây… Chúc ngủ ngon.”

“Chúc ngủ ngon.”

“Chúc ngủ ngon.” Hắn mỉm cười—và bỗng nhiên việc thuộc nhóm những vị khách ra về muộn nhất lại mang đến một ý nghĩa thật dễ chịu, tựa như hắn vẫn luôn mong mỏi điều đó từ nãy đến giờ. “Chúc ngủ ngon, anh bạn già… Chúc ngủ ngon.”

Nhưng khi bước xuống bậc thềm, tôi nhận ra buổi tối vẫn chưa thực sự kết thúc. Cách cửa nhà chừng năm mươi thước, hàng chục luồng đèn pha đang rọi sáng một khung cảnh kỳ quái và hỗn độn. Dưới mương nước bên đường, chiếc xe mui kín mới cóng vừa rời khỏi lối vào nhà Gatsby chưa đầy hai phút trước đang nằm ngửa bánh, nhưng bị bẻ quặt mất một chiếc bánh xe một cách tơi tả. Góc tường nhọn hoắt chính thủ phạm làm rụng chiếc bánh xe, và giờ đây nó đang thu hút sự chú ý đặc biệt của nửa tá tay tài xế tò mò. Tuy nhiên, vì họ đã để mặc xe của mình chắn ngang đường, một thứ âm thanh chói tai, lạc điệu từ những chiếc xe phía sau đã vang lên từ nãy đến nay, càng làm tăng thêm vẻ hỗn loạn vốn đã dữ dội của khung cảnh ấy.

Một gã mặc chiếc áo bụi dài đã trèo ra khỏi đống đổ nát và lúc này đang đứng giữa lòng đường, ngẩn ngơ nhìn chiếc xe rồi lại nhìn lốp xe rồi ngước lên nhìn những kẻ hiếu kỳ với vẻ mặt đầy bối rối mà dễ chịu.

“Thấy chưa!” hắn giải thích. “Nó lao xuống mương rồi kìa.”

Sự thật đó khiến hắn kinh ngạc đến tột độ, và tôi nhận ra trước hết là nét ngạc nhiên khác thường ấy, rồi sau đó mới nhận ra con người hắn—hóa ra đó chính là vị khách quen thuộc trong thư viện của Gatsby lúc nãy.

“Sao lại ra nông nỗi này thế?”

Hắn nhún vai.

“Tôi hoàn toàn mù tịt về máy móc,” hắn dứt khoát đáp.

“Nhưng sao lại thế được chứ? Anh tông vào tường à?”

“Đừng hỏi tôi,” gã Mắt Cú phủi tay rũ bỏ mọi trách nhiệm. “Tôi biết rất ít về chuyện lái xe—gần như mù tịt. Nó cứ thế xảy ra thôi, và đó là tất cả những gì tôi biết.”

“Ừ thì, nếu lái xe kém thế thì anh đừng có mọc gan tập tành lái xe vào ban đêm chứ.”

“Nhưng tôi có thèm cố lái đâu cơ chứ,” hắn ấm ức phân bua, “tôi còn chẳng thèm cố lái ấy chứ lỵ.”

Một bầu không khí tĩnh lặng đến rợn người bao trùm lấy đám đông đứng xem.

“Bộ anh muốn tự sát à?”

“Anh còn may chán vì chỉ rớt mỗi cái bánh xe đấy! Đã lái xe kém mà còn chẳng thèm cố lái nữa chứ!”

“Các người không hiểu gì cả,” tên tội phạm thanh minh. “Tôi có lái đâu. Có một gã khác ngồi trong xe cơ mà.”

Cú sốc theo sau lời tuyên bố ấy cất lên thành tiếng “A-a-h!” kéo dài khi cánh cửa chiếc xe mui kín từ từ bật mở. Đám đông—lúc này đã thành một nhúm người đông đảo—bản năng lùi lại phía sau, và khi cánh cửa mở toang, một khoảng lặng ma quái bao trùm. Rồi rất từ từ, từng bộ phận một, một kẻ xanh xao, mềm oặt bước ra từ đống đổ nát, dùng chiếc giày khiêu vũ cỡ lớn ngập ngừng quẹt quẹt xuống mặt đất.

Bị lóa mắt bởi ánh đèn pha và chói tai bởi tiếng còi xe ré lên không dứt, hiện thân ấy đứng lảo đảo trong giây lát trước khi nhận ra gã đàn ông mặc áo bụi.

“Có chuyện gì thế?” hắn bình thản hỏi. “Hết xăng rồi phỏng?”

“Nhìn kìa!”

Nửa tá ngón tay chĩa thẳng vào chiếc bánh xe đã rời lìa—hắn đờ đẫn nhìn nó một lúc, rồi ngước lên trời như thể nghi ngờ nó vừa rơi từ trên mây xuống.

“Nó rớt ra rồi,” có ai đó lên tiếng giải thích.

Hắn gật đầu.

“Lúc đầu tôi chẳng để ý thấy xe mình dừng lại.”

Một khoảng lặng. Rồi hít một hơi thật dài và ưỡn ngực thẳng người, hắn quả quyết tuyên bố:

“Có ai ơn phúc chỉ giùm tôi trạm xăng nằm ở đâu không nhỉ?”

Ít nhất chừng chục người đàn ông, một vài trong số đó còn tỉnh táo hơn hắn, xúm vào giải thích cho hắn hiểu rằng bánh xe và thân xe giờ đây chẳng còn chút mối liên kết vật lý nào nữa.

“Lùi lại xem nào,” hắn gợi ý sau một thoáng đắn đo. “Cài số lùi đi.”

“Nhưng bánh xe rơi mất tiêu rồi cơ mà!”

Hắn chần chừ.

“Thử thì có mất mát gì đâu cơ chứ,” hắn nói.

Tiếng còi xe hú hét đã chạm đến cao trào và tôi quay người bỏ đi, cắt ngang qua bãi cỏ để về nhà. Tôi ngoái lại nhìn một lần nữa. Vầng trăng mỏng manh như chiếc bánh xốp đang chiếu rọi xuống ngôi nhà của Gatsby, khiến đêm tối trở nên tĩnh mịch tuyệt đẹp như trước, và bất chấp cả tiếng cười cùng âm thanh từ khu vườn của hắn vẫn đang bừng sáng. Một khoảng trống rỗng bất chợt tràn ra từ những ô cửa sổ và cánh cửa lớn, ban tặng sự cô lập tuyệt đối cho bóng dáng người chủ nhà đang đứng ngoài hiên, giơ cao tay vẫy chào theo một nghi thức tiễn biệt đầy trang trọng.

Đọc lại những gì mình vừa viết tới đây, tôi nhận ra mình đã tạo ra ấn tượng rằng sự kiện của ba đêm cách nhau vài tuần lễ ấy là tất cả những gì chiếm trọn tâm trí tôi. Trái lại, chúng chỉ là những sự vụ dăm ba bữa trong một mùa hè bận rộn ngập tràn, và mãi cho đến tận sau này, chúng còn ít có sức hút đối với tôi hơn rất nhiều so với những chuyện cá nhân của chính mình.

Phần lớn thời gian tôi bận rộn làm việc. Vào sáng sớm, ánh mặt trời hắt bóng tôi ngả về phía tây khi tôi vội vã rảo bước xuống những khe hẻm trắng xóa của vùng hạ New York để đến ngân hàng Probity Trust. Tôi thuộc làu tên củi lụt của mấy gã nhân viên và mấy tay môi giới trái phiếu trẻ tuổi khác, thường ăn trưa cùng họ trong những nhà hàng chật chội, tối tăm với các món xúc xích heo nhỏ, khoai tây nghiền và cà phê. Tôi thậm chí còn có một cuộc tình chớp nhoáng với một cô nàng sống ở Jersey City làm việc ở phòng kế toán, nhưng anh trai cô ta cứ nhìn tôi với ánh mắt hình viên đạn, thế nên khi cô ấy nghỉ hè vào tháng Bảy, tôi liền để mọi chuyện trôi đi trong êm thấm.

Tôi thường ăn tối tại câu lạc bộ Yale Club—chẳng hiểu sao đó lại là khoảng thời gian ảm đạm nhất trong ngày của tôi—rồi tót lên lầu ngồi trong thư viện miệt mài nghiên cứu về đầu tư và chứng khoán suốt một tiếng đồng hồ đầy tận tâm. Xung quanh thường có dăm ba kẻ quậy phá, nhưng chúng chẳng bao giờ bén mảng đến thư viện cả, thế nên đây là một chốn làm việc vô cùng lý tưởng. Sau đó, nếu trời tiết dịu dàng, tôi lại thong thả dạo bước dọc đại lộ Madison qua khách sạn cũ Murray Hill, rẽ qua đường 33 để đến ga Pennsylvania Station.

Tôi bắt đầu đem lòng yêu New York, cái cảm giác phiêu lưu, đầy cuốn hút của nó về đêm, cùng sự thỏa mãn mà ánh đèn nhấp nháy liên hồi của dòng người và máy móc mang lại cho những đôi mắt không phút nào ngơi nghỉ. Tôi thích thả bộ dọc theo đại lộ Fifth Avenue, chọn ra những người phụ nữ lãng mạn giữa đám đông và tưởng tượng rằng chỉ ít phút nữa thôi tôi sẽ bước vào cuộc đời họ, và chẳng ai hay biết hay tỏ ý chê bai. Thỉnh thoảng trong tâm trí, tôi lẽo đẽo theo chân họ về tận căn hộ nằm ở những góc phố khuất lỉm, để rồi họ quay đầu mỉm cười với tôi trước khi biến mất qua cánh cửa mở ra thứ bóng tối ấm áp. Giữa chập choạng hoàng hôn tráng lệ của chốn đô thành, thỉnh thoảng tôi lại cảm thấy một nỗi cô đơn ám ảnh, và cảm nhận nó ở cả những người khác—những gã nhân viên trẻ nghèo khổ cứ dề dưa trước những khung cửa kính chờ đến giờ ăn tối một mình ở nhà hàng—những gã nhân viên trẻ trong ánh chiều tà, lãng phí những khoảnh khắc nhói lòng nhất của màn đêm và cuộc đời.

Lại đến tám giờ tối, khi những con hẻm tối tăm khu Forties xếp kín năm hàng những chiếc tắc-xi đang nổ máy rần rần chở khách đổ về khu kịch nghệ, lồng ngực tôi lại thắt lại. Những bóng người dựa sát vào nhau trong xe khi chờ đợi, những giọng ca cất lên, những tiếng cười khúc khích phát ra từ những trò đùa chẳng rõ nội dung, và những đốm thuốc lá sáng rực vẽ nên những vòng tròn vô nghĩa ở bên trong. Tưởng tượng rằng tôi cũng đang vội vã tiến về chốn vui chơi và chia sẻ sự phấn khích thân mật của họ, tôi thầm chúc cho họ mọi sự tốt lành.

Có dạo tôi mất hút tin tức về Jordan Baker, rồi đến giữa mùa hè tôi lại tìm thấy cô ấy. Ban đầu tôi cảm thấy hãnh diện khi được cùng cô đi đây đi đó, bởi cô là một nhà vô địch golf và ai ai cũng biết danh tiếng của cô. Rồi dần dà nó biến thành một thứ gì đó hơn thế nữa. Tôi không hẳn đã đem lòng yêu, nhưng tôi cảm thấy một thứ tò mò đầy âu yếm. Cái khuôn mặt chán chường, kiêu kỳ mà cô trưng ra với thế giới hình như đang che giấu một điều gì đó—rốt cuộc thì mọi sự làm màu cuối cùng cũng che giấu điều gì đó, dù thoạt đầu trông có vẻ không phải vậy—và rồi một ngày tôi đã phát hiện ra đó là gì. Khi chúng tôi cùng tham dự một buổi tiệc gia đình ở vùng Warwick, cô đã để chiếc xe mượn dầm mưa với phần mui mở toang, rồi sau đó lại nói dối quanh co—và bỗng nhiên tôi nhớ lại câu chuyện về cô mà đêm đó ở nhà Daisy tôi mãi không tài nào nhớ ra. Tại giải đấu golf lớn đầu tiên của cô, đã có một vụ lùm xùm suýt chút nữa thì lên cả mặt báo—với nghi vấn rằng cô đã dời quả bóng của mình ra khỏi chỗ nằm hiểm trở ở vòng bán kết. Vụ việc suýt chút nữa đã thành một thứ bê bối—rồi lại chìm xuồng. Một cậu bé nhặt bóng rút lại lời khai, và nhân chứng duy nhất còn lại thì thừa nhận rằng có lẽ mình đã nhầm lẫn. Cả vụ việc lẫn cái tên ấy cứ bám rễ mãi trong tâm trí tôi.

Jordan Baker theo bản năng luôn tránh xa những gã đàn ông sắc sảo, khôn lỏi, và giờ thì tôi hiểu ra nguyên nhân là vì cô cảm thấy an toàn hơn khi ở trong một thế giới mà mọi sự lệch lạc khỏi quy chuẩn được cho là điều không thể xảy ra. Cô là kẻ bất trị trong sự gian dối. Cô không chịu nổi việc mình rơi vào thế yếu, và với bản tính không chịu lép vế ấy, tôi đoán cô đã bắt đầu bấu víu vào những mưu mẹo từ khi còn rất trẻ để có thể giữ nguyên nụ cười lạnh lùng, xấc láo ấy trước thế giới mà vẫn thỏa mãn được đòi hỏi của một cơ thể sắt đá, phóng khoáng.

Điều đó đối với tôi chẳng thành vấn đề. Thói không trung thực ở một người phụ nữ là thứ mà bạn chẳng bao giờ nỡ trách cứ sâu sắc—tôi hờ hững tiếc nuối đôi chút, rồi quên bẵng đi. Chính trong chuyến đi chơi đó, chúng tôi đã có một cuộc trò chuyện kỳ thú về chuyện lái xe. Câu chuyện bắt đầu từ việc cô lái xe lướt qua sát rạt mấy người thợ đường đến mức chắn bùn xe chúng tôi suýt quẹt trúng chiếc cúc áo trên áo khoác của một người.

“Cô đúng là một tay lái tồi tệ,” tôi phàn nàn. “Hoặc là cô nên cẩn thận hơn, hoặc là đừng có bén mảng lái xe nữa thì hơn.”

“Tôi cẩn thận chán.”

“Không, cô chẳng hề cẩn thận chút nào.”

“Thì những người khác cẩn thận là được chứ gì,” cô thản nhiên đáp.

“Thế thì liên quan quái gì chứ?”

“Họ khắc biết đường tránh tôi ra,” cô quả quyết. “Tai nạn thì phải có sự góp mặt của hai bên cơ.”

“Lỡ cô đụng phải một kẻ bất cẩn y hệt như cô thì sao.”

“Tôi mong là đời này mình chẳng bao giờ gặp phải thể loại đó,” cô đáp. “Tôi ghét những kẻ bất cẩn. Đó là lý do tại sao tôi thích anh đấy.”

Đôi mắt xám màu lóa nắng của cô đăm đăm nhìn thẳng về phía trước, nhưng cô đã chủ động thay đổi cục diện mối quan hệ giữa chúng tôi, và trong khoảnh khắc ấy tôi suýt tưởng mình đã yêu cô. Nhưng tôi là kẻ chậm chạp trong suy nghĩ và đầy rẫy những nguyên tắc ngầm đóng vai trò như phanh hãm những ham muốn của mình, và tôi thừa biết trước tiên mình phải dứt khoát tự gỡ ra khỏi mớ bòng bong ở quê nhà cái đã. Tôi vẫn đều đặn viết thư một tuần một lần và ký tên: “Yêu anh, Nick,” thế mà trong đầu tôi lúc bấy giờ chỉ toàn nghĩ đến việc khi cô gái nọ đánh tennis, trên mép cô lại lấm tấm một lớp mồ hôi mỏng. Dù vậy, vẫn có một thứ thỏa thuận ngầm cần phải được khéo léo cắt đứt trước khi tôi thực sự được tự do.

Ai ai cũng tự cho là mình sở hữu ít nhất một trong số các phẩm chất cao quý, và đây chính là đức tính của tôi: Tôi là một trong số ít những người trung thực mà tôi từng biết trong đời.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.