Hồi ức về Joan of Arc — Tập 2

Lượt đọc: 75 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 36
Joan nghe tin tức từ quê nhà

❊ ❊ ❊

Chúng tôi lên ngựa và tiến bước, một cảnh tượng đáng nhớ, một màn phô trương cao quý với những bộ y phục lộng lẫy và những chùm lông vũ đung đưa. Khi chúng tôi đi giữa đám đông chật kín hai bên đường, họ đồng loạt cúi rạp xuống khi chúng tôi tiến lại gần, như lúa trước lưỡi hái, và quỳ xuống chào đón nồng nhiệt vị Vị Vua được xức dầu cùng người bạn đồng hành, Đấng Cứu Độ nước Pháp. Nhưng rồi, khi chúng tôi đã diễu hành qua những phần chính của thành phố và sắp kết thúc lộ trình, khi đang tiến gần đến cung điện của Tổng giám mục, có người nhìn thấy bên tay phải, ngay cạnh quán trọ tên là Zebra, một điều lạ lùng—hai người đàn ông không quỳ mà đứng thẳng! Họ đứng ở hàng đầu tiên của những người đang quỳ; thần trí thẫn thờ, chết lặng, trố mắt nhìn. Phải, và cả hai đều khoác trên mình bộ quần áo thô kệch của nông dân. Hai lính kích vội lao đến chỗ họ đầy giận dữ để dạy cho họ biết phép tắc; nhưng ngay khi họ định bắt giữ hai người kia, Joan hét lên: “Dừng lại!” rồi nàng trượt xuống khỏi yên ngựa, vòng tay ôm lấy một trong hai lão nông ấy, gọi ông bằng đủ thứ tên thân mật, và nức nở. Vì đó chính là cha nàng; và người kia là chú của nàng, Laxart.

Tin tức bay đi khắp nơi, những tiếng reo hò chào đón vang dội, và chỉ trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, hai kẻ bình dân hèn mọn, vô danh kia bỗng chốc trở nên nổi tiếng, được yêu mến và ngưỡng mộ. Ai cũng phát sốt lên chỉ để được tận mắt nhìn thấy họ và để có thể kể lại suốt đời rằng mình đã trông thấy người cha của Joan of Arc và người anh trai của mẹ nàng. Thật dễ dàng biết bao khi nàng làm nên những phép màu như thế! Nàng tựa như mặt trời; bất cứ vật gì dù khiêm tốn hay u tối đến đâu khi được những tia sáng của nàng chiếu rọi, đều lập tức chìm đắm trong vinh quang.

Đức Vua nhân từ phán rằng:

“Hãy đưa họ đến trước mặt ta.”

Và nàng đưa họ đến; nàng rạng rỡ hạnh phúc và yêu thương, còn họ thì run rẩy sợ hãi, mũ trên tay cũng run bần bật. Ngay trước bàn dân thiên hạ, Đức Vua đưa tay cho họ hôn, trong khi mọi người nhìn họ với vẻ ghen tị và thán phục. Ngài bảo lão D’Arc:

“Hãy tạ ơn Chúa vì ông là cha của đứa trẻ này, vị ban phát những điều bất tử. Ông, người mang một cái tên sẽ còn sống mãi trong miệng người đời ngay cả khi dòng dõi các vị vua đã bị quên lãng, ông không cần phải cúi đầu trước những danh vọng và phẩm giá phù du của một ngày—hãy đội mũ lên!” Và thật lòng, khi nói câu đó, trông Ngài thật uy nghi và cao quý. Sau đó, Ngài ra lệnh triệu tập Quan tòa thành Rheims; và khi ông ta đến, cúi mình thấp xuống với cái đầu trần, Đức Vua bảo ông ta: “Hai người này là khách quý của nước Pháp,” và truyền lệnh hãy tiếp đãi họ thật chu đáo.

Có lẽ tôi nên nói ngay bây giờ thay vì để sau, rằng cha D’Arc và Laxart đã dừng chân tại quán trọ Zebra nhỏ bé đó, và họ vẫn ở lại đó. Quan tòa đã đề nghị những chỗ ở tốt hơn cho họ, cùng với những vinh dự công khai và sự tiếp đón nồng hậu; nhưng họ sợ hãi trước những kế hoạch đó vì họ chỉ là những nông dân khiêm tốn và ít học; nên họ khước từ và tìm lấy sự bình yên. Họ không thể tận hưởng những thứ xa hoa ấy. Những linh hồn tội nghiệp, họ thậm chí còn không biết phải làm gì với đôi bàn tay mình, và phải dồn hết tâm trí để tránh giẫm lên chúng. Quan tòa đã làm hết sức có thể trong hoàn cảnh ấy. Ông bảo chủ quán trọ dành riêng cả một tầng cho họ, và dặn phải cung cấp mọi thứ họ muốn rồi ghi hết vào sổ của thành phố. Quan tòa còn tặng mỗi người một con ngựa cùng đầy đủ trang bị; điều đó khiến họ choáng ngợp trong niềm kiêu hãnh, vui sướng và kinh ngạc đến mức không thốt nên lời; vì trong đời mình, họ chưa bao giờ mơ tới sự giàu sang như thế này, và lúc đầu không thể tin rằng những con ngựa kia là thật chứ không phải sẽ tan biến thành sương khói rồi bay mất. Họ không thể dứt tâm trí khỏi những vẻ tráng lệ đó, và luôn cố lái câu chuyện sang hướng khác để lồng chuyện con cái vào, để họ có thể nói “con ngựa của tôi” ở đây, “con ngựa của tôi” ở kia và ở khắp mọi nơi, rồi nhấm nháp những từ ngữ ấy, liếm mép vẻ đắc ý, rồi đứng dạng chân, móc ngón tay cái vào nách, và cảm thấy như Thiên Chúa khi Ngài nhìn ra những đội tàu chòm sao của mình đang cày xới chiều sâu khủng khiếp của không gian và suy ngẫm với sự thỏa mãn rằng chúng là của Ngài—tất cả đều là của Ngài. Chà, họ là những đứa trẻ già hạnh phúc nhất và giản dị nhất mà người ta từng thấy.

Vào giữa buổi chiều, thành phố tổ chức một bữa tiệc lớn đãi Đức Vua và Joan, cùng với triều đình và Bộ chỉ huy tối cao; và gần giữa bữa tiệc, người ta cho gọi cha D’Arc và Laxart đến, nhưng họ không dám lộ diện cho đến khi được hứa là họ có thể ngồi ở một ban công, chỉ riêng mình họ, để nhìn thấy mọi thứ mà không bị quấy rầy. Và thế là họ ngồi đó, nhìn xuống khung cảnh lộng lẫy, và xúc động đến trào nước mắt khi thấy những vinh dự khó tin được dành cho đứa con gái nhỏ bé của mình, và thấy nàng ngồi đó ngây thơ, thanh thản, không chút sợ hãi giữa những vinh quang chói lòa đang đổ dồn lên nàng.

Nhưng cuối cùng, sự thanh thản ấy cũng bị phá vỡ. Phải, nàng đã chịu đựng được sự căng thẳng của bài diễn văn đầy ân cần của Đức Vua; của những lời tán dương từ D’Alencon và từ vị Bastard; thậm chí cả tiếng sấm rền của La Hire, điều đã làm khuấy đảo cả khán phòng; nhưng rốt cuộc, như tôi đã nói, họ đã tạo ra một lực tác động quá mạnh đối với nàng. Bởi vì khi kết thúc, Đức Vua giơ tay ra hiệu giữ im lặng, và chờ đợi như thế, với bàn tay giơ lên, cho đến khi mọi âm thanh tắt ngấm và không gian tĩnh mịch đến mức người ta gần như có thể cảm nhận được sự im lặng ấy, nó sâu thẳm đến nhường nào. Rồi từ một góc xa xăm của cái không gian mênh mông đó, một giọng hát ai oán vang lên, và trong những âm điệu vô cùng dịu dàng, ngọt ngào và phong phú, bài hát cũ kỹ, giản dị của chúng tôi “L’Arbre Fee Bourlemont!” trôi bồng bềnh qua sự tĩnh lặng đầy mê hoặc ấy, và rồi Joan gục ngã, đưa tay che mặt và khóc. Phải, bạn thấy đấy, trong một khoảnh khắc, mọi sự xa hoa và tráng lệ tan biến, và nàng lại trở thành một đứa trẻ nhỏ chăn cừu với những đồng cỏ yên bình trải rộng xung quanh, còn chiến tranh, vết thương, máu và cái chết cùng sự điên cuồng, hỗn loạn của chiến trận chỉ là một giấc mơ. À, điều đó cho bạn thấy sức mạnh của âm nhạc, kẻ ảo thuật của những nhà ảo thuật, kẻ chỉ cần nhấc đũa phép lên và thốt ra lời thần chú bí ẩn của mình thì mọi sự thật đều tan biến và những bóng ma trong tâm trí bạn hiện ra trước mắt bạn bằng xương bằng thịt.

Đó là sự sáng tạo của Đức Vua, sự ngạc nhiên ngọt ngào và thân thương đó. Quả thật, trong bản tính của Ngài ẩn chứa những điều tốt đẹp, dù người ta hiếm khi nhìn thấy, bởi gã Tremouille đầy mưu mô và những kẻ khác luôn đứng chắn ánh sáng, còn Ngài thì cứ lười biếng chấp nhận sự an nhàn để tránh né những rắc rối, tranh luận và mặc cho bọn chúng muốn làm gì thì làm.

Khi đêm xuống, chúng tôi - đội quân của Domremy thuộc bộ tham mưu cá nhân - đã ở cùng cha và chú của nàng tại quán trọ, trong phòng riêng của họ, vừa nhâm nhi những thức uống nồng đượm, vừa bắt đầu một cuộc trò chuyện dân dã về Domremy và những người hàng xóm, thì một kiện hàng lớn từ Joan gửi đến để giữ hộ cho đến khi nàng đến; và chẳng bao lâu sau chính nàng cũng đến, đuổi đội hộ vệ đi, nói rằng nàng sẽ ở một trong những căn phòng của cha mình và ngủ dưới mái nhà của ông, để được trở về nhà một lần nữa. Chúng tôi, những thành viên trong tham mưu, đứng dậy theo phép lịch sự cho đến khi nàng bảo chúng tôi ngồi xuống. Sau đó nàng quay lại và thấy hai ông lão cũng đã đứng dậy, đang đứng một cách lúng túng, không ra dáng quân đội gì cả; điều đó làm nàng muốn cười, nhưng nàng nín lại vì không muốn làm họ tổn thương; rồi nàng đưa họ về chỗ ngồi, rúc người vào giữa họ, cầm lấy tay của mỗi người đặt trên đầu gối mình và đan tay mình vào đó, rồi nói:

“Bây giờ chúng ta sẽ không còn nghi thức gì nữa, hãy cứ là người thân và bạn chơi như những ngày xưa; vì con đã xong việc với những cuộc chiến tranh lớn rồi, và hai người sẽ đưa con về nhà với hai người, và con sẽ thấy—” Nàng dừng lại, và trong một thoáng, gương mặt hạnh phúc của nàng trở nên trầm tư, như thể một nghi ngờ hoặc linh cảm vừa thoáng qua tâm trí; rồi nó lại sáng bừng lên, và nàng nói, với niềm khao khát mãnh liệt, “Ôi, giá như ngày ấy đến ngay và chúng ta có thể khởi hành!”

Người cha già ngạc nhiên, nói:

“Này con, con nghiêm túc đấy à? Con sẽ từ bỏ những kỳ tích khiến con được mọi người ca tụng khi vẫn còn bao vinh quang để giành lấy sao; và con sẽ rời bỏ tình đồng chí cao quý với các vương công và tướng lĩnh để trở lại làm một dân làng lam lũ và chẳng là ai cả ư? Thật chẳng hợp lý chút nào.”

“Không,” chú Laxart nói, “thật kinh ngạc khi nghe điều đó, và quả thật không thể hiểu nổi. Nghe con bé nói nó sẽ ngừng làm lính còn lạ lùng hơn cả khi nghe nó nói nó sẽ bắt đầu; và ta, người đang nói chuyện với con đây, có thể khẳng định trong sự thật rằng đó là lời lạ lùng nhất mà ta từng được nghe cho đến ngày hôm nay. Ta ước gì điều đó có thể được giải thích.”

“Chẳng có gì khó cả,” Joan nói. “Con chưa bao giờ thích vết thương và đau khổ, cũng chẳng được tạo ra để gây ra chúng; và những cuộc cãi vã luôn khiến con đau lòng, còn tiếng ồn ào và hỗn loạn thì trái với ý thích của con, vì bản tính của con là hướng về sự bình yên, tĩnh lặng và tình yêu đối với mọi sự sống; và với bản tính như vậy, làm sao con có thể chịu đựng được khi nghĩ đến chiến tranh, máu đổ, nỗi đau đi kèm với chúng, cùng nỗi buồn và sự tang tóc theo sau? Nhưng thông qua các thiên thần của Người, Chúa đã đặt lên vai con những mệnh lệnh trọng đại, và làm sao con có thể không vâng lời? Con đã làm những gì được yêu cầu. Chúa có ra lệnh cho con làm nhiều việc không? Không; chỉ có hai việc: giải tỏa cuộc vây hãm Orleans và làm lễ đăng quang cho Đức Vua tại Rheims. Nhiệm vụ đã hoàn thành, và con được tự do. Đã bao giờ một người lính tội nghiệp ngã xuống trước mắt con, dù là bạn hay thù, mà con lại không cảm thấy nỗi đau đó trong cơ thể mình, và nỗi đau thương của gia đình họ trong chính trái tim mình không? Không, chưa từng có một ai; và ôi, thật hạnh phúc biết bao khi biết rằng con đã được giải thoát, và rằng con sẽ không còn phải chứng kiến những điều tàn khốc này hay chịu đựng những tra tấn về tinh thần nữa! Vậy tại sao con không thể trở về làng và sống như trước kia? Thật là thiên đường! Và hai người lấy làm lạ khi con khao khát điều đó. À, hai người là đàn ông—chỉ là đàn ông thôi! Mẹ con sẽ hiểu.”

Họ không biết phải nói gì; nên ngồi lặng im một lúc, trông khá ngơ ngác. Rồi lão D’Arc nói:

“Phải, mẹ con—điều đó đúng thật. Ta chưa từng thấy người đàn bà nào như thế. Bà ấy cứ lo lắng, lo lắng mãi; thức trắng đêm, cứ nằm đó suy nghĩ—nghĩa là, lo lắng; lo lắng về con. Và khi những cơn bão đêm gào thét, bà ấy rên rỉ và nói: ‘Ôi, Chúa thương xót con bé, nó đang ở ngoài kia cùng với những người lính tội nghiệp ướt sũng của mình.’ Và khi chớp giật sấm rền, bà ấy vò tay và run rẩy, nói: ‘Nó giống như những khẩu đại bác đáng sợ và tia chớp, và ngoài kia, nơi nào đó, con bé đang lao vào những họng súng đang phun lửa, mà tôi thì không ở đó để bảo vệ nó.’”

“Ôi, mẹ tội nghiệp của con, thật đáng thương, thật đáng thương!”

“Phải, một người đàn bà lạ lùng nhất mà ta đã nhận thấy rất nhiều lần. Khi có tin thắng trận và cả làng phát điên vì tự hào và vui sướng, bà ấy chạy đôn chạy đáo trong cơn điên loạn cho đến khi biết được một điều duy nhất bà ấy quan tâm—rằng con vẫn an toàn; rồi bà ấy quỳ xuống đất và ca ngợi Chúa chừng nào còn hơi thở trong thân xác; và tất cả đều là vì con, vì bà ấy chẳng bao giờ nhắc đến trận đánh lấy một lần. Và lúc nào bà ấy cũng nói: ‘Giờ thì xong rồi—giờ thì nước Pháp đã được cứu—giờ thì con bé sẽ về nhà’—và lần nào cũng thất vọng rồi đi quanh với nỗi sầu muộn.”

“Đừng, cha! Điều đó làm tan nát trái tim con. Con sẽ rất hiếu thảo với mẹ khi con về nhà. Con sẽ làm việc thay mẹ, sẽ là niềm an ủi của mẹ, và mẹ sẽ không còn phải chịu khổ vì con nữa.”

Còn vài câu chuyện kiểu này nữa, rồi chú Laxart nói:

“Con đã làm theo ý Chúa, con thân yêu, và đã hoàn thành nhiệm vụ; đó là sự thật, và không ai có thể phủ nhận; nhưng còn Đức Vua thì sao? Con là người lính giỏi nhất của Ngài; nếu Ngài ra lệnh cho con ở lại thì sao?”

Đó là một đòn giáng mạnh—và thật đột ngột! Joan mất một hoặc hai giây mới hoàn hồn sau cú sốc đó; rồi nàng nói, khá giản dị và cam chịu:

“Đức Vua là Chúa công của con; con là bề tôi của Ngài.” Nàng im lặng và trầm tư một lúc, rồi nàng tươi tỉnh lại và nói, vui vẻ: “Nhưng hãy xua đuổi những suy nghĩ đó đi—giờ không phải là lúc cho chúng. Hãy kể cho con nghe về chuyện ở nhà đi.”

Thế là hai ông lão cứ thế nói mãi; nói về mọi thứ và mọi người trong làng; và thật là vui tai khi nghe những điều ấy. Joan, từ lòng tốt của mình, đã cố gắng lôi kéo chúng tôi vào cuộc trò chuyện, nhưng tất nhiên là thất bại. Nàng là Tổng tư lệnh, chúng tôi là những kẻ vô danh; tên tuổi nàng là vĩ đại nhất nước Pháp, chúng tôi là những nguyên tử vô hình; nàng là bạn đồng hành của các vương công và anh hùng, chúng tôi là những kẻ thấp hèn và vô danh; nàng giữ cấp bậc cao hơn tất cả các Nhân vật và tất cả các Quyền lực trên khắp thế giới này, bằng quyền năng từ việc nhận sứ mệnh trực tiếp từ Chúa. Tóm lại, nàng là JOAN OF ARC—và khi nói ra điều đó, mọi thứ đều đã được nói hết. Với chúng tôi, nàng là thánh thiêng. Giữa nàng và chúng tôi là một vực thẳm không thể bắc cầu mà từ ngữ ấy ngụ ý. Chúng tôi không thể thân mật với nàng. Không, chính các bạn cũng có thể thấy rằng điều đó là không thể.

Thế mà nàng cũng thật con người, thật tốt bụng, tử tế, đáng yêu, trìu mến, vui vẻ, duyên dáng, không hề hư hỏng và cũng không hề kiểu cách! Đó là tất cả những từ tôi nghĩ ra lúc này, nhưng chúng vẫn chưa đủ; không, chúng quá ít ỏi, nhạt nhẽo và thiếu thốn để diễn tả hết, hay thậm chí là một nửa. Những ông lão giản dị ấy không nhận ra được tầm vóc của nàng; họ không thể; họ chưa từng biết ai ngoài con người, nên họ không có thước đo nào khác để đánh giá nàng. Đối với họ, sau khi sự ngại ngùng ban đầu qua đi, nàng chỉ là một cô gái—chỉ vậy thôi. Thật đáng kinh ngạc. Đôi khi người ta cảm thấy rùng mình khi thấy họ bình thản, dễ dàng và thoải mái như thế nào khi ở bên nàng, và nghe họ nói chuyện với nàng hệt như cách họ nói với bất kỳ cô gái nào khác ở Pháp.

Tại sao, lão Laxart già nua giản dị đó lại ngồi đó và lải nhải câu chuyện tẻ nhạt và trống rỗng nhất mà người ta từng nghe, và cả lão lẫn cha D’Arc đều không mảy may nghĩ đến sự thiếu phép tắc, hay nghi ngờ rằng câu chuyện ngớ ngẩn đó chẳng có gì ngoài một lịch sử trang trọng và giá trị. Chẳng có chút giá trị nào trong đó cả; và trong khi họ cho rằng nó thật đau lòng và bi thương, thì thực ra nó chẳng bi thương chút nào, mà lại thực sự nực cười. Ít nhất thì đối với tôi là vậy, và giờ vẫn vậy. Thật ra, tôi biết là vậy, vì nó làm Joan bật cười; và câu chuyện càng sầu thảm thì càng làm nàng cười nhiều hơn; và Paladin nói rằng chính anh ta cũng có thể đã cười nếu không có nàng ở đó, và Noel Rainguesson cũng nói tương tự. Đó là câu chuyện về lão Laxart đi dự đám tang ở Domremy hai hoặc ba tuần trước. Lão bị các vết đốm khắp mặt và tay, và lão nhờ Joan bôi thuốc chữa lành lên đó, và trong khi nàng đang làm, đang an ủi lão, và cố gắng nói những lời cảm thông, thì lão kể cho nàng nghe chuyện đó đã xảy ra như thế nào. Và trước hết lão hỏi nàng có nhớ con bê đực đen mà nàng để lại khi nàng đi xa không, và nàng nói có chứ, nó thật đáng yêu, và nàng yêu nó lắm, nó có khỏe không?—và cứ thế dìm lão trong những câu hỏi về sinh vật đó. Và lão nói nó đã là một con bò đực trẻ rồi, và rất tinh nghịch; và lão định sẽ giúp một tay chính tại đám tang; và nàng nói: “Con bò đực ư?”, và lão đáp: “Không, là chính tôi”; nhưng bảo rằng con bò đực cũng có góp mặt, nhưng không phải vì nó được mời, vì nó đâu có được mời; nhưng dù sao thì nó cũng ở tít bên kia Cây Tiên, và ngủ quên trên cỏ với bộ quần áo tang ngày Chủ nhật của lão, cùng một mảnh vải đen dài trên mũ rũ xuống lưng; và khi thức dậy, lão nhìn mặt trời thì thấy đã quá trễ, chẳng còn một giây nào để lãng phí; lão nhảy dựng lên vì lo lắng tột độ, và thấy con bò đực trẻ đang gặm cỏ ở đó, nghĩ rằng có lẽ lão có thể cưỡi nó đi một đoạn để tiết kiệm thời gian; nên lão buộc một sợi dây quanh người con bò để giữ, và đeo một cái dây cương để lái, rồi nhảy lên và bắt đầu; nhưng tất cả đều mới mẻ với con bò, và nó không hài lòng với việc đó, nó chạy loăng quăng, rống lên, chồm dậy và nhảy nhót, còn chú Laxart thì đã thỏa mãn rồi, muốn xuống để đi bằng con bò khác hoặc cách nào đó yên tĩnh hơn, nhưng lão không dám thử; và trời cũng trở nên rất nóng đối với lão, lại còn phiền toái và mệt mỏi, chẳng ra dáng ngày Chủ nhật chút nào; nhưng rồi chẳng bao lâu sau, con bò đực mất hết kiên nhẫn, chạy lao xuống dốc với cái đuôi dựng ngược và thở hắt ra theo cách kinh khủng nhất; và ngay ở rìa làng, nó hất đổ mấy tổ ong, và lũ ong túa ra tham gia vào chuyến du ngoạn, bay lượn thành một đám mây đen gần như che khuất cả hai người kia, rồi chích cả hai, đâm, xiên và châm chúng, khiến họ rống lên và hét lên, hét lên và rống lên; và thế là họ lao như cuồng phong qua làng, lao thẳng vào chính giữa đám tang, làm phân tán đoạn đó, giẫm lên đó, và những người còn lại thì tản ra và bỏ chạy la hét theo mọi hướng, mỗi người trên mình đều phủ một lớp ong, và đám tang đó chẳng còn lại mảnh vải nào ngoài cái xác chết; và cuối cùng con bò đực lao xuống sông và nhảy xuống, và khi họ vớt chú Laxart lên thì lão suýt chết đuối, và mặt lão trông như một chiếc bánh pudding với nho khô trong đó. Và rồi lão quay lại, gã ngốc già này, nhìn một hồi lâu vẻ đờ đẫn vào Joan nơi nàng đang úp mặt vào chiếc gối, dường như sắp chết vì cười, và nói:

“Con nghĩ nó đang cười cái gì thế nhỉ?”

Và lão D’Arc đứng đó nhìn nàng cùng một vẻ, cứ gãi đầu một cách lơ đãng; nhưng đành bỏ cuộc, và nói rằng lão không biết—“chắc hẳn phải có chuyện gì đó xảy ra khi chúng ta không để ý.”

Phải, cả hai ông già đó đều nghĩ rằng câu chuyện kia thật bi thương; trong khi theo tâm trí tôi thì nó hoàn toàn nực cười, và chẳng có chút giá trị nào đối với ai cả. Lúc đó tôi thấy vậy, và bây giờ tôi vẫn thấy vậy. Và nói về lịch sử, thì nó chẳng giống lịch sử chút nào; vì nhiệm vụ của lịch sử là cung cấp những sự kiện nghiêm túc và quan trọng có tính giáo huấn; trong khi sự kiện lạ lùng và vô ích này chẳng dạy bảo điều gì cả; chẳng có gì mà tôi có thể thấy, ngoại trừ việc đừng cưỡi bò đi dự đám tang; và chắc chắn không ai suy nghĩ chín chắn lại cần phải được dạy điều đó.

Nguồn: Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.