Ngoài dự liệu của người Anh, thời gian kéo dài đến cuối năm 1874, thấy Áo không có ý định tiếp tục chiến tranh, có lẽ vì lo lắng hậu phương không ai chu cấp, hoặc vội vã về nhà đón Giáng sinh, chính phủ Sa Hoàng liền quyết đoán lựa chọn thỏa hiệp.
Ngày 18 tháng 12 năm 1874, Áo, Nga và Ottoman ký kết 《Điều ước Cận Đông》 tại Luân Đôn.
Nội dung điều ước:
1, Đế quốc Ottoman thừa nhận thất bại trong chiến tranh và chịu trách nhiệm cho cuộc chiến này;
2, Trả lại Vương quốc Jerusalem, chuyển nhượng chủ quyền bán đảo Ả Rập cho Áo như một khoản bồi thường (Lưu ý: Không bao gồm khu vực Lưỡng Hà, nhưng có bao gồm vùng Kuwait);
3, Cắt nhượng vùng Kavkaz cho Đế quốc Nga, bồi thường cho Nga chi phí chiến tranh hai triệu rúp;
4, Mở cửa eo biển Biển Đen thành eo biển tự do, bất kể thời gian nào và trong bất kỳ tình huống nào, cả ba nước đều không được phong tỏa eo biển;
5, Hải quân Áo từ nay giải trừ phong tỏa bờ biển Đế quốc Ottoman;
6, Điều ước có hiệu lực từ ngày ký kết, hai bên trao đổi tù binh trong vòng một tháng và rút quân khỏi lãnh thổ đối phương trong vòng ba tháng;
...
Điều ước được gửi đến cung điện Vienna, Franz lập tức phê chuẩn. Bản thân Đế quốc Ottoman đã là một kẻ nghèo xơ xác, cắt đất là được, đòi bồi thường chiến tranh chỉ là lãng phí thời gian.
Người Nga cố gắng tranh thủ lâu như vậy, cuối cùng cũng chỉ kiếm được hai triệu rúp tiền bồi thường. Đối với cá nhân, đây là một khoản tiền lớn, nhưng đối với quốc gia thì không đáng nhắc đến.
Điều khiến người ta bàn tán xôn xao nhất trong cuộc chiến này không phải là sự xuất hiện chớp nhoáng của đội phi thuyền, cũng không phải là liên quân đánh đâu thắng đó, mà là phí chuyển nhượng chủ quyền bán đảo Ả Rập với cái giá trên trời.
Mặc dù điều ước không ghi rõ số tiền cụ thể, nhưng thông tin Áo đòi ba tỷ thần tệ bồi thường vẫn bị báo chí phanh phui.
Tít báo này được đám đông hóng chuyện đặc biệt yêu thích. Từ khoản bồi thường ba tỷ trên trời đến chủ quyền bán đảo Ả Rập, giá trị chênh lệch không chỉ gấp mười lần.
Chuyện trà dư tửu hậu để bàn tán thì được, người bình thường cũng không cho rằng bán đảo Ả Rập chỉ đáng giá bấy nhiêu tiền, càng không ai tin Áo có thể bồi thường nhiều tiền đến thế.
Hét giá trên trời, trả giá trên đất. Vốn dĩ chỉ là thủ đoạn thông thường trong đàm phán, kết quả cuối cùng khác xa so với yêu cầu ban đầu là điều bình thường.
Franz không khỏi may mắn vì đã không yêu cầu ghi số tiền bồi thường vào điều ước, nếu không chủ đề này có thể tranh cãi đến thế kỷ sau.
Là người chiến thắng trong cuộc chiến Cận Đông, lợi nhuận lớn nhất của Áo không phải là mở rộng lãnh thổ, cũng không phải lợi ích kinh tế, mà là sự gia tăng ảnh hưởng về tôn giáo.
Chiến công thu phục Jerusalem đủ để Franz lưu danh trong lịch sử tôn giáo, kéo theo danh hiệu của ông cũng dài thêm, ví dụ như: "Người thu phục Thánh địa", "Thánh đồ", "Người bảo vệ thế giới Cơ Đốc"...
Lần này, Giáo triều Roma cực kỳ hào phóng, ban phát danh hiệu vinh dự không cần tiền. Không chỉ hoàng đế có, quan binh tham gia chiến dịch thu phục Jerusalem cũng không bị bỏ sót, tập thể được trao tặng danh xưng vinh dự "Người thu phục Thánh địa".
Nếu không phải e ngại phản ứng của chính phủ Vienna, có lẽ Giáo triều Roma còn phong thánh kỵ sĩ. Pius IX đã dẫn một đám đại giáo chủ đích thân đến Jerusalem, chờ Franz đến đội miện, vì phục hưng giáo triều mà họ cũng liều mạng.
Đều là bị ép buộc mà ra. Những năm gần đây, Giáo triều Roma bị người Pháp chèn ép rất thảm, ngay cả tổng bộ Giáo triều Vatican cũng bị người ta khống chế.
Đừng nói đặc quyền, ngay cả Giáo hoàng cũng phải tuân thủ luật quản lý tôn giáo của người Pháp. Napoléon III dọa khỉ giết gà, còn tống giam Hồng Y giáo chủ vi phạm pháp luật vào ngục, hoàn toàn không nể mặt giáo triều.
Bây giờ chạy đến Jerusalem thành lập giáo khu cũng là bất đắc dĩ. Ít nhất Franz đã cho họ những điều kiện ưu đãi hơn, có thể làm chủ trên mảnh đất một mẫu ba sào của giáo triều.
Tình hình khu vực Trung Đông phức tạp, không có người gánh vác khó khăn thì không được. Giáo khu Jerusalem mở lại, tương lai sẽ có người gánh tội thay.
Tại cung điện Vienna, Thủ tướng Felix báo cáo: "Chiến dịch Jerusalem lần này chủ yếu là bao vây, trong khu thành không có bùng nổ chiến sự lớn, kiến trúc không bị phá hủy nhiều.
Vương cung đã bắt đầu sửa chữa, nhiều nhất hai tháng là có thể hoàn thành, sẽ không ảnh hưởng đến lễ đội miện vào tháng 4 năm sau.
Tuy nhiên, thời gian gần đây, xung đột tôn giáo ở địa phương tương đối nhiều. Mặc dù chúng ta đã thả người Ottoman về nước, vẫn có những kẻ lọt lưới đang phá hoại.
Chính phủ chuẩn bị áp dụng chiến dịch trấn áp trị an nghiêm khắc, thực hiện đăng ký tên thật tại chỗ, nghiêm tra những phần tử lưu lại trái phép và phá hoại."
...
Thu phục Jerusalem không phải là xong chuyện, Franz vẫn còn thiếu bước cuối cùng để hoàn thành. Về mặt pháp lý, phải đến Jerusalem đội miện mới được coi là quân chủ hợp pháp thực sự của Vương quốc Jerusalem.
Franz hỏi: "Người của giáo triều thể hiện thế nào, có ai đáng để nâng đỡ không?"
Suy nghĩ một lúc, Thủ tướng Felix đáp: "Họ thể hiện đúng mực, có vẻ như bị Napoléon III giày vò sợ rồi, về cơ bản hoạt động trong phạm vi đã thỏa thuận trước đó.
Theo tình hình hiện tại, các Hồng Y giáo chủ đều không khác biệt mấy, nâng đỡ ai cũng như nhau. Tiếp theo là công tác trùng tu Jerusalem, đó mới là lúc kiểm tra năng lực của họ."
Công tác trùng tu Jerusalem không chỉ là sửa chữa các công trình bị hư hại, mà còn là xây dựng lại các kiến trúc cổ bị Đế quốc Ottoman phá hủy.
Về phương diện này, giáo triều có tiếng nói nhất, họ có tài liệu ghi chép đầy đủ. Trùng tu thánh địa không phải là chuyện của một quốc gia, Franz không định làm kẻ ngốc này.
Ở châu Âu, Giáo triều Roma là phù hợp nhất để làm việc này, vì vậy việc huy động vốn và xây dựng lại thành phố cũng được giao cho giáo triều.
Sau khi xây dựng lại Thánh địa, Giáo khu Jerusalem cũng cần một lãnh tụ tôn giáo có trọng lượng, phụ trách công tác giáo hóa tín ngưỡng tại địa phương, người không có năng lực thì không được.
Franz gật đầu: "Giao toàn quyền công tác xây dựng lại Jerusalem cho giáo triều. Nếu họ làm tốt, có thể giao luôn cả công tác quản lý.
Chúng ta phụ trách thu thuế và trị an là được, Áo không thiếu một thành phố nhỏ. Trọng tâm công tác của chính phủ vẫn là bồi dưỡng đất đai, khu vực Trung Đông bị cát xâm lấn nghiêm trọng, nếu không quản lý thì chẳng bao lâu sẽ hoàn toàn biến thành sa mạc.
Nếu Thánh địa biến thành sa mạc trong tay Đế quốc Ottoman thì không sao, nhưng nếu nó biến thành sa mạc trong tay chúng ta, thì chúng ta sẽ là tội đồ.
Chính phủ phải nhanh chóng tổ chức nhân sự biến đất canh tác thành rừng núi, thảo nguyên, đồng thời trồng các loại cây chắn gió cố định cát trên vùng đất đã bị sa mạc hóa. Vốn chủ yếu từ tiền quyên góp của các tín đồ, hoặc trực tiếp khuyến khích các tín đồ hành hương tự mình ra tay."
Franz không mấy hứng thú với Jerusalem. Thành phố cổ kính này dù phát triển cũng chỉ là một thành phố du lịch, nhưng tài nguyên dầu mỏ ở khu vực Trung Đông thì ông không thể bỏ qua.
Bảo vệ Thánh địa chỉ là trên danh nghĩa, trên thực tế vẫn là để đặt nền móng cho việc khai thác tài nguyên dầu mỏ sau này. Môi trường tự nhiên ở Trung Đông bây giờ không tồi tệ như sau này, chỉ cần bảo vệ một chút sẽ không xảy ra tình trạng nước đắt hơn dầu.
Ngược lại, cũng không cần bỏ ra cái giá quá lớn, sau khi cư dân bản địa bị di dời, đất đai được bồi dưỡng toàn diện, vấn đề sa mạc hóa sẽ được giải quyết hơn một nửa.
Lại kêu gọi các tín đồ hành hương tham gia các hoạt động ý nghĩa như trồng cây gây rừng, mỗi năm tăng thêm vài trăm km vuông ốc đảo thì vẫn có thể làm được.
Mọi người tự nhiên không biết Franz đang tính toán gì, nhưng điều này không ảnh hưởng đến việc mọi người thi hành. Jerusalem đã thuộc về Áo, vì thể diện, chính phủ Vienna không thể để địa phương biến thành sa mạc.
Bộ trưởng thuộc địa Stephen đề nghị: "Bệ hạ, bán đảo Ả Rập cũng tồn tại vấn đề sa mạc hóa đất đai nghiêm trọng, Bộ thuộc địa đề nghị di dời người dân địa phương, đồng thời tiến hành bồi dưỡng đất đai."
Franz hài lòng gật đầu, khả năng học tập thật nhanh. Tình trạng sa mạc hóa đất đai ở bán đảo Ả Rập còn nghiêm trọng hơn, độ khó thống trị cũng lớn hơn, nhưng đây không phải là trọng điểm, mấu chốt là các bộ lạc du mục trên bán đảo rất khó thống trị.
Bây giờ Áo muốn khống chế bán đảo Ả Rập, chủ yếu là vì vị trí chiến lược của bán đảo, chứ không hề trông cậy vào việc cướp đoạt tài sản từ bán đảo.
Các bộ lạc du mục trên bán đảo nghèo xơ xác, chủ yếu sống bằng nghề nuôi lạc đà, cho dù phái người đi thu thuế, cũng chưa chắc nuôi nổi các quan thuế.
Nếu bỏ mặc không quan tâm, chỉ cần có người âm thầm chống lưng, những bộ lạc này sẽ đe dọa sự thống trị của Áo đối với địa phương. Trong bối cảnh này, việc di dời các bộ lạc đi nơi khác chắc chắn là phương thức giảm chi phí thống trị cao nhất.
Franz trả lời: "Bán đảo Ả Rập đã bị khai thác quá mức từ lâu, để bảo vệ môi trường tự nhiên, quả thực cần tiến hành bồi dưỡng trong vài chục năm.
Nhưng bán đảo Ả Rập cũng không nhỏ, trên bán đảo cũng có không ít nguồn nước, muốn làm được điều này không dễ dàng, Bộ thuộc địa đã có kế hoạch tốt chưa?"
Diện tích bán đảo Ả Rập không hề nhỏ, dù đất rộng người thưa, ít nhất cũng có hai, ba triệu nhân khẩu. Không thể so sánh với vùng Jerusalem, muốn di dời người dân địa phương đi nơi khác không phải là chuyện đơn giản.
(Lưu ý: Không tính khu vực đông dân cư lưu vực sông Euphrates, Tigris, phần này không nằm trong điều ước)
Bộ trưởng thuộc địa Stephen giải thích: "Bệ hạ, bán đảo Ả Rập khô hạn thiếu nước, nhân khẩu phân bố đều tập trung dọc theo nguồn nước, chúng ta chỉ cần khống chế nguồn nước là đủ.
Bộ thuộc địa có kế hoạch giữ lại một bộ phận thanh niên trai tráng có sức lao động để mang đến lục địa châu Phi khai thác mỏ và xây đường sắt, còn lại trục xuất toàn bộ về Đế quốc Ottoman."
Thiếu nước là khuyết điểm lớn nhất của bán đảo Ả Rập, một khi mất nguồn nước, các bộ lạc du mục cũng không thể du mục được nữa.