Đại gia Gatsby

Lượt đọc: 68 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2

❊ ❊ ❊

Nằm khoảng giữa West Egg và New York, con đường dành cho xe cơ giới vội vã nhập vào đường rầy xe lửa rồi chạy song song suốt một phần tư dặm, như thể muốn né tránh một vùng đất hoang tàn xơ xác. Đó là thung lũng tro tàn—một trang trại kỳ quái nơi tro mọc lên như lúa mì thành từng luống, từng gò đồi và những khu vườn quái đản; nơi tro đội lốt nhà cửa, ống khói cùng những làn khói bốc cao, và sau rốt, bằng một nỗ lực siêu phàm, hóa thân thành những con người màu xám tro, lờ mờ chuyển động rồi chực tan rã giữa bầu không khí mịt mù bụi bặm. Thỉnh thoảng, một đoàn goòng xám trườn dọc theo đường ray vô hình, rít lên những tiếng ghê rợn rồi dừng lại, và ngay tức khắc đám người màu tro xám ấy túa ra cùng những chiếc xẻng chì, quấy lên một màn bụi mịt mù che khuất mọi hành tung bí ẩn của họ khỏi tầm mắt người đời.

Thế nhưng, ngự trị bên trên vùng đất xám xịt cùng những cơn lốc bụi ảm đạm không ngừng trôi nổi kia, chỉ chốc lát sau người ta sẽ nhận ra đôi mắt của Bác sĩ T. J. Eckleburg. Đôi mắt Bác sĩ T. J. Eckleburg xanh biếc và khổng lồ—mỗi tròng mắt cao tới cả thước. Chúng nhìn trừng trừng ra từ một cặp kính gọng vàng đồ sộ vắt ngang sống mũi vô hình, tuyệt nhiên không gắn với bất kỳ khuôn mặt nào. Rõ ràng một tay bác sĩ nhãn khoa gàn dở nào đó đã dựng đôi mắt ấy lên để câu khách cho phòng khám của mình ở quận Queens, rồi sau đó hoặc chính ông ta cũng chìm vào cõi mù lòa vĩnh cửu, hoặc đã quên khuấy nó mà dọn đi nơi khác. Song đôi mắt ông, dù đã phai nhạt đôi phần qua bao năm tháng không người sơn phết dầm dãi nắng mưa, vẫn trầm ngâm dõi trông xuống bãi phế thải trang nghiêm này.

Thung lũng tro tàn được bao bọc một bên bởi con sông nhỏ hôi hám, và mỗi khi cầu cất được kéo lên cho sà lan qua lại, hành khách trên những chuyến tàu phải dừng chờ có thể dán mắt nhìn cảnh tượng thê lương ấy suốt nửa giờ đồng hồ. Bao giờ tàu cũng dừng lại ở đó ít nhất một phút, và chính nhờ vậy mà lần đầu tiên tôi diện kiến người tình của Tom Buchanan.

Bất cứ nơi nào người ta biết đến Tom, chuyện anh ta có nhân tình đều được bàn tán râm ran. Đám người quen rất bất bình khi thấy anh ta ngang nhiên cặp kè cùng ả ở những quán cà phê thời thượng, rồi bỏ mặc ả ngồi một mình bên bàn để ung dung rảo bước chuyện trò với bất kỳ ai anh ta quen biết. Dù tò mò muốn thấy mặt ả, tôi chẳng hề có chút mong muốn được gặp gỡ—thế mà cuối cùng lại gặp. Một buổi chiều nọ, tôi cùng Tom đi tàu điện vào New York, và khi tàu dừng bánh cạnh những đống tro tàn, anh ta bỗng bật dậy, nắm chặt lấy khuỷu tay tôi rồi kéo tuột tôi xuống toa tàu theo đúng nghĩa đen.

“Ta xuống đây thôi,” anh ta khăng khăng. “Tôi muốn cậu gặp người phụ nữ của tôi.”

Tôi nghĩ hẳn trưa đó anh ta đã nốc đẫy rượu, bởi cái vẻ nằng nặc bắt tôi đi cùng gần như thô bạo. Anh ta cứ trịch thượng mặc định rằng vào một chiều Chủ nhật thế này, tôi chẳng có việc gì hay ho hơn để làm.

Tôi bước theo anh ta qua một hàng rào đường sắt thấp quét vôi trắng, rồi hai chúng tôi đi ngược lại chừng trăm thước dọc theo con đường, dưới cái nhìn trừng trừng không lay chuyển của Bác sĩ Eckleburg. Công trình duy nhất đập vào mắt là một dãy nhà nhỏ xây bằng gạch vàng trơ trọi bên rìa bãi đất hoang, như một mảnh phố thị thu nhỏ lạc lõng phục vụ cho cái nơi chẳng giáp ranh với bất cứ thứ gì này. Trong ba gian cửa hiệu ở đó, một gian đang treo biển cho thuê, một gian là quán ăn mở suốt đêm với lối vào mòn vẹt qua lớp tro tàn; gian thứ ba là một ga-ra sửa xe—Sửa chữa. George B. Wilson. Mua bán ô tô.—và tôi theo gót Tom bước vào trong.

Bên trong ga-ra trông xơ xác và trống hoác; chiếc xe duy nhất thấy được là xác một chiếc Ford phủ đầy bụi bặm đang co ro trong góc tối. Tôi thầm nghĩ cái bóng dáng ga-ra tiều tụy này hẳn chỉ là bức bình phong che mắt, và bên trên chắc hẳn phải giấu những căn hộ lộng lẫy đầy phong vị lãng mạn, thì đúng lúc ấy, chủ tiệm xuất hiện nơi cửa văn phòng, vừa đi vừa lau tay vào một nùi giẻ vụn. Đó là một người đàn ông tóc hoe vàng, ủ rũ, thiếu máu, nhưng phảng phất nét điển trai. Vừa thấy chúng tôi, một tia hy vọng ẩm ướt bỗng lóe lên trong đôi mắt xanh nhạt của anh ta.

“Chào Wilson, anh bạn già,” Tom nói, vỗ bôm bốp vào vai anh ta một cách xởi lởi. “Làm ăn thế nào rồi?”

“Cũng tàm tạm,” Wilson đáp với vẻ chẳng mấy tin tưởng. “Bao giờ ông mới bán cho tôi chiếc xe đó?”

“Tuần sau; thợ của tôi đang làm dở rồi.”

“Nó làm chậm như rùa ấy nhỉ?”

“Không hề chậm,” Tom lạnh lùng gạt đi. “Nếu anh nghĩ thế thì khéo tôi bán phéng cho chỗ khác cho xong.”

“Tôi đâu có ý đó,” Wilson vội vàng phân bua. “Ý tôi chỉ là—”

Giọng anh ta nhỏ dần rồi tắt ngấm, trong khi Tom sốt ruột đưa mắt nhìn quanh ga-ra. Chợt tôi nghe thấy tiếng bước chân trên cầu thang, và chỉ một thoáng sau, vóc dáng đẫy đà của một người đàn bà đã chắn ngang luồng sáng hắt ra từ cửa văn phòng. Ả trạc ngoài ba mươi, hơi đẫm người một chút, nhưng lại mang trên mình da thịt phốp pháp đầy nhục cảm như một số phụ nữ vẫn có. Gương mặt ả, nổi bật trên chiếc váy bằng lụa crêpe-de-chine màu xanh thẫm lấm tấm hoa văn, chẳng có lấy một đường nét hay tia sáng nào của sự kiều diễm, nhưng toát ra một sức sống hừng hực dễ nhận thấy, như thể từng sợi dây thần kinh trong thân thể ả lúc nào cũng âm ỉ cháy. Ả mỉm cười chậm rãi, thản nhiên bước xuyên qua chồng mình như thể anh ta chỉ là một bóng ma, rồi bắt tay Tom, nhìn thẳng trừng trừng vào mắt anh ta. Đoạn ả liếm môi, chẳng buồn quay đầu lại mà cất giọng trầm đục khàn khàn bảo chồng:

“Lấy mấy cái ghế ra đây xem nào, để cho người ta còn ngồi chứ.”

“Ờ, được ngay,” Wilson vội vã vâng lời rồi đi về phía gian văn phòng nhỏ, bóng dáng anh ta lập tức chìm lẫn vào màu xi-măng của những bức tường. Một lớp bụi tro trắng xóa phủ lên bộ âu phục sẫm màu cùng mái tóc nhợt nhạt của anh ta, hệt như nó đã phủ lên vạn vật quanh đây—trừ người vợ, lúc này đang nép sát lại gần Tom.

“Anh muốn gặp em,” Tom nói đầy vẻ bức bách. “Lên chuyến tàu kế tiếp nhé.”

“Được thôi.”

“Anh sẽ đợi em cạnh sạp báo ở tầng dưới.”

Ả gật đầu rồi tách khỏi anh ta, đúng lúc George Wilson khệ nệ bê hai chiếc ghế bước ra khỏi cửa phòng.

Chúng tôi rảo bước xuống đường đứng chờ ở chỗ khuất mắt. Đó là những ngày cận kề Lễ Độc lập mùng Bốn tháng Bảy, và một đứa trẻ người Ý gầy gò, xám xịt đang cặm cụi xếp pháo nổ thành một hàng dọc theo đường ray.

“Nơi này tệ hại thật đấy nhỉ,” Tom nói, vừa cau mày nhìn lại Bác sĩ Eckleburg.

“Kinh khủng thật.”

“Ả đi ra ngoài đổi gió một chút cũng tốt.”

“Chồng ả không phản đối sao?”

“Thằng Wilson ấy à? Nó tưởng ả lên New York thăm chị gái. Nó đần độn đến mức chẳng biết mình còn đang sống nữa là.”

Thế là Tom Buchanan, người tình của anh ta và tôi cùng nhau đi New York—nói đúng hơn là không hẳn đi cùng nhau, vì bà Wilson ý tứ ngồi riêng ở một toa khác. Tom vẫn phải kiêng dè chừng ấy trước con mắt của những cư dân East Egg ngộ nhỡ có mặt trên tàu.

Ả đã kịp thay một chiếc váy muslin hoa màu nâu bó sát lấy cặp hông khá nở nang khi được Tom đỡ bước xuống sân ga New York. Tại sạp báo, ả mua một tờ Bàn chuyện Thị thành cùng một tạp chí điện ảnh, rồi ghé vào hiệu thuốc tây trong ga mua thêm hộp kem lạnh và một lọ nước hoa nhỏ. Lên đến tầng trên, giữa lối xe chạy vang vọng âm thanh nghiêm cẩn, ả để mặc bốn chiếc taxi chạy qua rồi mới chọn một chiếc xe đời mới màu hoa cà lót nệm xám, và chiếc xe đưa chúng tôi trượt khỏi khối kiến trúc đồ sộ của nhà ga để lao ra ngoài ánh nắng rực rỡ. Nhưng ngay lập tức, ả quay ngoắt khỏi cửa sổ, rướn người về phía trước rồi gõ cồm cộp vào tấm kính ngăn.

“Em muốn mua một con chó trong đàn kia,” ả nôn nóng nói. “Em muốn mua một con đem về căn hộ. Có một con chó nuôi cũng vui lắm đấy.”

Xe chúng tôi lùi lại cạnh một ông lão râu tóc bạc phơ có nét giống John D. Rockefeller đến nực cười. Trong chiếc giỏ đeo lủng lẳng trước ngực ông ta là cả chục chú chó con mới sinh không rõ thuộc giống gì đang nép chặt vào nhau.

“Chó giống gì thế ông?” Bà Wilson háo hức hỏi khi ông ta tiến lại gần cửa kính taxi.

“Đủ loại cả, thưa bà. Bà muốn loại nào?”

“Tôi muốn một con béc-giê cảnh sát; chắc ông không có giống đó đâu nhỉ?”

Người đàn ông ngập ngừng ngó vào giỏ, thọc tay vào tóm gáy lôi lên một chú chó con đang ngọ nguậy.

“Đó đâu phải béc-giê,” Tom bảo.

“Vâng, nó không hẳn là béc-giê,” người đàn ông nói, giọng lộ vẻ thất vọng. “Nó giống chó săn Airedale hơn.” Lão xoa tay lên bộ lông lưng xơ xác như cái giẻ lau màu nâu. “Bà xem bộ lông này. Lông thế này thì tuyệt. Giống này nuôi thì chẳng bao giờ lo nó bị cảm lạnh đâu.”

“Em thấy nó xinh đấy chứ,” bà Wilson thích thú reo lên. “Bao nhiêu tiền thế ông?”

“Con chó này á?” Ông ta ngắm nghía nó đầy vẻ ngưỡng mộ. “Bà trả mười đô là được con chó này.”

Chú chó Airedale—hẳn là có chút máu Airedale đâu đó trong người, dù bốn bàn chân nó trắng bóc đến lạ lùng—được chuyền tay và ngoan ngoãn nằm gọn trong lòng bà Wilson, nơi ả mê mẩn vuốt ve bộ lông bất chấp sương gió của nó.

“Con đực hay con cái vậy ông?” ả ỏn ẻn hỏi.

“Con này á? Đực đấy bà.”

“Chó cái rành rành ra đấy,” Tom dứt khoát cắt ngang. “Tiền của ông đây. Cầm lấy mà đi mua thêm chục con nữa.”

Chúng tôi phóng xe về phía Đại lộ số Năm, nơi bầu không khí chiều Chủ nhật mùa hạ ấm áp, êm đềm và gần như mang phong vị đồng quê. Dẫu lúc ấy có thấy cả một đàn cừu trắng muốt thong dong quẹo qua góc phố, có lẽ tôi cũng chẳng lấy làm kinh ngạc.

“Khoan đã,” tôi bảo, “tôi phải chia tay hai người ở đây thôi.”

“Không được đâu,” Tom vội chen vào. “Cậu không lên căn hộ là Myrtle tủi thân đấy. Phải không, Myrtle?”

“Lên đi mà,” ả nài nỉ. “Em sẽ gọi điện cho Catherine, em gái em. Những người sành sỏi đều bảo nó đẹp gái lắm đấy.”

“Thì tôi cũng muốn lắm, nhưng—”

Chúng tôi vẫn tiếp tục đi, vòng qua Công viên rồi hướng về mạn phố Tây vùng số Một trăm. Tại Phố 158, chiếc taxi đỗ lại trước một góc của dãy nhà chung cư dài trắng toát như ổ bánh kem. Liếc nhìn quanh khu phố bằng ánh mắt kiêu sa của kẻ vinh quy bái tổ, bà Wilson ôm lấy con chó cùng mớ đồ vừa mua, rồi đĩnh đạc bước vào.

“Em sẽ bảo vợ chồng nhà McKee lên chơi,” ả thông báo khi chúng tôi đang đi thang máy lên. “Và dĩ nhiên, em cũng phải gọi cho em gái em nữa.”

Căn hộ nằm ở tầng trên cùng—gồm một phòng khách nhỏ, một phòng ăn nhỏ, một phòng ngủ nhỏ và một phòng tắm. Gian phòng khách bị nhồi nhét đến tận cửa một bộ bàn ghế bọc thảm dệt quá khổ so với căn phòng, đến nỗi mỗi bước đi là một lần vấp phải những hình thêu cảnh các quý cô đang đung đưa xích đu trong vườn ngự uyển Versailles. Bức tranh duy nhất treo trên tường là một tấm ảnh phóng to quá mức, thoạt nhìn như một con gà mái đang đậu trên tảng đá mờ căm. Tuy nhiên, nhìn kỹ từ xa, con gà hóa ra lại là chiếc mũ nan trùm đầu, và gương mặt một bà lão đẫy đà đang rạng rỡ tỏa sáng xuống căn phòng. Vài tờ tạp chí Bàn chuyện Thị thành cũ nằm vất vưởng trên bàn cùng một cuốn Simon Được Gọi Là Peter và mấy tờ báo lá cải chuyên săn tin giật gân ở Broadway. Bà Wilson lo cho con chó trước tiên. Cậu bé chạy thang máy miễn cưỡng đi kiếm một cái hộp đầy rơm cùng ít sữa, rồi tự ý mang thêm một hộp bánh bích-quy to và cứng dành cho chó—một mẩu bánh trong số đó nằm rữa dần ra một cách ủ rũ trong đĩa sữa suốt cả buổi chiều. Trong khi đó, Tom lôi một chai whisky ra khỏi ngăn tủ có khóa.

Đời tôi mới say rượu có hai lần, và lần thứ hai chính là vào buổi chiều hôm ấy; thế nên mọi sự diễn ra sau đó đều phủ một màn sương mờ ảo, dẫu rằng mãi đến sau tám giờ tối căn hộ vẫn tràn ngập ánh nắng chan hòa. Ngồi lọt thỏm trong lòng Tom, bà Wilson bấm điện thoại gọi cho mấy người; rồi vì hết thuốc lá, tôi phải chạy xuống góc phố tìm hiệu thuốc tây để mua. Khi tôi quay lại thì cả hai đã biến đâu mất, nên tôi đành lịch sự ngồi lại phòng khách đọc một chương cuốn Simon Được Gọi Là Peter—chẳng biết do cuốn sách dở tệ hay men whisky làm đầu óc tôi đảo lộn, mà đọc mãi tôi chẳng hiểu mô tê gì.

Đúng lúc Tom và Myrtle quay trở lại (sau chén rượu đầu tiên, tôi và bà Wilson đã gọi nhau bằng tên thân mật), khách khứa cũng bắt đầu lục tục kéo đến gõ cửa căn hộ.

Cô em gái, Catherine, là một cô gái thạo đời, mảnh khảnh, trạc ba mươi tuổi, với mái tóc ngắn màu đỏ ép keo dính chặt và làn da dặm phấn trắng như sữa. Đôi mày cô nàng đã bị nhổ sạch rồi kẻ lại bằng một đường xếch đầy vẻ ngỗ ngược, nhưng những nỗ lực của tự nhiên nhằm khôi phục lại hàng chân mày cũ đã khiến khuôn mặt cô ta có phần mờ nhạt, nhem nhuốc. Mỗi khi cô di chuyển, vô số chiếc vòng tay bằng gốm sứ lại khua vào nhau leng keng không ngớt dọc theo cánh tay. Cô ta bước vào nhà với vẻ vội vã như chính chủ nhân, đưa mắt nhìn quanh đồ đạc đầy vẻ chiếm hữu đến mức tôi phải tự hỏi liệu có phải cô ta sống ở đây không. Nhưng khi tôi hỏi, cô ta lại cười phá lên một cách quá trớn, nhắc lại to tướng câu hỏi của tôi, rồi bảo rằng cô đang ở trọ cùng một cô bạn gái trong khách sạn.

Ông McKee là một người đàn ông nhợt nhạt, ẻo lả sống ở căn hộ tầng dưới. Anh ta vừa mới cạo râu xong, trên gò má vẫn còn vương một vệt bọt xà phòng trắng phau, và anh ta cất lời chào mọi người trong phòng bằng một thái độ hết sức cung kính. Anh ta giới thiệu mình đang dấn thân vào “nghệ thuật,” và mãi sau tôi mới hiểu ra anh ta là thợ chụp ảnh, đồng thời là tác giả của bức ảnh phóng to mờ ảo chụp mẹ bà Wilson đang lởn vởn như bóng ma trên tường. Vợ anh ta thì the thé, lờ đờ, ưa nhìn nhưng đáng sợ. Chị ta tự hào khoe với tôi rằng từ ngày cưới nhau, chồng chị ta đã chụp cho chị đúng một trăm hai mươi bảy tấm ảnh.

Bà Wilson đã thay trang phục từ lúc nào, giờ đây diện một bộ váy dạ hội cầu kỳ bằng vải voan màu kem, tà váy kêu sột soạt không ngớt theo từng bước ả lướt quanh phòng. Cùng với chiếc váy mới, tính khí của ả dường như cũng biến đổi hoàn toàn. Sức sống hừng hực đến kinh ngạc từng thấy ở ga-ra giờ đã nhường chỗ cho một vẻ kiêu kỳ trịch thượng. Điệu cười, cử chỉ, lời ăn tiếng nói của ả mỗi lúc một thêm màu mè kệch cỡm, và khi ả càng phô trương thì căn phòng dường như càng thu hẹp lại quanh ả, cho tới khi trông ả như đang quay cuồng trên một chiếc trục cót két ồn ào giữa bầu không khí đặc quánh khói thuốc.

“Chị bảo này,” ả nói với cô em bằng một giọng the thé, làm bộ làm tịch, “mấy cái ngữ đàn ông đó lúc nào cũng chỉ chực lừa mình thôi. Đầu óc bọn họ chẳng có gì ngoài tiền. Tuần trước chị có gọi một bà đến đây chăm sóc móng chân, lúc bả đưa hóa đơn ra thì cứ tưởng bả vừa mổ ruột thừa cho mình không bằng.”

“Người phụ nữ đó tên gì thế chị?” bà McKee hỏi.

“Bà Eberhardt. Bả chuyên đi làm móng chân tận nhà cho người ta.”

“Em thích cái váy của chị quá,” bà McKee nhận xét, “trông đáng yêu ghê cơ.”

Bà Wilson gạt phắt lời khen bằng cách nhướn mày khinh khỉnh.

“Ôi dào, cái đồ cũ rích dở hơi ấy mà,” ả nói. “Thỉnh thoảng chị tiện tay tròng vào những lúc chẳng buồn quan tâm mình trông ra làm sao thôi.”

“Nhưng chị mặc vào trông tuyệt lắm, nếu chị hiểu ý em,” bà McKee vẫn đeo bám. “Giá mà anh Chester chộp được chị trong dáng đứng đó, em nghĩ anh ấy sẽ làm nên chuyện đấy.”

Tất cả chúng tôi im lặng nhìn bà Wilson, ả vén một lọn tóc rủ trước mắt rồi nhìn lại chúng tôi bằng một nụ cười rạng rỡ. Ông McKee nghiêng đầu ngắm nghía ả chăm chú, rồi từ từ đưa bàn tay qua lại trước mặt.

“Tôi phải đổi góc sáng thôi,” một lát sau anh ta lên tiếng. “Tôi muốn làm nổi bật khối nét của các đường nét khuôn mặt. Và tôi sẽ cố gắng gom gọn toàn bộ phần tóc phía sau lại.”

“Em thì không đời nào chịu đổi góc sáng đâu,” bà McKee kêu lên. “Em thấy thế là—”

Chồng chị ta suỵt một tiếng, và tất cả chúng tôi lại dán mắt vào người mẫu, đúng lúc Tom Buchanan ngáp dài một tiếng rõ to rồi đứng bật dậy.

“Hai vợ chồng McKee uống chút gì đi,” anh ta bảo. “Lấy thêm ít đá với nước khoáng đi Myrtle, trước khi mọi người lăn ra ngủ hết cả đám bây giờ.”

“Em đã bảo thằng bé mang đá lên rồi mà.” Myrtle nhướn mày đầy vẻ tuyệt vọng trước thói tắc trách của tầng lớp dưới. “Cái lũ người này! Lúc nào cũng phải kè kè giục giã mới xong việc.”

Ả nhìn tôi rồi cười vô cớ. Sau đó ả sà về phía con chó, hôn nó đắm đuối rồi lướt thướt đi vào bếp, làm như thể đang có cả tá đầu bếp đang đứng chực chờ mệnh lệnh của ả trong đó.

“Tôi có vài tác phẩm khá ưng ý làm ngoài Long Island đấy,” ông McKee khẳng định.

Tom nhìn anh ta trơ tráo.

“Có hai bức chúng tôi đã đóng khung treo ở tầng dưới.”

“Hai bức gì cơ?” Tom gặng hỏi.

“Hai bức ảnh nghệ thuật. Một bức tôi đặt tên là Mũi Montauk—Đàn hải âu, còn bức kia là Mũi Montauk—Biển cả.”

Cô em gái Catherine ngồi xuống cạnh tôi trên ghế đi-văng.

“Anh cũng sống ngoài Long Island à?” cô ta dò hỏi.

“Tôi sống ở West Egg.”

“Thế ư? Cách đây chừng một tháng tôi có xuống đó dự tiệc. Ở nhà một người tên là Gatsby. Anh có biết ông ấy không?”

“Tôi ở ngay sát vách nhà ông ta.”

“Chà, người ta đồn ông ta là cháu trai hay em họ gì đó của Hoàng đế Wilhelm. Toàn bộ tiền bạc của ông ta đều từ đó mà ra cả đấy.”

“Thật thế sao?”

Cô ta gật đầu.

“Tôi thấy sợ ông ta lắm. Tôi chẳng muốn bị ông ta nắm được thóp đâu.”

Mẩu thông tin đầy lôi cuốn về người hàng xóm của tôi bị cắt ngang bởi tiếng bà McKee bất thần chỉ tay về phía Catherine:

“Chester này, em nghĩ anh có thể làm được vài kiểu với cô ấy đấy,” chị ta buột miệng, nhưng ông McKee chỉ gật đầu một cách chán chường rồi quay sang chú ý đến Tom.

“Tôi muốn làm thêm nhiều tác phẩm ngoài Long Island, giá mà có mối quen dắt mối cho. Tôi chỉ cần người ta cho tôi một bước đệm ban đầu thôi.”

“Bảo Myrtle ấy,” Tom nói, bật ra một tràng cười ngắn khi thấy bà Wilson bưng khay bước vào. “Ả sẽ viết cho anh một bức thư giới thiệu, phải không Myrtle?”

“Làm gì cơ?” ả hỏi, giật mình.

“Em viết cho McKee một bức thư giới thiệu với chồng em, để anh ấy làm vài bức ảnh nghệ thuật về lão.” Môi Tom mấp máy một thoáng như đang tự nghĩ ra cái tên: “Kiểu như ‘George B. Wilson bên cây bơm xăng,’ hay đại loại thế.”

Catherine nghiêng đầu sát lại gần tôi rồi thì thầm vào tai:

“Cả hai người bọn họ đều không thể chịu nổi người bạn đời của mình.”

“Thế cơ à?”

“Không tài nào chịu nổi.” Cô ta nhìn Myrtle rồi lại nhìn Tom. “Theo tôi ấy, không chịu nổi nhau thì sống chung làm cái quái gì nữa? Nếu là họ, tôi sẽ ly dị rồi cưới phéng nhau ngay tắp lự.”

“Chị ấy cũng chẳng ưa gì Wilson sao?”

Câu trả lời cho điều này đến thật bất ngờ. Nó thốt ra từ chính miệng Myrtle, người vừa nghe lỏm được câu hỏi, bằng một tràng dữ dội và tục tĩu.

“Anh thấy chưa,” Catherine đắc thắng kêu lên. Rồi cô ta lại hạ giọng thì thào: “Thực ra chính mụ vợ anh ấy mới là kẻ ngáng đường ngăn trở họ. Mụ ta theo Công giáo, mà bên đó thì không cho phép ly dị.”

Daisy đâu có theo Công giáo, và tôi hơi rùng mình trước lời nói dối được thêu dệt quá đỗi tinh vi ấy.

“Khi nào cưới nhau xong,” Catherine nói tiếp, “họ sẽ chuyển về miền Tây sống một thời gian cho êm chuyện.”

“Sang châu Âu có khi lại kín đáo hơn đấy.”

“Ồ, anh cũng thích châu Âu à?” cô ta thốt lên đầy ngạc nhiên. “Tôi vừa ở Monte Carlo về đấy.”

“Thế à.”

“Mới năm ngoái thôi. Tôi sang đó với một cô bạn gái.”

“Ở lại lâu không?”

“Không, chúng tôi chỉ đến Monte Carlo rồi quay về luôn. Đi qua ngả Marseille. Lúc khởi hành chúng tôi có hơn một ngàn hai trăm đô, thế mà bị lũ trong sòng bạc VIP lừa sạch bách chỉ trong hai ngày. Lúc về khổ sở trầy vi tróc vảy, nói thật với anh đấy. Trời đất ơi, tôi ghét cái thị trấn ấy đến tận xương tủy!”

Bầu trời chiều muộn ngoài khung cửa sổ bỗng bừng nở trong giây lát như dòng mật xanh biếc của Địa Trung Hải—rồi giọng nói the thé của bà McKee lại kéo tôi trở về với căn phòng.

“Suýt nữa tôi cũng phạm phải sai lầm đấy chứ,” chị ta quả quyết tuyên bố. “Hồi trước suýt nữa tôi lấy một gã Do Thái lùn tịt theo đuổi tôi suốt bao nhiêu năm trời. Tôi thừa biết gã kém xa tôi. Ai cũng bảo tôi: ‘Lucille ơi, cái thằng đó còn lâu mới xứng với cô!’ Nhưng nếu không gặp anh Chester, chắc mẩm là gã đã tóm được tôi rồi.”

“Ừ, nhưng nghe này,” Myrtle Wilson vừa nói vừa gật gù lia lịa, “ít ra thì chị cũng đâu có cưới hắn.”

“Thì tôi có cưới đâu.”

“Còn tôi thì đâm đầu cưới lão,” Myrtle nói giọng đầy ẩn ý. “Và đó chính là chỗ khác nhau giữa chuyện của chị với chuyện của tôi.”

“Sao chị lại cưới, hở Myrtle?” Catherine gặng hỏi. “Có ai ép uổng chị đâu.”

Myrtle trầm ngâm suy nghĩ.

“Tôi cưới lão vì tưởng lão là một bậc trượng phu quân tử,” rốt cuộc ả nói. “Tôi cứ ngỡ lão có chút giáo dưỡng gia phong, ai ngờ lão xách dép cho tôi còn chẳng xứng.”

“Có dạo chị mê lão như điếu đổ còn gì,” Catherine nói.

“Mê lão như điếu đổ á!” Myrtle kêu lên đầy vẻ hoài nghi. “Ai bảo tôi mê lão như điếu đổ? Tôi chưa từng mê lão hơn cái gã đằng kia bao giờ cả.”

Ả thình lình chỉ tay về phía tôi, và mọi ánh mắt đều đổ dồn vào tôi đầy vẻ tra vấn. Tôi cố làm ra vẻ mặt để chứng tỏ mình chẳng mảy may tơ tưởng chút tình cảm nào.

“Lần duy nhất tôi phát rồ là lúc đâm đầu lấy lão. Vừa cưới xong là tôi biết ngay mình đã lầm. Lão đi mượn bộ đồ vía của người ta để làm đám cưới mà giấu tiệt không thèm nói với tôi lấy một lời, rồi một hôm lão vừa đi vắng thì cái người kia mò đến đòi áo: ‘Ủa, đây là đồ của anh à?’ Tôi hỏi. ‘Giờ tôi mới nghe chuyện này lần đầu đấy.’ Nhưng rồi tôi vẫn trả lại áo cho người ta, đoạn nằm vật ra giường khóc như mưa như gió suốt cả buổi chiều.”

“Chị ấy thực sự phải dứt áo ra đi khỏi cái lão đó,” Catherine lại quay sang phân trần với tôi. “Họ đã sống chui rúc trên cái ga-ra đó suốt mười một năm trời rồi. Và Tom chính là người tình đầu tiên của chị ấy đấy.”

Chai whisky—chai thứ hai—lúc này được tất cả mọi người có mặt liên tục chuyền tay nhau, trừ Catherine, người “chẳng cần giọt nào trong người cũng thấy lâng lâng rồi.” Tom bấm chuông gọi người gác cổng rồi sai ông ta đi mua mấy ổ bánh mì kẹp trứ danh, đủ thịnh soạn để làm thành một bữa tối no nê. Tôi muốn thoát ra ngoài để rảo bước về hướng đông, hướng về phía công viên giữa buổi hoàng hôn êm ả, nhưng mỗi lần tôi toan đứng dậy là lại bị cuốn vào một cuộc tranh cãi cuồng nhiệt, chát chúa nào đó, kéo ghì tôi trở lại ghế như bị trói bằng dây thừng. Thế nhưng trên cao tít giữa lòng thành phố, hàng cửa sổ vàng rực của chúng tôi hẳn cũng đang góp thêm một phần bí mật nhân sinh cho kẻ tình cờ ngước nhìn lên từ những con phố đang sẫm tối, và tôi cũng nhìn thấy kẻ ấy, đang ngước mắt nhìn lên mà ngẫm ngợi băn khoăn. Tôi vừa là người trong cuộc lại vừa là kẻ đứng ngoài, đồng thời vừa mê đắm lại vừa ghê tởm trước tính chất muôn màu bất tận của cõi đời.

Myrtle kéo ghế lại sát bên tôi, và hơi thở ấm nóng của ả bỗng phả vào tôi câu chuyện về lần đầu tiên ả gặp gỡ Tom.

“Hồi đó là trên hai cái ghế nhỏ đối diện nhau, cái loại ghế bao giờ cũng là chỗ cuối cùng còn sót lại trên tàu ấy. Hôm ấy em đang lên New York thăm cô em gái rồi ngủ lại qua đêm. Anh ấy mặc âu phục sang trọng, đi giày da bóng loáng, mắt em chẳng thể nào rời khỏi anh ấy được, nhưng hễ anh ấy nhìn sang là em lại phải vờ vịt ngó lên bảng quảng cáo trên đầu anh ấy. Lúc tàu vào ga, anh ấy đứng ngay cạnh em, ngực áo sơ mi trắng tinh của anh ấy ép sát vào cánh tay em, thế là em bảo anh ấy rằng em sẽ gọi cảnh sát, nhưng anh ấy biết tỏng là em nói dối. Em bối rối đến mức lúc bước lên taxi cùng anh ấy, em còn chẳng phân biệt nổi là mình có đang bước xuống tàu điện ngầm hay không nữa. Trong đầu em lúc đó cứ lặp đi lặp lại mãi một ý nghĩ: ‘Đời người sống được bao lăm; đời người sống được bao lăm đâu cơ chứ.’ ”

Ả quay sang phía bà McKee và căn phòng vang rền tiếng cười giả lả của ả.

“Chị yêu quý ơi,” ả ré lên, “em sẽ cho chị cái váy này ngay khi em mặc chán. Mai em phải sắm cái khác mới được. Em phải lập một danh sách tất cả những thứ cần mua mới xong. Đi mát-xa rồi uốn tóc này, mua một cái vòng cổ cho con cún này, rồi một cái gạt tàn xinh xinh có nút bấm lò xo này, với cả một vòng hoa gắn nơ lụa đen để đem ra mộ mẹ, loại để được suốt cả mùa hè ấy. Em phải ghi ra danh sách kẻo lại quên béng mất những việc cần làm.”

Lúc đó đã chín giờ—nhưng gần như ngay sau đó tôi nhìn lại đồng hồ thì đã điểm mười giờ. Ông McKee đã ngủ gục trên ghế, hai nắm tay siết chặt đặt trên đùi, trông hệt như bức chân dung chụp một con người hành động. Rút chiếc khăn tay ra, tôi lau vệt bọt xà phòng đã khô trên má anh ta, thứ đã làm tôi ngứa mắt suốt từ chiều tới giờ.

Chú chó nhỏ ngồi trên bàn, đưa đôi mắt mờ đục nhìn trừng trừng qua làn khói thuốc, chốc chốc lại rên lên khe khẽ. Người ta thoắt biến thoắt hiện, rủ rê nhau đi đâu đó rồi lại lạc mất nhau, cuống cuồng đi tìm rồi lại thấy nhau cách đó chỉ vài bước chân. Khoảng nửa đêm, Tom Buchanan và bà Wilson đứng đối mặt nhau, gay gắt cãi vã xem bà Wilson có quyền được nhắc đến cái tên Daisy hay không.

“Daisy! Daisy! Daisy!” bà Wilson gào lên. “Tao thích nói lúc nào tao nói! Daisy! Dai—”

Bằng một động tác nhanh gọn và chuẩn xác, Tom Buchanan vung mu bàn tay tát vỡ mũi ả.

Thế rồi những chiếc khăn tắm vấy máu vương vãi trên sàn phòng tắm, tiếng phụ nữ la lối om sòm, và trùm lên mớ hỗn độn ấy là một tiếng khóc than ai oán đứt quãng kéo dài vì đau đớn. Ông McKee giật mình choàng tỉnh sau cơn gà gật rồi lảo đảo bước về phía cửa như kẻ mộng du. Đi được nửa đường, anh ta quay lại trố mắt nhìn cảnh tượng trước mắt—vợ anh ta cùng Catherine vừa xót xa an ủi vừa quở trách, loạng choạng bước đi giữa đống đồ đạc chật ních để tìm đồ sơ cứu, cùng bóng dáng tuyệt vọng trên chiếc đi-văng đang chảy máu đầm đìa, cố trải một tờ Bàn chuyện Thị thành lên những bức thảm dệt cảnh cung điện Versailles. Rồi ông McKee quay gót bước tiếp ra ngoài cửa. Lấy chiếc mũ máng trên chùm đèn xuống, tôi vội vã bám theo.

“Hôm nào đi ăn trưa nhé,” anh ta buông lời mời khi chiếc thang máy rên rỉ lao xuống dưới.

“Ở đâu cơ?”

“Đâu cũng được.”

“Bỏ tay ra khỏi cần gạt coi,” cậu bé thang máy gắt gỏng.

“Xin lỗi cậu,” ông McKee nghiêm trang đáp, “tôi không để ý là mình đang chạm vào nó.”

“Được thôi,” tôi đồng ý, “tôi rất sẵn lòng.”

… Tôi thấy mình đang đứng bên giường anh ta, còn anh ta thì đang ngồi xếp bằng giữa hai lớp ga trải giường, trên người chỉ mặc mỗi bộ đồ lót, hai tay ôm một cặp tài liệu lớn chứa đầy ảnh mẫu.

“Giai nhân và Quái vật… Nỗi cô đơn… Con ngựa già hàng xén… Cầu Brook’n…”

Rồi sau đó tôi thấy mình đang nằm thiếp đi nửa tỉnh nửa mê dưới tầng hầm lạnh lẽo của Nhà ga Pennsylvania, mắt dán vào tờ Tin tức buổi sáng, nằm đợi chuyến tàu lúc bốn giờ.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.