Những chuyến phiêu lưu gian khó

Lượt đọc: 639 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
PHỤ LỤC. A. SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ NGƯỜI MOOCMƠN.

❊ ❊ ❊

Đạo Moocmơn mới chỉ có tuổi đời chừng bốn mươi năm, nhưng hành trình của nó từ buổi sơ khai đã ngập tràn sóng gió cùng phiêu lưu, và có lẽ sẽ tiếp tục như thế cho đến tận cùng. Các tín đồ của đạo này từng bị săn lùng và xua đuổi từ đầu này chí cuối đất nước, hệ quả là trong suốt nhiều năm trời, họ căm ghét tất cả những kẻ “Ngoại giáo” một cách mù quáng và bằng tất cả sức lực của mình. Joseph Smith, người tìm ra cuốn Sách Moocmơn và là giáo chủ khai sáng tôn giáo này, đã bị đuổi phăng từ tiểu bang này sang tiểu bang khác cùng với những tấm đồng huyền bí cùng mấy hòn đá màu nhiệm dùng để đọc chữ khắc trên đó. Cuối cùng, ông ta cũng đặt nền móng cho “hội thánh” của mình ở Ohio, và Brigham Young đã gia nhập. Những kẻ láng giềng bắt đầu giở trò khủng bố, và làn sóng bội giáo khởi phát. Brigham vẫn kiên định với đức tin và làm việc cật lực. Ông chặn đứng sự đào ngũ. Ông còn làm được nhiều hơn thế—ông thu nạp thêm các tín đồ giữa lúc dầu sôi lửa bỏng. Sự sủng ái và vị thế của ông trong lòng các huynh đệ ngày một dâng cao. Ông được suy tôn làm một trong Mười Hai Tông đồ của Hội thánh. Chẳng mấy chốc, ông đã chiến đấu để giành lấy một chức vị cao hơn và có quyền lực hơn—Chủ tịch của nhóm Mười Hai. Lũ láng giềng lại nổi dậy tống cổ người Moocmơn khỏi Ohio, buộc họ phải dạt về Missouri. Brigham đồng hành cùng họ. Người Missouri lại tiếp tục truy đuổi, thế là họ đành rút lui về Nauvoo, Illinois. Họ phất lên ở chốn đó, dựng nên một ngôi đền phảng phất nét uy nghi kiến trúc và tạo được chút tiếng tăm ở một vùng đất mà một tòa án gạch với mái vòm bằng thiếc cùng một cái lầu vọng cách được ngước nhìn với vẻ tôn kính kinh hoàng. Thế nhưng, người Moocmơn lại bị lũ láng giềng quấy nhiễu và vây hãm một phen nữa. Mọi lời tuyên cáo mà Joseph Smith có thể tung ra nhằm lên án chế độ đa thê và bác bỏ nó như một thứ hoàn toàn phản-Moocmơn đều vô tác dụng; người dân trong vùng, ở cả hai bờ sông Mississippi, vẫn khăng khăng rằng người Moocmơn đang thực hành chế độ đa thê, và không chỉ có đa thê mà còn đủ mọi thứ đồi bại trên đời. Brigham từ chuyến truyền giáo ở Anh trở về, nơi ông đã lập ra một tờ báo Moocmơn, mang theo vài trăm tín đồ mới quy đạo nhờ lời giảng của ông. Sức ảnh hưởng của ông giữa các huynh đệ tăng lên sau mỗi bước đi. Cuối cùng, Nauvoo cũng bị lũ ngoại giáo từ Missouri và Illinois tràn vào xâm chiếm, còn Joseph Smith thì bị sát hại. Một tín đồ Moocmơn tên là Rigdon liền chễm chệ ngồi vào ghế Chủ tịch hội thánh và chính quyền Moocmơn thay cho Smith, thậm chí còn bày đặt tập tành thốt ra vài lời sấm truyền. Nhưng ngặt nỗi, một nhân vật vĩ đại hơn hắn đã xuất hiện. Brigham chớp lấy thời cơ ngàn vàng ấy, chẳng cần dựa vào thứ quyền uy nào ngoài trí tuệ siêu việt, gan góc cùng ý chí sắt đá, đã hất cẳng Rigdon khỏi chiếc ghế cao quý để tự mình chiếm lấy. Ông còn làm được nhiều hơn thế. Ông trút một tràng nguyền rủa thậm tệ lên đầu Rigdon cùng các đồ đệ của hắn; ông phán quyết rằng những “lời sấm” của Rigdon chỉ là thứ phát ra từ quỷ dữ, và kết thúc bằng việc “giao nợ phia đạo tặc ấy cho Sa-tét hành hạ trong suốt một ngàn năm”—có lẽ là bản án dài kỷ lục từng được tuyên tại Illinois. Thiên hạ nhận ra kẻ cai trị thực thụ của mình. Họ lập tức bầu Brigham Young lên ngôi Chủ tịch với một tỉ lệ phiếu áp đảo tuyệt đối, và chưa bao giờ lay chuyển lòng trung thành dành cho ông kể từ ngày đó cho tới tận bây giờ. Brigham có tầm nhìn xa trông rộng—một tố chất mà có lẽ chẳng vị lãnh tụ Moocmơn nổi bật nào khác từng có được. Ông nhận ra rằng tự mình dắt díu nhau vào chốn hoang vu vẫn hơn là bị kẻ khác xua đuổi đi. Theo lệnh ông, bá tính gom góp những tài sản nghèo nàn rách rưới, quay lưng lại với quê hương nhà cửa, hướng mặt về miền hoang dã; và vào một đêm tháng Hai buốt giá, họ nối đuôi nhau thành một dòng người tang tóc băng qua dòng sông Mississippi đóng băng, được soi đường bởi thứ ánh sáng rực lửa phát ra từ ngôi đền đang bốc cháy của họ—nơi mà chính tay họ đã châm lửa thiêu rụi những món đồ thánh vật! Vài ngày sau, họ hạ trại ở rìa phía tây bang Iowa, để rồi nghèo đói, thiếu thốn, khát sữa, giá lạnh, bệnh tật, đau thương cùng sự kỳ thị tha hồ hoành hành, khiến không ít kẻ gục ngã và bỏ mạng—những vị thánh tử đạo đích thực, dù cho họ có từng là ai đi chăng nữa. Tàn quân ở lại đó suốt hai năm trời, trong khi Brigham cùng một nhóm nhỏ băng qua xứ sở để lập nên Thành phố Great Salt Lake, cố tình lựa chọn một mảnh đất nằm ngoài quyền sở hữu và tài phán của cái quốc gia Mỹ đáng ghét kia. Hãy ghi nhớ điều đó. Sự việc diễn ra vào năm 1847. Brigham dời dân của mình đến đó và vừa vặn ổn định chỗ ngồi thì tai họa lại ập xuống đầu. Cuối cùng thì chiến tranh cũng chấm dứt, và Mexico nhượng lại nơi trú ẩn của Brigham cho kẻ thù—hợp chủng quốc Hoa Kỳ! Năm 1849, người Moocmơn tự dựng lên một chính quyền “tự do độc lập” và lập ra “Bang Deseret” với Brigham Young làm thủ lĩnh. Nhưng ngay năm sau, Quốc hội Mỹ đã thẳng thừng phớt lờ và biến chốn toàn núi non, cây ngải đắng, kiềm và sự hoang vu tột cùng ấy thành “Lãnh thổ Utah”, đồng thời ban ơn cho Brigham làm Thống đốc nơi đó. Thế rồi suốt bao năm trời, dòng người di cư khổng lồ đổ xô qua các đồng bằng để đến California đã tràn qua xứ sở của người Moocmơn, thế nhưng hội thánh vẫn đứng vững trước sóng gió và trung thành tuyệt đối với lãnh chúa lẫn vị chúa tể của họ. Chẳng có cơn đói, cơn khát, sự bần hàn, nỗi đau thương, lòng căm ghét, sự khinh miệt hay thù hằn nào có thể đánh bật người Moocmơn ra khỏi đức tin và lòng trung kiên của họ; và ngay cả cơn khát vàng đã vắt kiệt tinh hoa tuổi trẻ lẫn sức lực của bao quốc gia cũng chẳng tài nào lôi kéo nổi họ! Đó chính là bài kiểm tra khắc nghiệt nhất. Một cuộc thử nghiệm có thể sống sót qua ngần ấy thứ chắc chắn phải là một thực thể ẩn chứa sức mạnh nội sinh vô cùng bền bỉ.

Thành phố Great Salt Lake phồn thịnh lên trông thấy, và Utah cũng vậy. Một trong những việc cuối cùng mà Brigham Young làm trước khi rời Iowa là bước lên bục giảng, hóa trang thành vị tiên tri Smith được tôn sủng và tiếc thương, rồi trao truyền dòng dõi tiên tri cùng toàn bộ phẩm giá, bổng lộc và quyền lực cho “Chủ tịch Brigham Young!”. Băng nhóm bá tính đã hoan hỉ nuốt trọn cái màn bịp bợm đạo đức giả ấy với một sự cuồng nhiệt điên cuồng, và quyền lực của Brigham từ đó được đóng dấu cẩn thận, vững như bàn thạch muôn đời. Chỉ vỏn vẹn năm năm sau, ông ta công khai đưa chế độ đa thê vào giáo lý của hội thánh, dựa trên cái cớ là một “mạc khải” mà ông ta bịa ra rằng đã được truyền tới Joseph Smith từ chín năm trước, mặc dù ai cũng rõ Joseph từng lên án đanh thép chế độ đa thê cho đến tận ngày ông nhắm mắt xuôi tay.

Giờ đây, Brigham đã trở thành một Andrew Johnson thứ hai trong bước khởi đầu nhỏ nhoi lẫn hành trình thăng tiến đều đặn trên nấc thang quyền lực quan lại của mình. Ông lần lượt trải qua đủ mọi vai trò: từ một tín đồ quèn trong hàng ngũ; nhà truyền giáo địa phương; nhà truyền giáo hải ngoại; biên tập viên kiêm nhà xuất bản; Tông đồ; Chủ tịch Hội đồng Tông đồ; Chủ tịch của toàn cõi Moocmơn, cả phần đời lẫn phần đạo; người kế nhiệm vị Joseph vĩ đại theo ý trời; “tiên tri”, “nhà hiền triết”, “sứ giả mạc khải”. Chẳng còn chiếc ngai vàng nào cao hơn thế để ông ta có thể với tới nữa, thế nên ông ta cứ thế nhún nhường với tay tóm lấy nó—ông tự xưng mình là một vị Thượng đế!

Ông ta lớn tiếng tuyên bố rằng mai sau mình sẽ có một thiên đường riêng, rằng ông ta sẽ là Thượng đế của cõi ấy, còn các bà vợ cùng lũ trẻ của ông ta sẽ là các nữ thần, vương tử và công chúa. Mọi tín đồ Moocmơn trung kiên sẽ được bước vào đó cùng gia đình mình, và sẽ được xếp hạng tước vị tùy thuộc vào số lượng vợ con mà họ sở hữu. Phỏng như một tín đồ nào đó hắt hơi buông xuôi khi chưa kịp tậu đủ số vợ con để ngẩng cao đầu ở thế giới bên kia, thì bất kỳ chiến hữu nào cũng có thể cưới giùm hắn vài cô vợ, đẻ giùm hắn dăm bẩy đứa con sau khi hắn đã quy tiên, và những chiến tích ấy sẽ được ghi nhận sòng phẳng vào tài khoản của hắn, giúp địa danh thiên quốc của hắn thăng hạng tương ứng.

Hãy nhớ cho kỹ rằng phần lớn người Moocmơn từ xưa đến nay vốn dĩ đều ngu dốt, khờ khạo, thuộc tầng lớp trí tuệ thấp kém, chẳng mảy may hiểu biết gì về thế giới và sự đời; và hãy nhớ rằng những người vợ của đám người này hẳn nhiên cũng đúc theo một khuôn mẫu ấy, còn con cái họ thì chắc chắn là những đại diện ưu tú cho sự kết hợp dở hơi đó; rồi hãy nhớ thêm rằng suốt bốn mươi năm ròng rã, những sinh linh ấy đã bị xua đuổi, xua đuổi, xua đuổi không thương tiếc! Bị truy sát, bị đánh đập, bị bắn hạ; bị nguyền rủa, bị khinh miệt, bị tước đoạt quốc tịch; bị đày ải đến một vùng sa mạc khỉ ho cò gáy, nơi họ lếch thếch dắt díu nhau đi trong đói khát và bệnh tật, làm náo loạn những chốn thâm sơn cùng cốc bằng những tiếng van lơn thê thiết và đánh dấu đoạn đường dài dằng dặc bằng những nấm mồ chôn người thân—và tất cả chỉ vì họ đơn thuần đang cố gắng sống và thờ phụng Chúa theo cái cách mà họ tin tưởng bằng cả trái tim lẫn linh hồn mình là con đường chân chính. Hãy khắc cốt ghi tâm tất cả những điều đó, và khi ấy quý vị sẽ chẳng còn thấy lạ lùng gì trước mối thù truyền kiếp khắc cốt ghi tâm mà người Moocmơn dành cho đồng bào và chính phủ của chúng ta.

Mối thù hằn ấy vẫn luôn “gặm nhấm mối hận thù xưa” kể từ khi vùng đất Utah của người Moocmơn vươn lên thành một vương quốc tự túc và hội thánh ngày càng giàu có, hùng mạnh. Trong vai trò Thống đốc Lãnh thổ, Brigham đã làm rõ một điều rằng xứ sở Moocmơn chỉ dành riêng cho người Moocmơn. Chính quyền Washington đã cố gắng chỉnh đốn lại tất cả bằng cách bổ nhiệm các quan chức lãnh thổ đến từ New England và những vùng đất bài-Moocmơn khác, nhưng Brigham đã chuẩn bị sẵn sàng để biến con đường tiến vào lãnh địa của họ thành một thử thách gian nan. Ba ngàn lính liên bang đã phải băng qua các đồng bằng để đưa những vị quan chức này đến nhậm chức. Và ngặt nỗi là sau khi đã ngồi vào ghế rồi, họ cũng chẳng khác gì những bức tượng đá vô tri. Họ ban hành những điều luật chẳng ai thèm đếm xỉa tới và cũng chẳng tài nào thi hành nổi. Các vị thẩm phán liên bang mở tòa giữa một vùng đất ngập tràn tội ác và bạo lực, ngồi đó làm cảnh cho đám đông hỗn xao há hốc mồm ngắm nghía—bởi vì chẳng có gì để xét xử, chẳng có việc gì để làm, chẳng có lấy một vụ án nào nằm trên sổ sách! Và nếu một kẻ ngoại đạo đứng đơn kiện, bồi thẩm đoàn người Moocmơn sẽ cứ tùy cơ ứng biến theo ý thích của họ khi đưa ra phán quyết, và khi phán quyết của tòa được tuyên đọc thì chẳng có tên Moocmơn nào thèm đếm xỉa, cũng chẳng viên quan nào dám thi hành. Các đời Tổng thống của chúng ta cứ hết tốp này đến tốp khác tống các quan chức đến Utah, nhưng kết quả vẫn y nguyên—họ ngồi đó trong sự tàn lụi một thời gian, hằng ngày nuốt trọn những cái lườm nguýt và lời lăng mạ nhục nhã, chứng kiến mọi nỗ lực thực thi công vụ đều nhận lại cái kết là những ánh mắt ngày càng đằng đằng sát khí cùng những lời đe dọa, cảnh báo bí mật với sắc thái ngày càng ảm đạm—để rồi cuối cùng, hoặc là họ gục ngã, biến thành những công cụ và món đồ chơi đáng khinh của đám Moocmơn, hoặc là hoảng sợ, chán chường đến cùng cực rồi cút khỏi Lãnh thổ ấy. Nếu có một viên quan quả cảm nào cứ tiếp tục kiên cường cho đến khi chứng minh được bản lĩnh của mình, thì thế nào cũng sẽ có một gã Buchanan hay Pierce mềm yếu nào đó cách chức hắn ta và nhét một khúc gỗ vào thay thế. Vào năm 1857, Tướng Harney suýt chút nữa đã được bổ nhiệm làm Thống đốc Utah. Và thế là suýt chút nữa chúng ta đã có một Thống đốc Harney và một Thống đốc kiêm thẩm phán Cradlebaugh!—hai con người chưa từng biết sợ là gì, ngoại trừ cái sự hiểu mập mờ về nó mà họ cóp nhặt được từ cuốn từ điển. Chỉ riêng vì sự đổi gió mà họ có thể tạo ra trong một lịch sử nhún nhường và bất lực đến phát chán của phe Liên bang thôi, cũng thật đáng tiếc khi họ không có duyên nắm quyền cùng nhau tại Utah.

Tính đến thời điểm chúng tôi ghé thăm Utah, hồ sơ về Lãnh thổ ấy vẫn là như vậy. Chính quyền Lãnh thổ được thiết lập ở đó là một thất bại thảm hại, và Brigham Young chính là thế lực duy nhất thực sự nắm quyền trên mảnh đất này. Ông ta là một vị quân vương chuyên chế—một vị quân vương dám thách thức cả Tổng thống của chúng ta—một vị quân vương cười nhạo vào mặt các đạo quân của chúng ta khi họ hạ trại quanh kinh đô của hắn—một vị quân vương điềm tĩnh đón nhận tin tức rằng Quốc hội đáng kính của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đã ban hành một bộ luật nghiêm ngặt chống lại nạn đa thê, để rồi thản nhiên bước ra ngoài và cưới thêm hai mươi lăm đến ba mươi bà vợ nữa.

B. VỤ THẢM SÁT MOUNTAIN MEADOWS.

Những cuộc bách hại mà người Moocmơn từng phải gánh chịu đằng đẵng suốt bao năm—và mà họ vẫn cho rằng mình đang phải chịu đựng khi không được phép tự trị—đang được họ tìm mọi cách trả đay trả món, cả trong quá khứ lẫn hiện tại. Vụ thảm sát Mountain Meadows giờ đây có lẽ đã gần như rơi vào quên lãng, chính là tác phẩm của họ. Nó từng rất̀nh nổi đình nổi đám một thời. Khắp nước Mỹ vang dội những âm thanh kinh hoàng của nó. Chỉ cần điểm qua vài nét là trí nhớ của độc giả sẽ được hồi phục. Một đoàn người di cư hùng hậu từ Missouri và Arkansas đã đi qua Thành phố Great Salt Lake, và một vài kẻ Moocmơn bất mãn đã nhập hội với họ nhằm tìm kiếm sự bảo vệ vững chắc cho cuộc đào tẩu của mình. Chính yếu tố đó đã là nguyên nhân đủ để các thủ lĩnh Moocmơn tung đòn trả thù cay đắng. Chưa hết, đám một trăm bốn mươi lăm hay một trăm năm mươi người di cư ngây thơ vô số tội ấy, một phần vốn đến từ Arkansas—nơi một nhà truyền giáo Moocmơn nổi tiếng vừa bị giết hại cách đó không lâu, phần khác đến từ Missouri—một tiểu bang vẫn được ghi nhớ với sự căm thù ngút trời như kẻ bách hại cay nghiệt đối với các vị thánh vào thuở họ còn ít ỏi, nghèo hèn và cô độc; ngần ấy thứ đã chồng chất thêm những lý do vô cùng chính đáng để họ chẳng thể nào dành nổi một chút tình cảm yêu thương nào cho những lữ khách qua đường này. Và cuối cùng, đoàn người di cư này lại vô cùng giàu có, sở hữu bạt ngàn gia súc, ngựa, la cùng nhiều tài sản kếch xù khác—thế thì làm sao mà người Moocmơn có thể kiên định duy trì cái sự so sánh đầy thèm thuồng giữa họ với các bộ tộc Israel mà lại bỏ qua không cướp lấy “chiến lợi phẩm” từ tay kẻ thù, trong khi Chúa đã rành rành “phó mặc chúng vào tay họ” chứ?

Thế nên, theo cuốn sách thú vị “The Mormon Prophet” của bà C. V. Waite, sự việc đã diễn ra như thế này:

“Một lời ‘mạc khải’ từ Brigham Young, trong vai trò Đại Trưởng lão hoặc Thượng đế, đã được chuyển gấp tới Chủ tịch J. C. Haight, Giám mục Higbee và J. D. Lee (con nuôi của Brigham), ra lệnh cho họ huy động toàn bộ lực lượng có thể gom góp và tin tưởng được, bám theo lũ Ngoại giáo khốn kiếp ấy (lời trong bản mạc khải), cải trang thành người da đỏ để tấn công, dùng những mũi tên của Đấng Toàn Năng quét sạch chúng không còn một mống để làm chứng nhân; và nếu cần bất kỳ sự trợ giúp nào, họ được phép thuê người da đỏ làm đồng minh, hứa chia cho chúng một phần chiến lợi phẩm. Họ không được phép lười biếng hay chểnh mảng trong nhiệm vụ, và phải tuân thủ nghiêm ngặt việc gửi các cỗ xe ngựa trở lại cho ông ta trước khi mùa đông kéo tới, bởi đó là mệnh lệnh của Chúa Trời Toàn Năng.”

Mệnh lệnh trong bản “mạc khải” đã được tuân thủ rắp tâm. Một toán đông người Moocmơn, bôi mặt vẽ vằn vện hóa trang thành thổ dân da đỏ, đã bám kịp đoàn xe di cư cách Thành phố Great Salt Lake chừng ba trăm dặm về phía nam và tung đòn tấn công. Nhưng những kẻ di cư đã nhanh tay dựng chiến lũy đất, biến những cỗ xe thành pháo đài và kiên cường chống trả suốt năm ngày trời! Người dân Missouri hay Arkansas của quý vị nào có ngán gì mấy thứ đồ giả cạo mang lốt “thổ dân da đỏ” mà miền nam Utah bày ra. Họ sẵn sàng đứng thẳng người chiến đấu với năm trăm tên như thế.

Đến cuối ngày thứ năm, đám Moocmơn bèn giở mưu hèn kế bẩn. Họ rút về phía thượng nguồn của vùng “Meadow”, tẩy trang, thay lại y phục người văn minh, rồi mang theo vũ khí đầy mình, đánh xe lao thẳng xuống chỗ đoàn người di cư đang bị vây hãm, giương cao ngọn cờ hòa bình! Khi thấy bóng dáng người da trắng tiến lại, đoàn người di cư liền vứt súng xuống đất và hò reo chào đón trong niềm vui sướng khôn tả! Và chắc hẳn, chẳng mảy hay biết gì về cái sự trớ trêu đầy chất thơ ấy, họ đã nâng bổng một đứa trẻ mặc váy trắng lên cao để đáp lại lá cờ hòa bình!

Những kẻ thủ lĩnh của đoàn “giải cứu” da trắng đúng lúc ấy chính là Chủ tịch Haight và Giám mục John D. Lee thuộc Giáo hội Moocmơn. Ông Cradlebaugh, người từng có nhiệm kỳ làm Thẩm phán Liên bang tại Utah và sau đó được bầu vào Quốc hội đại diện cho Nevada, đã kể lại trong một bài phát biểu trước Quốc hội về cách thức mà những thủ lĩnh này đã hành sự tiếp theo ra sao:

“Họ giả vờ đang có quan hệ tốt với người da đỏ, và mô phỏng rằng lũ thổ dân đang nổi giận lôi đình. Họ cũng ngỏ ý muốn đứng ra điều đình và dàn xếp ổn thỏa mọi chuyện với người da đỏ. Sau vài giờ đồng hồ thương lượng, họ (vẻ như) đã đi gặp người da đỏ trở về, mang theo tối hậu thư của đám dã nhân; rằng người di cư phải cuốn xéo khỏi trại của họ, để lại toàn bộ tài sản phía sau, thậm chí cả súng ống. Các vị giám mục Moocmơn hứa hẹn sẽ mang quân đến hộ tống đoàn người di cư quay trở lại các khu định cư. Các điều khoản đã được chấp thuận, bởi người di cư đang nóng lòng muốn bảo vệ tính mạng cho gia đình mình. Đám Moocmơn rút lui, rồi sau đó quay lại với ba bốn mươi kẻ mang vũ khí đầy mình. Đoàn người di cư được lệnh lếch thếch bước đi, đàn bà trẻ con đi đầu, đàn ông đi sau, còn đội cận vệ Moocmơn chốt chặn ở đoạn hậu. Khi họ đi được khoảng một dặm đường theo đội hình ấy, theo một ám hiệu cho trước, cuộc tàn sát liền bùng nổ. Đàn ông hầu như bị bắn hạ sạch sẽ ngay loạt đạn đầu tiên từ phía đội cận vệ. Chỉ có đúng hai kẻ trốn thoát được, tháo chạy vào sa mạc và bị truy đuổi suốt một trăm năm mươi dặm trước khi bị bắt kịp và tàn sát. Phụ nữ và trẻ em cắm cổ chạy thêm hai ba trăm thước nữa thì bị đuổi kịp và, với sự trợ giúp của lũ da đỏ, họ cũng bị tàn sát nốt. Chỉ có vỏn vẹn mười bảy cá nhân trong toàn bộ đoàn di cư được tha mạng, và đó toàn là những đứa trẻ thơ dại, đứa lớn nhất cũng mới chỉ bảy tuổi. Thế là, vào ngày 10 tháng 9 năm 1857, một trong những vụ giết người tàn nhẫn, hèn nhát và đẫm máu nhất trong lịch sử nước ta đã được hoàn tất.”

Tổng số sinh mạng bị đám Moocmơn xẻ thịt trong vụ việc ấy là một trăm hai mươi người.

Với một sự gan lỳ chưa từng thấy trong lịch sử, Thẩm phán Cradlebaugh đã cho mở phiên tòa và bắt đầu hành trình buộc xứ sở Moocmơn phải đền tội cho vụ thảm sát. Và đó quả là một cảnh tượng ngoạn mục khi chứng kiến vị lão tướng nghiêm nghị ấy, một thân một mình với niềm kiêu hãnh cùng gan góc của mình, trừng mắt nhìn xuống bồi thẩm đoàn và cử tọa người Moocmơn, khi thì chế nhạo họ, khi thì “thét ra lửa và râm ran tiếng súng chém!”

Một bài xã luận trên tờ Territorial Enterprise vào thời điểm đó đã viết về ông và sự kiện ấy:

“Ông ấy nói năng và hành động với sự không sợ hãi và quyết tâm của một Jackson; thế nhưng bồi thẩm đoàn lại chẳng thèm truy tố, hay thậm chí lập báo cáo về các cáo buộc, trong khi những lời đe dọa bạo lực vang lên ở mọi ngóc ngách, kèm theo lời bóng gió về một cuộc tấn công nhằm vào quân đội Hoa Kỳ nếu ông ta vẫn cố chấp theo đuổi con đường của mình.

“Nhận ra rằng chẳng thể làm gì được với đám bồi thẩm đoàn, ông bèn giải tán họ kèm theo một lời quở trách cay đắng. Và rồi, trong tư cách là một thẩm phán sơ thẩm, ông đơn độc bắt tay vào việc. Ông thẩm vấn các nhân chứng, tiến hành bắt bớ khắp nơi, gieo rắc vào các trại của các thánh nhân một nỗi kinh hoàng lớn lao chưa từng thấy kể từ khi cõi Moocmơn chào đời. Theo những tin tức mới nhất, các vị trưởng lão và giám mục đang hoảng sợ tháo chạy để bảo vệ cái đầu của mình; và những tình tiết chấn động nhất đang dần hé lộ, vạch trần sự nhúng chàm của các nhân vật chóp bu trong Giáo hội vào vô số vụ giết người và cướp bóc nhắm vào những kẻ ngoại đạo suốt tám năm qua.”

Phỏng như Harney làm Thống đốc, Cradlebaugh đã được hậu thuẫn trọn vẹn trong công việc của mình, và những bằng chứng rành rành do ông trưng ra về tội ác của người Moocmơn trong vụ thảm sát này cùng hàng loạt vụ án mạng trước đó hẳn đã ban phát miễn phí những cỗ quan tài cho một số công dân, kèm theo cả dịp để họ sử dụng chúng. Đáng tiếc thay, Cumming lại là Thống đốc Liên bang, và dưới một lớp vỏ bọc vô tư lự kỳ quái, hắn ta lại tìm cách che chắn cho người Moocmơn trước các đòi hỏi của công lý. Thậm chí có bận hắn còn đi xa tới mức cho đăng tải lời phản đối của mình đối với việc sử dụng quân đội U.S. để hậu thuẫn cho các tiến trình pháp lý của Cradlebaugh.

Bà C. V. Waite khép lại phần tường thuật thú vị của mình về vụ đại thảm sát bằng lời nhận định kèm theo bản tóm tắt các lời khai dưới đây—và bản tóm tắt ấy vừa súc tích, chính xác lại đáng tin cậy:

“Dành cho những ai hãy còn hoài nghi về tội ác của Young cùng lũ Moocmơn trong vụ việc này, các bằng chứng đã được tập hợp lại dưới đây cùng các tình tiết cho thấy rõ không chỉ sự dính líu mà còn đóng đinh tội lỗi lên đầu bọn chúng bằng những ‘sự xác thực đanh thép như lời phán trong Kinh Thánh:’

“1. Lời khai của chính những kẻ Moocmơn trực tiếp tham gia vào vụ việc, được thể hiện qua các bản tường trình của Thẩm phán Cradlebaugh và Phó Nguyên soái U.S. Rodgers.

“2. Việc Brigham Young lờ đi, không đưa bất kỳ tường thuật nào về nó vào Báo cáo của ông ta với tư cách là Giám thị Các vấn đề Thổ dân. Đồng thời là việc ông ta ngậm tăm không nhắc đến nó lấy nửa lời từ trên bục giảng, mãi cho đến tận vài năm sau khi sự kiện xảy ra.

“3. Cuộc đào tẩu lên núi của những nhân vật chóp bu nắm giữ quyền lực tối cao trong Giáo hội và Chính quyền Moocmơn, khi vụ việc này được đưa ra ánh sáng của một cuộc điều tra tư pháp.

“4. Việc tờ Deseret News, cơ quan ngôn luận của Giáo hội và là tờ báo duy nhất được phát hành tại Lãnh thổ vào thời điểm đó, đã lờ tịt vụ thảm sát cho đến tận vài tháng sau, và khi lên tiếng thì cũng chỉ để chối bay chối biến rằng người Moocmơn không hề nhúng tay vào đó.

“5. Lời khai của những đứa trẻ may mắn sống sót sau vụ thảm sát.

“6. Trẻ em cùng tài sản của những người di cư được tìm thấy đang nằm trong tay người Moocmơn, và dấu vết sở hữu ấy có thể truy nguyên ngược về đúng ngay ngày hôm sau của vụ thảm sát.

“7. Lời khai của người da đỏ sống quanh khu vực hiện trường vụ thảm sát: những lời khai này không chỉ được ghi nhận bởi Cradlebaugh và Rodgers, mà còn bởi một loạt các sĩ quan quân đội, và bởi J. Forney, người từng giữ chức Giám thị Các vấn đề Thổ dân cho Lãnh thổ vào năm 1859. Những lời khai dạng này đã được người da đỏ thổ lộ một cách vô tư và thường xuyên với tất cả những người đó.

“8. Lời khai của R. P. Campbell, Đại úy thuộc Trung đoàn Long kỵ binh số 2, người được cử đến Santa Clara vào mùa xuân năm 1859 để bảo vệ lữ khách trên đường tới California và điều tra các vụ phá hoại của người da đỏ.”

C. BÀN VỀ MỘT VỤ ÁM SÁT KINH HOÀNG CHƯA BAO GIỜ THỰC SỰ DIỄN RA

[Nếu trên đời có một kẻ vô hại, thì đó chính là Conrad Wiegand ở Gold Hill, Nevada. Nếu có một tâm hồn hiền lành nào tự tưởng tượng mình là thuốc súng chưa châm ngòi cùng thảm họa tiềm tàng, thì đó chính là Conrad Wiegand. Nếu có một con hàu nào ảo tưởng mình là cá voi; hay một ngọn đèn lồng ma quẩn quanh trong đầm lầy lại ảo tưởng mình là một hành tinh có quỹ đạo dài hàng tỷ dặm; hay một cơn gió heo may mùa hè lại tự nhận mình là bão táp cuồng phong, thì đích thị đó là Conrad Wiegand. Thế nên, có gì là lạ khi lão cất lời, lão cứ tưởng cả thế giới đang vểnh tai lắng nghe; khi lão hành động, thiên hạ đứng sững lại để ngắm nhìn; và khi lão đau khổ, thiên hạ tưởng chừng thiên nhiên đang chuyển dạ? Hồi tôi gặp Conrad, lão đang giữ chức “Giám thị Văn phòng Phân kim Gold Hill”—và lão không chỉ làm Giám thị mà còn là toàn bộ nhân lực của cái văn phòng ấy. Lão còn là một kẻ ra đường thuyết giáo, với thứ tôn giáo pha tạp do chính lão tự nghĩ ra nhằm mục đích cải tạo vũ trụ. Đó là chuyện của nhiều năm về trước. Gần đây lão đã dấn thân vào làng báo chí; và cái nghề báo của lão y hệt như những gì người ta có thể đoán trước: to mồm ở lỗ tai nhưng tí hon ở con mắt. Đó là thứ văn hoa khoa trương rỗng tuếch được nhồi nhét trong một tờ báo có kích thước nhỉnh hơn một lá thư gấp đôi một chút. Chắc chắn là lão vừa viết bài, vừa xếp chữ vừa tự in ấn một mình; thế nhưng lão lại rất khoái diễn tả cơ ngơi của mình cứ như thể nó chiếm trọn cả một dãy phố và thuê tới ngàn nhân công.

[Cách đây chưa đầy hai năm, Conrad đã không nương tay xỉ vả xối xả một số người trên tờ báo nhỏ bé “People’s Tribune” của lão, và thế là tự chuốc lấy rắc rối. Lập tức, lão bèn đem câu chuyện ra phơi bày trên tờ “Territorial Enterprise” thông qua một bài viết mang chính chữ ký của lão, và tôi dự định sẽ chép lại nguyên văn nó ở đây, với tất cả sự ngây thơ mộc mạc vốn có cùng sự thành thật vượt ngưỡng con người. Dù dài dòng nhưng nó rất đáng đọc, bởi đây có lẽ là mẫu vật phong phú nhất của văn chương báo chí mà lịch sử nước Mỹ từng sản sinh:]

Trích từ tờ Territorial Enterprise, ngày 20 tháng 1 năm 1870.

ÂM MƯU ÁM SÁT BỊ ĐỔ VỠ.

GỬI TÒA SOẠN ENTERPRISE: Cách đây mấy tháng, khi ông Sutro vô tình vạch trần cách quản lý mỏ trên vùng Comstock, và trong số những người khác đã kích động tôi đứng lên phản đối sự tiếp diễn của nó, các anh đã có nhã ý cảnh báo tôi rằng bất kỳ nỗ lực nào thông qua các ấn phẩm, các cuộc họp công khai và hành động lập pháp nhằm mục đích khắc phục những tệ nạn khai mỏ kinh niên tại hạt Storey đều sẽ giáng xuống đầu tôi (a) sự phá sản trong kinh doanh, (b) gánh nặng toàn bộ chi phí tổn thất, (c) bạo lực cá nhân, và nếu tôi vẫn ngoan cố theo đuổi mục đích thì sẽ là (d) ám sát, để rồi cuối cùng chẳng thu lại được cái quái gì.

LỜI TIÊN TRI ỨNG NGHIỆM. Ít nhất thì phần lớn những lời tiên tri của các anh đã thành sự thật, vì (a) công việc phân kim vốn từng tấp nập tại Văn phòng Phân kim Gold Hill (nơi tôi làm giám thị), do hệ quả từ các bài viết của tôi, nay đã bị chuyển đi nơi khác, đó là lời khẳng định với tôi từ Chủ tịch của một trong các công ty. Không một lý do nào được đưa ra, các công việc khác cũng bị rút bớt. Ngoại trừ một hoặc hai trường hợp ngoại lệ quan trọng, công việc phân kim của chúng tôi giờ đây chỉ còn là nhặt nhạnh mấy mẩu vụn vặt quanh vùng. (b) Mặc dù những khoản đóng góp cá nhân của chính tôi cho Hiệp hội People’s Tribune đã vượt quá 1.500 đô-la, nhưng ngoài các thành viên của chúng tôi ra, chúng tôi nhận được chưa tới 300 đô-la (bằng tiền mặt) từ các khoản đóng góp và tiền đặt mua ấn phẩm. (c) Vào thứ Năm tuần trước, trên con đường chính ở Gold Hill, gần trưa, chẳng có lấy một lời cảnh báo hay lý do được đưa ra, tôi đã bị một cú đấm như trời giáng quật ngã xuống đất, và trong lúc tôi đang nằm sõng soài, một gã đàn ông—kẻ dường như bị tiêm nhiễm vào đầu ý nghĩ rằng tôi từng nói xấu hắn—đã lao vào đá tơi bời. Kẻ nào đã nhồi sọ hắn như vậy thì hiện tại tôi vẫn chưa thể nói rõ. Vào thứ Bảy tuần trước, tôi lại tiếp tục bị tấn công và đánh đập bởi một gã đàn ông tự mình đến thông báo lý do tại sao hắn lại làm thế, và gã vẫn ngoan cố thực hiện hành vi bạo lực ngay cả khi cái ấn tượng sai lầm mà hắn từng ôm khư khư lúc đầu đã được chỉ ra một cách rõ ràng và nhiều lần. Cùng chính gã đàn ông này, sau khi thất bại trong việc dùng thủ đoạn đe dọa để moi từ miệng tôi tên tuổi của các cộng tác viên tòa soạn—điều mà hắn thừa biết tôi đã thề giữ kín—đã trút hết mệt mỏi lên người tôi bằng một sợi roi da bò trong khi tôi hoàn toàn không chống cự, rồi hổ hển đe dọa sẽ hủy dung vĩnh viễn nếu tôi còn dám nhắc đến tên hắn trên mặt báo; thế mà chỉ vài phút trước khi tấn công tôi, chính gã lại bảo đảm rằng lý do duy nhất khiến tôi được “ân chuẩn” bước về nhà toàn thây vào tối thứ Tư tuần trước (thời điểm tờ PEOPLE’S TRIBUNE phát hành) là vì hắn tưởng tôi bị... thiểu năng, và nên nhớ là ngay sáng hôm sau tôi lại bị đấm gục và đá tơi bời bởi một gã dường như đã chuẩn bị sẵn tư thế tẩu thoát. [Lão nhìn thấy diệt vong đang cận kề:]

BAO GIỜ VÒNG TRÒN KHÉP LẠI? Chẳng biết bao lâu nữa thì toàn bộ lời tiên tri của các anh mới ứng nghiệm hoàn toàn, nhưng dưới cái bóng của chừng ấy sự thật đã hiển hiện trong một thời gian ngắn ngủi đến vậy, cùng những lời đe dọa từ một kẻ là hiện thân nổi cộm nhất của băng đảng khai mỏ San Francisco đang trừng trừng thách thức trước mặt tôi lẫn toàn thể cộng đồng này, hướng đến cái kết trọn vẹn cho lời sấm truyền của các anh, liệu các anh có trách khi tôi cảm thấy bức thư này sẽ là bài viết cuối cùng tôi từng viết cho Báo chí hay không, nhất là khi ý thức về lòng tự trọng cá nhân, về trách nhiệm đối với cộng đồng đang bị đồng tiền áp bức và nỗi sợ hãi kìm kẹp này, cùng lòng trung thành kiểu Mỹ đối với tinh thần Tự do đích thực đều đang ra lệnh cho tôi, và mỗi tiếng thét của chúng đều lấn át cả ái tình sự sống, rằng phải vạch mặt gọi tên kẻ chóp bu đó chính là JOHN B. WINTERS, Chủ tịch Công ty Yellow Jacket, một kẻ đang mộng tưởng chính trị kiêm một vị Tướng quân đội? Tên của kẻ tòng phạm kiêm đồng lõa bịa đặt một phần trong vụ tấn công kỳ lạ vừa rồi, không ai khác chính là PHILIP LYNCH, Tổng biên tập kiêm Chủ nhân tờ Gold Hill News.

Bất chấp sự sỉ nhục và bất công mà John B. Winters đã giáng lên đầu tôi vào chiều thứ Bảy, mà tôi chỉ có thể hé lộ một phần cho độc giả của các anh thấy, vì tôi quá đau lòng khi phải xát muối (thông qua việc công khai) vào một sai lầm nghiêm trọng của bất kỳ ai, nam hay nữ, được thực hiện trong cơn phẫn nộ tự nhiên chứ không phải do tự mình chuốc lấy, xét đến sự kích động tột độ của hắn ta vào thời điểm đó cùng tính chất kín đáo gần như tuyệt đối của vụ tấn công, tôi tự thấy mình chưa chắc đã nên chừa cho hắn một khoảng trống để hối cải trước khi phơi bày hắn, nếu không phải vì chính hắn đã tự phơi bày sự việc ra làm đề tài bàn tán khắp thị trấn rằng hắn đã quất roi vào người tôi. Khi sự thật đó đã bị phơi bày trước công chúng, tất cả các tình tiết liên quan cũng cần được sáng tỏ, bằng không sự im lặng từ phía tôi sẽ trở nên kỳ lạ hơn mức bình thường, và đối với nhiều người, nó sẽ là bằng chứng cho thấy hoặc là tôi có mục đích bất chính nào đó khi xuất bản bài viết, hoặc là nguyên tắc “bất bạo động” của tôi chẳng qua chỉ là một chiếc áo choàng thuận tiện che đậy cho cả sự hèn nhát về thể xác lẫn đạo đức. Do đó, tôi sẽ cố gắng vẽ ra một bức tranh sinh động nhưng chân thực về toàn bộ vụ việc này, nhưng sẽ nhịn không đưa ra bất kỳ bình luận nào, với giả định rằng các biên tập viên của tờ báo chúng ta, nếu những người khác không làm thế, sẽ lên tiếng một cách tự do và thích hợp về vấn đề này trong số báo tiếp theo của chúng tôi, cho dù lúc đó tôi còn sống hay đã chết, bởi cái chết của tôi sẽ không thể ngăn cản, dẫu nó có thể tạm đình chỉ, việc phát hành tờ PEOPLE’S TRIBUNE. [Kẻ “bất bạo động” vẫn trung thành với nguyên tắc, nhưng dắt theo một hoặc hai người bạn có chí hướng... thuận tiện khác:]

CÁI BẪY ĐƯỢC GIĂNG. Vào sáng thứ Bảy, John B. Winters đã cử người nhắn lời tới Văn phòng Phân kim Gold Hill rằng hắn muốn gặp tôi tại văn phòng Yellow Jacket. Mặc dù yêu cầu đó khiến tôi thấy vô cùng ngạo mạn khi xét đến những cách ứng xử thiếu lịch sự gần đây của hắn đối với tôi ở đó, trên cả cương vị là một nhà xuất bản lẫn một cổ đông trong mỏ Yellow Jacket, và mặc dù nó mang dáng dấp của một trát đòi hầu tòa hơn là một lời mời nhã nhặn xin mộtân huệ từ người này sang người khác, nhưng với hy vọng rằng từ đó có thể nảy sinh một cuộc họp mặt với Sharon nhằm cải thiện các vấn đề khai mỏ tại Nevada, tôi vẫn rất muốn bỏ qua cái điều mà có lẽ chỉ là sự sơ suất trong phép lịch sự. Nhưng ngặt nỗi khi ấy mới chỉ trôi qua đúng hai ngày kể từ lúc tôi bị bầm giập và đánh đập do một sự hiểu lầm vội vàng và sai trái về các tình tiết, sự cảnh giác của tôi ít nhiều đã được đánh động. Hơn thế nữa, tôi vẫn nhớ như in thái độ khinh miệt của hắn trong buổi gặp gỡ cuối cùng tại văn phòng của hắn. Do đó, tôi cảm thấy nếu có đến thì bắt buộc phải có một người bạn đi cùng—một kẻ mà hắn không dám đối xử bất lịch sự, và sự hiện diện của người đó bên cạnh có thể giúp tôi tránh khỏi những lời lăng mạ. Phù hợp với suy nghĩ đó, tôi bèn nhờ một người hàng xóm đi cùng mình.

CÁI BẪY SUÝT BỊ PHÁT HIỆN. Mặc dù lúc đó tôi chưa biết điều này, nhưng có vẻ như trước khi nhận lời nhờ vả của tôi, chính người hàng xóm này đã nghe Tiến sĩ Zabriskie tuyên bố công khai trong một quán rượu rằng ông Winters từng nói với ông ta rằng hắn đã quyết định hoặc là sẽ giết, hoặc là sẽ quất roi tôi, nhưng chưa chốt hạ là sẽ chọn phương án nào. Do đó, người hàng xóm của tôi cảm thấy không yên tâm khi đi cùng tôi xuống dưới đó nếu chưa ghé qua gặp riêng ông Winters trước. Thế là anh ta đã tạt qua thăm hắn. Sau buổi gặp đó, anh ta khẳng định với tôi rằng anh thu được ấn tượng là anh không tin tôi sẽ gặp bất kỳ rắc rối nào với ông Winters, và rằng chính hắn (Winters) sẽ ghé qua văn phòng của tôi vào lúc bốn giờ chiều.

NHỮNG BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA CỦA RIÊNG TÔI. Vì Cảnh sát trưởng Cummings có mặt ở Gold Hill vào chiều hôm đó, và tôi muốn trao đổi với ông về vụ tấn công trước đó, nên tôi đã mời ông ghé qua văn phòng của mình, và ông đã đến. Mặc dù đã quá bốn giờ rưỡi, ông Winters vẫn chẳng thấy tăm hơi đâu, và cả hai chúng tôi bắt đầu thu dọn đồ đạc để về nhà. Đúng lúc ấy, Philip Lynch, Chủ bút tờ Gold Hill News, bước vào và cất giọng niềm nở, vui tươi như thể đang mang tin vui đến:

“Ê, John B. Winters muốn gặp anh kìa.”

Tôi đáp lại: “Thật sao! Lạ nhỉ, chính hắn vừa nhắn tin bảo sẽ ghé văn phòng tôi vào lúc bốn giờ chiều nay cơ mà!”

“Ồ, dào, lúc này thì cần gì phải câu nệ lễ nghĩa nữa, hắn đang ở văn phòng tôi kìa, chỗ đó cũng tiện lắm—đi qua đó đi, Winters muốn bàn bạc riêng với anh một chút. Hắn có chuyện muốn nói đấy.”

Dù có hơi bất an trước sự thay đổi đột ngột trong kế hoạch này, nhưng với niềm tin rằng ở trong tòa soạn của một chủ báo thì thế nào mình cũng được an toàn, và dẫu sao thì vẫn nằm trong tầm với của đường phố, tôi vội vã thầm thì một cách mập mờ những hoài nghi của mình cho ông Cummings nghe, đồng thời hỏi xem ông có thể đứng ở cự ly đủ gần để nghe thấy tiếng gọi của tôi hay không nhỡ khi tôi cất tiếng hú. Ông đồng ý sẽ làm thế trong lúc chờ đợi một số đối tác khác, và sẽ bước vào nếu nghe thấy tiếng tôi hoặc nghĩ rằng tôi cần được bảo vệ.

Khi bước vào khu vực tòa soạn của tờ News, vốn dĩ tối tăm nếu nhìn từ ngoài đường vào, tôi không thấy ông Winters đâu cả, và những mối nghi ngờ trong tôi lại trỗi dậy. Phỏng như tôi dừng lại đủ lâu để cân nhắc tình hình, tôi đã mời Cảnh sát trưởng Cummings bước vào theo rồi, nhưng khi Lynch bước xuống cầu thang, hắn lại bảo: “Đường này, Wiegand—tốt nhất là nên nói chuyện riêng,” hoặc một câu đại loại thế.

[Tôi không muốn thử thách trí tưởng tượng của độc giả một cách có hại, song nếu được thì xin người hãy thử hình dung con cừu non này khi bước vào trận chiến, trên bãi đấu súng hay khi đứng đầu một ủy ban cảnh giác—M. T.:]

Tôi bước theo, không có ông Cummings bên cạnh, cũng chẳng có vũ khí trong người, điều mà tôi chưa từng và sẽ không bao giờ mang theo, trừ khi nhập ngũ ra trận, hoặc nhỡ mai sau tôi buộc phải đấu súng, hay tham gia hỗ trợ hàng ngũ của một Ủy ban Cảnh giác cần thiết nào đó. Nhưng chính vì bước theo nên tôi đã mắc phải một sai lầm chết người. Đi theo đồng nghĩa với việc bước vào tròng, và bất kỳ sinh vật nào tự chuốc lấy cái bẫy cũng phải chuẩn bị tinh thần đón nhận số phận chung của một con chuột trong lồng, như tôi e rằng những sự kiện sắp tới sẽ chứng minh.

Cái bẫy sinh ra vốn dĩ chẳng có mục đích từ bi nào cả. [Cận vệ của lão bị chặn bên ngoài:]

CÁI BẪY BÊN TRONG. Tôi theo chân Lynch xuống dưới nhà. Ngay chân cầu thang, một cánh cửa mở sang bên trái dẫn vào một căn phòng nhỏ. Từ căn phòng đó, một cánh cửa khác lại thông sang một căn phòng nữa, và một khi đã bước vào, tôi nhận ra mình đã bị lừa phỉnh dắt dụ vào một thứ được nhiều người từ nay về sau sẽ mãi coi là một cái hang ngầm bí mật tại Gold Hill, vô cùng thích hợp trong tay những kẻ thích hợp cho các mục đích giết người, dù là lộ liễu hay ngụy trang, bởi từ đó, với cả hai cánh cửa hoặc thậm chí chỉ một cánh cửa khép lại, khi nhận ra thì đã quá muộn, tôi hiểu rằng mình sẽ chẳng thể nào lọt được vào tai Cảnh sát trưởng Cummings, và từ đó, BẰNG BẠO LỰC VÀ VŨ LỰC, tôi đã bị ngăn cản không cho bước ra ngoài một cách ôn hòa, khi tôi lờ mờ nhận ra mục đích đích thực của “cuộc trao đổi” này không gì khác ngoài việc tước đoạt mạng sống của tôi, trước sự chứng kiến của Philip Lynch trong vai trò nhân chứng, ngay khi cái đầu nóng của một kẻ nổi tiếng dễ cáu kỉnh bị kích động đến mức lao vào tấn công ông Winters, để rồi ông Lynch, bằng lương tâm cùng sự dịu dàng nổi tiếng của mình đối với những kẻ giàu có và quyền lực, sẽ buộc phải khai trước tòa rằng hắn tận mắt chứng kiến Tướng John B. Winters tiêu diệt Conrad Wiegand để “tự vệ”. Nhưng có lẽ tôi đang đi quá nhanh.

CHỦ NHÀ CỦA CHÚNG TA. Ông Lynch có mặt trong suốt phần lớn thời gian (ướm chừng ngót nghét một tiếng đồng hồ), nhưng có ba lần hắn rời khỏi phòng. Do đó, lời khai của hắn sẽ chỉ có giá trị đối với phần lớn những gì đã diễn ra. Khi bước vào cái hang được trải thảm này, tôi được mời ngồi vào một chiếc ghế nằm gần một góc phòng. Ông Lynch chọn một chỗ ngồi gần cửa sổ. J. B. Winters ngồi (ban đầu) gần cửa ra vào, và bắt đầu tuôn ra những lời lẽ đại ý như sau:

“Ta đến đây để bắt ngươi phải đính chính, giấy trắng mực đen, về những lời buộc tội sai trái khốn kiếp mà ngươi đã gán ghép cho ta trên cái tờ báo rác rưởi khốn nạn của ngươi, và ngươi phải tuyên bố mình chính là tác giả của chúng, rằng ngươi đăng chúng khi thừa nhận chúng là sai sự thật, và rằng động cơ của ngươi hoàn toàn là ác ý.”

“Khoan đã, ông Winters. Ngôn từ của ông mang tính xúc phạm và yêu cầu của ông thật quá quắt. Tôi tin rằng mình không được mời đến đây để chịu đựng sự sỉ nhục hay ép buộc. Tôi nghĩ mình có mặt ở đây theo lời mời của ông Lynch, theo yêu cầu của ông.”

“Ta đến đây không phải để sỉ nhục ngươi. Ta đã nói với ngươi rồi, ta đến vì một mục đích khác hoàn toàn.”

“Thế nhưng ngôn từ của ông tỏ ra rất khó nghe, và ngay lúc này đây vẫn cho thấy sự kích động dữ dội. Nếu sự sỉ nhục còn tiếp diễn, tôi hoặc sẽ rời khỏi phòng, hoặc sẽ gọi Cảnh sát trưởng Cummings, người mà tôi vừa để lại đứng chờ bên ngoài cánh cửa kia.”

“Không, ngươi không làm thế được đâu, thưa ngài. Ngươi tốt nhất nên hiểu điều đó ngay đi cho phỉ dạ. Ở đây ngươi là con mồi của ta, và ta sẽ nói cho ngươi biết tại sao! Mấy tháng trước, ngươi đã tẩu tán toàn bộ tài sản của mình, lớn tiếng khoe khoang rằng làm thế để tránh bị mất trắng vì các vụ kiện phỉ báng.”

“Đúng là tôi đã chuyển đổi toàn bộ bất động sản của mình thành tài sản cá nhân, những thứ tôi có thể yên tâm giao phó cho người khác, và chủ yếu là để tránh sự phá sản từ các vụ kiện phỉ báng tiềm tàng.”

“Rất tốt, thưa ngài. Một khi đã tự đặt mình ra ngoài vòng pháp luật, thì xin Chúa phù hộ cho linh hồn ngươi nếu ngươi KHÔNG chịu viết chính xác một bản đính chính y như những gì ta yêu cầu. Giờ thì ta tóm được ngươi rồi, và thề có—trước khi ngươi kịp thò chân ra khỏi căn phòng này, ngươi sẽ phải vừa viết vừa ký chính xác bản đính chính mà ta đòi hỏi, và dẫu thế nào đi nữa trước khi ngươi cút đi—đồ mặt dày — gian xảo — khốn kiếp —, ta sẽ dạy cho ngươi thế nào là trách nhiệm cá nhân bên ngoài vòng pháp luật; và thề có—, Cảnh sát trưởng Cummings cùng toàn bộ đám bạn bè trên cõi đời này của ngươi cộng lại cũng chẳng thể cứu nổi ngươi đâu, đồ — khốn, vân vân và mây mây! Không, thưa ngài. Giờ thì ta đơn độc ở đây, và ta sẵn sàng bị bắn gục ngay tại chỗ này còn hơn là bị ngươi bôi nhọ như những gì đã làm, rồi để ngươi nhởn nhơ thoát thân sau khi đã tung ra những lời buộc tội đó, không chỉ ở chốn này—nơi ta được kính trọng và nể nang—mà còn ở những nơi ta không hề quen biết và có thể bị tổn hại.”

Tôi thú nhận rằng bài diễn văn đó, kèm theo lời đe dọa ám sát được ngầm hiểu một cách quá đỗi rõ ràng và khủng khiếp nếu tôi không chịu ký vào tờ giấy mà hắn đòi hỏi, đã khiến tôi hoảng sợ, nhất là khi tôi thấy hắn đang tự kích động bản thân lên đến đỉnh điểm của cơn phẫn nộ, và bản năng mách bảo rằng bất kỳ câu trả lời nào khác ngoài việc tỏ vẻ nhượng bộ trước yêu cầu của hắn sẽ chỉ là đổ thêm dầu vào ngọn lửa đang bùng cháy, thế nên tôi đáp:

“Chà, nếu tôi bắt buộc phải ký—” rồi tôi ngập ngừng một lúc lâu. Tiếp lời, tôi nói: “Nhưng thưa ông Winters, ông đang vô cùng kích động. Hơn nữa, tôi thấy ông đang ôm khư khư một sự hiểu lầm hoàn toàn. Nhiệm vụ của ông lúc này không phải là kích động mà là bình tĩnh lại. Tôi sẵn sàng cho ông thấy, nếu ông chịu chỉ ra bài viết mà ông đang ám chỉ, rằng những gì ông coi là ‘cáo buộc’ thực chất lại chẳng có một bộ óc bình tĩnh và logic nào có quyền coi là thế cả. Hãy chỉ cho tôi những cáo buộc đó, tôi sẽ thử xem xét bằng mọi giá; và nếu vỡ lẽ ra rằng chẳng có cáo buộc nào được đưa ra cả, thì rõ ràng sẽ chẳng có gì để đính chính, và chẳng ai có quyền thúc ép ông đòi đính chính cả. Ông nên cẩn trọng kẻo mắc phải sai lầm nghiêm trọng nhường ấy, bởi dù một người có chính trực đến đâu thì ai cũng có nguy cơ hiểu lầm. Hơn thế nữa, ông lại đang mặc định rằng tôi chính là tác giả của một bài viết nào đó mà ông còn chưa chịu chỉ ra. Vội vàng như thế là không phải phép.”

Hắn bèn chỉ tay vào một số đoạn được đánh số trong một bài báo trên tờ TRIBUNE, mang tiêu đề “Có chuyện gì với Yellow Jacket vậy?”, và gằn giọng: “Đó chính là cái tao đang nhắc tới.”

Để kéo dài thời gian suy ngẫm và tìm cách giải quyết, tôi cầm tờ báo lên đọc qua một lúc, trong khi hắn giữ im lặng và, như tôi hòng mong đợi, đang hạ nhiệt dần. Tôi bèn cất lời trở lại: “Đúng như tôi đoán. Tôi không thừa nhận mình là người viết bài báo đó, và ông cũng chẳng có quyền áp đặt một điểm mấu chốt quan trọng như thế để rồi dựa trên sự áp đặt đó mà hành động đùng đùng. Ông sẽ phải hối hận sâu sắc về sau đấy. Trong bản Tuyên ngôn gửi Cộng đồng đã được công bố của mình, tôi từng thông báo với thiên hạ rằng không một thông tin nào về tác giả của bất kỳ bài viết nào được tiết lộ nếu chưa có sự đồng ý từ người viết. Do đó, tôi không thể vì danh dự mà khai ra ai là kẻ đã viết bài báo đó, và ông cũng chẳng thể ép buộc tôi.”

“Nếu mày không phải là tác giả, thế thì tao đòi biết kẻ đó là ai!”

“Tôi buộc phải từ chối.”

“Vậy thì, thề có—, tao cứ coi mày là tác giả của nó, và sẽ xử lý mày tương ứng.”

“Gác chuyện đó sang một bên, sự hiểu lầm quan trọng nhất mà tôi nhận thấy chính là việc ông coi chúng là những ‘cáo buộc’, trong khi ngữ cảnh của chúng, ở cả phần mở đầu lẫn kết luận, đều cho thấy chúng không phải thế. Những từ ngữ này mở đầu cho chúng: ‘Một cuộc điều tra như vậy [vừa được chỉ ra trước đó], chúng tôi cho rằng CÓ THỂ dẫn đến việc hé lộ một số điểm sau đây.’ Tiếp theo là mười một chi tiết cụ thể, và đoạn văn tiếp theo cho thấy cuộc điều tra được gợi ý ‘có thể MINH OẠN cho những kẻ vốn đang bị nghi ngờ là có tội.’ Như vậy, quý vị thấy đấy, ngữ cảnh chứng minh chúng không hề được đưa ra dưới dạng cáo buộc, và điều này hình như ông đã bỏ sót.”

Trong lúc tôi đưa ra những lời bình luận đó, ông Winters liên tục ngắt lời tôi theo cái cách khiến tôi đinh ninh rằng hắn đã hạ quyết tâm không thèm cân nhắc một cách thấu đáo những tư tưởng ẩn chứa trong lời nói của tôi. Hắn cứ khăng khăng rằng đó chính là những cáo buộc, và “Thề có—,” hắn sẽ bắt tôi phải rút lại chúng với tư cách là cáo buộc, rồi hắn đem câu hỏi này ra trưng cầu ý kiến của Philip Lynch—người mà tôi sau đó đã kêu gọi sự giúp đỡ trong vai trò một nhà văn, một nhà logic học và một chủ bút, đồng thời thu hút sự chú ý đặc biệt của hắn vào đoạn mở đầu vừa được trích dẫn. Lynch đáp: “Nếu chúng không phải là cáo buộc, thì chúng chắc chắn là những lời bóng gió hàm ý,” nghe đến đây ông Winters liền bồi thêm những đòi hỏi về một bản đính chính y hệt như những gì hắn vừa nêu trước đó, chỉ có điều lần này hắn cho phép tôi nêu tên kẻ đã viết bài báo nếu không phải do chính tôi chấp bút, đồng thời khua khoắng nắm đấm ngay trước mặt tôi kèm theo vô số lời nguyền rủa và chửi bới.

Khi hắn dùng nắm đấm siết chặt để đe dọa tôi, theo phản xạ tự nhiên tôi toan đứng dậy khỏi chiếc ghế, nhưng Winters liền dùng sức ấn mạnh tôi ngồi xuống, y như mọi lần khác (ít nhất là bảy hay tám lần), khi đối mặt với hiểm họa cận kề sắp bị nắm đấm của hắn nện cho bầm dập (hoặc tệ hơn thế nữa mà tôi chẳng thể lường trước sau cú đấm choáng váng đầu tiên), thứ mà hắn có thể giáng xuống tôi một cách dễ dàng và an toàn chừng nào hắn còn bắt tôi phải ngồi và đứng lỳ ở đó trên đầu tôi.

Chính chi tiết này, hơn bất kỳ điều gì khác, đã thuyết phục tôi rằng bằng một kế hoạch được tính toán kỹ lưỡng, tôi đã bị cố tình tước bỏ mọi khả năng tự vệ trong tay ông Winters, và rằng hắn không hề có ý định cho tôi tận hưởng cái lợi thế được đứng trên đôi chân của mình mà hắn đang nắm giữ. Hơn nữa, lúc đó tôi hoàn toàn bị thuyết phục rằng Philip Lynch (chẳng biết vì lý do gì) sẽ chẳng thèm nhúc nhích dù chỉ một ngón tay để bảo vệ tôi ngay trong chính ngôi nhà của hắn. Tôi thấu triệt hoàn toàn tình thế của mình lúc bấy giờ. Tôi nhận ra rằng việc phản đối hay biện minh đều vô ích như nhau, và tôi sẽ không thèm đưa ra bất kỳ lời cầu xin sự thương hại hèn nhát nào, lại càng không đời nào xin lỗi. Dẫu vậy, tính mạng của tôi đã bị đe dọa bằng những ẩn ý rõ ràng nhất có thể. Tôi là một kẻ yếu ớt. Tôi không có vũ khí. Tôi đang bất lực nằm dưới, còn Winters thì đứng trên và chắc chắn là mang theo vũ khí. Lynch là “nhân chứng” duy nhất có mặt. Những tuyên bố bị đòi hỏi, nếu được đưa ra mà không có lời giải thích, sẽ dìm tôi xuống đáy vực của sự tự xấu hổ, trong mắt gia đình tôi, và trong mắt cả cộng đồng. Trái lại, phỏng như tôi khai ra tên tác giả, làm sao tôi có thể hy vọng giữ được lòng tin của Nhân dân—thứ mà tôi sẽ chẳng còn xứng đáng để nhận lấy nữa, và sinh mạng của tôi cùng gia đình quý giá biết bao so với sinh mạng của một tác giả thực thụ đối với bạn bè hắn. Dẫu thế, sự sống vẫn vô cùng trân quý và từng phút giây trôi qua đều có vẻ thiêng liêng dẫu mang màu u ám. Tôi thành tâm cầu mong rằng quý vị hay bất kỳ độc giả nào của các vị, đặc biệt là những ai đã có gia đình, sẽ không bao giờ bị đẩy vào cái tình cảnh sát sườn với cái chết đến thế trong lúc buộc phải đưa ra quyết định duy nhất mà tôi phải đối mặt, ấy là: Mình nên làm gì—tôi, một kẻ có gia đình, chứ không phải một kẻ “đơn độc” như ông Winters. [Độc giả được khuyến khích không nên bỏ qua phần dưới đây.—M. T.:]

CHIẾN LƯỢC VÀ THÔI MIÊN. Để kéo dài thời gian suy ngẫm thêm, đồng thời hy vọng rằng thông qua một màn giả vờ thuận theo có thể giúp tôi lấy lại được tự do cá nhân, chí ít cho đến khi tôi có thể tạo ra một tiếng báo động, hoặc chớp lấy sơ hở chớp nhoáng nào đó của Winters rồi tẩu thoát mà không mang tiếng hèn nhát, tôi đã quyết định sẽ viết một loại đính chính nào đó, nhưng trước đó trong thâm tâm tôi đã định đoạt:

Thứ nhất.—Tôi sẽ cố tình né mọi hành động có thể bị diễn giải thành việc rút vũ khí, ngay cả bởi một kẻ đang tự nổi giận với chính mình, mặc cho lượng sỉ nhục có trút lên đầu tôi nhiều đến đâu đi nữa, bởi tôi thấy rằng sự bùng nổ thái quá của những lời thề thốt, xú uế và chửi bới này chắc chắn không đơn thuần là một trò giải trí vô bổ mà phải ẩn chứa một mục đích nào đó. “Chắc chắn là người ta giăng lưới uổng công trước mắt mọi loài chim.” Do đó, như trước đây hành động theo bản năng, từ khoảnh khắc đó tôi cố tình giữ tay mình cách xa các túi áo, và luôn đặt chúng ở nơi dễ nhìn thấy đồng thời xòe rộng trên đầu gối.

Thứ hai.—Tôi tự nhủ sẽ không thực hiện bất kỳ cử động nào bằng tay chân có thể bị quy chụp là hành vi gây hấn.

Thứ ba.—Tôi quyết định sẽ kìm nén hoàn toàn biểu cảm bên ngoài và dập tắt mọi cơn phẫn nộ. Để làm được điều đó, tôi phải làm chủ tinh thần mình. Và để đạt được điều đó, bằng sức mạnh của trí tưởng tượng, tôi buộc phải ép mình nhập vai vào một trạng thái tâm lý phi tự nhiên giống như những diễn viên trên sân khấu, nhìn nhận mọi thứ qua lăng kính của một nhân vật giả định.

Thứ tư.—Tôi quyết định sẽ thử nghiệm một cách thầm lặng lên người Winters, mà không để hắn hay biết, một thứ quyền năng thôi miên mà tôi vốn sở hữu đối với một số kiểu người nhất định, và đôi khi tôi nhận thấy nó vẫn phát huy tác dụng ngay cả trong bóng tối đối với các loài động vật bậc thấp.

Có ai đang mỉm cười trước mấy điểm cuối cùng này không? Xin Chúa phù hộ cho quý vị không bao giờ phải rơi vào cảnh ngộ chơi một ván cờ mà ván cược chính là mạng sống của mình, trong khi trong tay quý vị chỉ còn đúng bốn con tốt nghèo nàn còn đối phương thì đang dốc toàn lực không thiếu một quân. Nhưng nếu quý vị lỡ rơi vào hoàn cảnh đó, miễn là còn chút sức mạnh cùng ý chí bền bỉ, đừng vội tuyệt vọng. Dù quyền năng thôi miên có thể không cứu nổi mạng sống của quý vị, nó ít nhiều cũng sẽ trợ giúp; hãy cứ thử bằng mọi giá. Trong trường hợp này, tôi cảm nhận rõ ràng sức mạnh đang tuôn chảy vào trong người mình, và theo một quy luật tự nhiên, tôi biết Winters cũng đang suy yếu đi tương ứng. Giả như tôi có thêm chút thời gian, tôi dám cá là hắn thậm chí chẳng dám chạm tay vào người tôi.

Cần phải có thời gian để vừa vạch ra những quyết định ấy vừa nhẩm lại chúng. Dù sao thì tôi cũng đã chớp được khoảng thời gian đó trong lúc nghĩ về bản đính chính, thứ mà tôi viết phác thảo bằng bút chì trước, liên tục sửa đổi cho đến khi vừa ý, với mục đích làm sao để nó trông giống như một sự nhượng bộ trước các yêu cầu, trong khi thực tế thì nó phải truyền tải thật sắc bén sự thật vào trong tâm trí ông Winters. Khi đã hoàn thành, tôi chép lại bằng mực, và nếu chép chuẩn xác từ bản thảo đầu tiên thì nó phải đọc được như sau. Lúc chép lại, tôi nghĩ mình không hề thay đổi bất kỳ điểm trọng yếu nào.

BẢN SAO. Gửi Philip Lynch, Chủ bút tờ Gold Hill News: Tôi được biết Tướng John B. Winters tin rằng đoạn trích dẫn (được dán dưới đây) lấy từ tờ PEOPLE’S TRIBUNE ra mắt tháng Giêng chứa đựng những cáo buộc rõ ràng của tôi nhằm vào cá nhân ông ấy, và vì thế ông ấy muốn tôi phải công khai rút lại chúng một cách vô điều kiện.

Để đáp ứng yêu cầu của ông ấy, xin cho phép tôi được phát biểu rằng, mặc dù ông Winters và tôi có cái nhìn khác nhau về vấn đề này, nhưng xét đến những cảm xúc mãnh liệt của ông ấy liên quan đến sự việc, tôi xin tuyên bố tại đây rằng tôi không hề biết những “cáo buộc” đó (nếu chúng thực sự là thế) là đúng sự thật, và tôi hy vọng rằng một cuộc kiểm tra tường tận sẽ bác bỏ hoàn toàn chúng. CONRAD WIEGAND. Gold Hill, ngày 15 tháng 1 năm 1870.

Tôi liền đọc lại những gì mình vừa viết và trao nó cho ông Lynch, ngay lập tức ông Winters lên tiếng:

“Cái này không thỏa đáng, và thế này thì chưa được đâu;” rồi quay sang nhìn ông Lynch, hắn bới móc thêm: “Cậu thấy nó thế nào?”

“Chà, thú thật là tôi chẳng thấy nó rút lại cái quái gì cả.”

“Tôi cũng thế,” Winters gầm lên; “thậm chí tôi còn coi nó là việc xát muối thêm vào vết thương. Wiegand, anh buộc phải làm tốt hơn thế. Anh không phải là kẻ có thể lòe bịp qua mắt tôi đâu.”

“Thưa ngài, đó là bản đính chính duy nhất tôi có thể viết ra.”

“Không, không phải thế đâu, thưa ngài, và nếu anh còn dám thốt lên câu đó một lần nữa, anh sẽ tự chịu hậu quả đắt đỏ đấy, vì tôi sẽ nện cho anh nhừ tử thiếu điều mất mạng luôn, và thề có—, thưa ngài, tôi chẳng thèm hứa hẹn là sẽ tha cho anh cái thiếu điều ấy đâu đấy. Tôi muốn anh phải hiểu rằng tôi đã đòi hỏi một văn bản hoàn toàn khác, và anh bắt buộc phải ký vào tờ văn bản đó.”

“Ông Winters, tôi bảo đảm với ông rằng tôi không hề có ý chọc giận ông, nhưng đồng thời, tôi hoàn toàn không tài nào viết ra được một văn bản nào khác ngoài cái văn bản tôi vừa viết. Nếu ông đã quyết tâm ép tôi phải ký kết thứ gì đó, thì tay của Philip Lynch phải là kẻ viết theo lời đọc của ông, và nếu sau khi viết xong mà tôi có thể đặt bút ký thì tôi sẽ làm, nhưng một tài liệu mà ông khẳng định là phải nhận được từ tôi, tôi đời nào ký nổi. Tôi nói thật đấy.”

“Được rồi, thưa ngài, chuyện gì cần làm thì phải làm cho nhanh, vì tôi ở đây đủ lâu lắm rồi đấy. Tôi sẽ uốn nắn chuyện này theo một hình thức khác (rồi hắn chỉ tay vào tờ giấy); bộ mày không biết là những cáo buộc đó hoàn toàn bịa đặt sao?”

“Tôi không biết.”

“Mày biết chúng là thật chứ?”

“Theo kiến thức cá nhân của tôi thì không.”

“Thế sao mày lại đem in chúng ra?”

“Bởi vì nếu được xem xét một cách đúng đắn trong ngữ cảnh của chúng, chúng không phải là cáo buộc, mà là những gợi ý thích đáng và hữu ích nhằm giải đáp các thắc mắc của một độc giả từng nêu ra những sự kiện không tài nào lý giải nổi.”

“Mày không biết là tao thừa biết chúng là đồ giả mạo à?”

“Nếu ông biết thế, cách xử sự đúng đắn nhất là đơn giản phủ nhận chúng và yêu cầu mở một cuộc điều tra.”

“Và MÀY tự cho mình cái quyền bắt TAO phải đứng ra phủ nhận bất cứ thứ gì mày hứng lên viết và in ra chắc?”

Đến câu hỏi đó thì hình như tôi không đáp lại lời nào, và hắn bối rối gầm lên tiếp:

“Thôi nào, chúng ta nói chuyện chừng ấy là đủ lắm rồi. Ta muốn câu trả lời dứt khoát của ngươi—ngươi có viết bài báo đó hay không?”

“Vì danh dự, tôi không thể tiết lộ ai là kẻ viết nó.”

“Mày không hề nhìn thấy nó trước khi đem in sao?”

“Chắc chắn là có rồi, thưa ngài.”

“Và mày coi nó là thứ thích hợp để đem ra phổ biến à?”

“Chắc chắn như đinh đóng cột, thưa ngài, bằng không tôi đã chẳng đời nào đồng ý cho nó xuất hiện. Về tác giả của nó thì tôi không thể hé răng nửa lời, nhưng việc cho đăng tải nó thì tôi xin hoàn toàn gánh chịu trách nhiệm cá nhân duy nhất.”

“Và mày có chịu đính chính nó hay không?”

“Ông Winters, nếu việc tôi từ chối ký vào một văn bản như ông vừa đòi hỏi buộc tôi phải gánh chịu tất cả những gì ngôn từ của ông trong căn phòng này ám chỉ một cách rõ mồn một, vậy thì xin cho phép tôi được dành ra vài phút để cầu nguyện.”

“Cầu nguyện!—mày á, đây đâu phải giờ cầu nguyện của mày—thời điểm để mày cầu nguyện là lúc mày đang ngồi viết mấy cái—cáo buộc dối trá kia kìa. Mày có chịu ký hay không?”

“Ông đã có câu trả lời của tôi rồi.”

“Cái gì! Mày vẫn dám từ chối ư?”

“Đúng vậy, thưa ngài.”

“Nhận lấy cái này đi vậy,” và đến lúc này thì sự kinh ngạc cùng niềm nhẹ nhõm khôn tả dâng lên trong tôi khi hắn chỉ rút ra một sợi roi da bò thay vì thứ mà tôi hằng đè nặng lo sợ—một cây gậy tày hoặc một khẩu súng lục. Vừa nói, hắn vừa vung roi quất giáng xuống tai trái của tôi theo chiều chúc xuống, tựa hồ như muốn xé toạc nó ra, rồi tiếp tục phang vào bên má. Trong lúc hắn lùi ra xa để tìm khoảng trống tung ra một cú đánh hiệu quả hơn, lần đầu tiên tôi chớp được cơ hội ngàn vàng trong hiểm nguy để đứng phắt dậy, và tôi đã làm thế trong lòng dâng trào một niềm thương cảm tột độ dành cho hắn, khi nghĩ rằng một kẻ vốn dĩ mang sẵn sự đĩnh đạc, uy quyền và cao quý bẩm sinh lại có thể, vì những cám dỗ của tiểu bang này, cùng những giao du và tham vọng sai lầm, bị tha hóa sâu sắc đến mức tìm thấy ở sự tàn bạo đó bất kỳ điều gì mà hắn có thể gọi là sự thỏa mãn—nhưng niềm hy vọng lớn lao cho tất cả chúng ta nằm ở sự tiến bộ và phát triển, và John B. Winters, tôi tin là rồi sẽ có lúc lĩnh hội được cảm xúc của tôi.

Hắn tiếp tục nện tôi bằng toàn bộ sức lực to lớn của mình, cho đến khi hoàn toàn mệt mỏi, kiệt sức và thở hổn hển. Tôi vẫn kiên định với mục đích phòng thủ phi bạo lực của mình, và không dùng đôi tay vào việc gì khác ngoài việc bảo vệ cái đầu cùng khuôn mặt khỏi những vết thương tích sâu hơn. Cơn đau thuần túy phát sinh từ những đòn roi mà hắn giáng lên cơ thể tôi dĩ nhiên chỉ là thoáng qua, và y phục trên người phần nào đã làm giảm bớt sự khắc nghiệt của nó, y như cách chúng giờ đây đang che giấu mọi dấu vết còn sót lại.

Đến khi hắn cho là đã xong việc, hắn liền cầm lấy phần chuôi của hung khí và khua khoắng nó ngay trước mặt tôi, cảnh báo tôi, nếu tôi hiểu đúng ý hắn, rằng sẽ còn nhiều đòn đau hơn nữa chờ sẵn, đồng thời bồi thêm rằng nếu tôi còn dám cả gan nhắc đến tên hắn trên mặt báo một lần nào nữa, dù là trên tờ báo của tôi hay bất kỳ ấn phẩm công cộng nào khác, hắn sẽ cắt đứt tai trái của tôi (và tôi dám cá là hắn không nói đùa) rồi tống cổ tôi về với gia đình trong dạng một kẻ bị thương tật rõ mồn một, để làm tấm gương tày giang cho tất cả lũ ranh con thấp hèn dám giở trò tống tiền các quý ông và bôi nhọ danh tiếng của họ. Và khi hắn ra tay phẫu thuật, hắn báo trước rằng công cụ của hắn sẽ không phải là roi da mà là dao nhọn.

Nói xong câu đó, hắn lủi ra khỏi phòng mà không có ông Lynch đi kèm, theo trí nhớ của tôi là vậy, bởi tôi ngồi phịch xuống bên cạnh ông Lynch và thốt lên: “Gã này điên rồi—hắn ta hoàn toàn phát điên—hành động này sẽ hủy hoại đời hắn—đó là một sai lầm—sẽ là thiếu độ lượng nếu tôi đem vạch mặt hắn, dẫu cho tôi vừa nhận phải bao nhiêu đối xử tồi tệ ở đây đi chăng nữa, ít nhất là cho đến khi hắn có thời gian tĩnh tâm suy ngẫm về sự việc. Tôi sẽ không vội vàng đâu.”

“Winters lúc này đang nổi trận lôi đình thôi,” ông Lynch đáp lời, “nhưng khi tĩnh tính lại, hắn là một trong những gã tuyệt vời nhất tôi từng gặp. Thực ra, hắn từng bảo tôi lý do hắn không gặp anh ở trên lầu là để tha cho anh cái sự nhục nhã vì bị ăn đòn trước mặt kẻ khác.”

Tôi xin mạnh dạn trình bày rằng câu nói hớ hênh đó của Philip Lynch đã kết tội hắn ta là kẻ đồng lõa từ trước với những ý đồ của ông Winters, bất kể chúng có là gì đi chăng nữa, hoặc ít nhất cũng biết rõ dụng ý muốn hành hung tôi của hắn, nhưng tôi xin nhường lại cho thiên hạ phán xét xem một vị chủ bút đáng ăn bao nhiêu roi chửi khi dám lừa phỉnh một kẻ yếu ớt, theo chủ nghĩa bất bạo động đồng thời cũng là một nhà xuất bản, vào cái chuồng riêng của hắn để bị trót lọt đánh roi da, nếu không muốn nói là tồi tệ hơn thế, chỉ vì tội in ra thứ mà chín trong số mười người, cả nam lẫn nữ, đang bàn tán rôm rả ngoài phố.

Trong lúc viết bản tường thuật này, tôi đã nghĩ ra hai giả thuyết có khả năng xảy ra đối với vụ tấn công kỳ quái nhất này: Thứ nhất—Mục đích có thể đơn giản là ép buộc tôi phải thốt ra những lời thú nhận kiểu như nếu rơi vào tay của tiền tài và thế lực thì sẽ tống tôi vào Nhà tù tiểu bang vì tội phỉ báng. Tuy nhiên, điều này có vẻ khó xảy ra, bởi bất kỳ lời khai nào được rút ra từ sự sợ hãi hoặc vũ lực đều không thể trở thành bằng chứng hợp pháp hoặc sẽ bị bẻ lái để mất hết giá trị. Những lời khai bị thèm khát đến vậy chắc chắn phải được dùng cho một mục đích khác. Thứ hai—Giả thuyết còn lại mang sắc thái tăm tối và chủ ý giết người đến nỗi tôi cảm thấy rợn ngáy khi phải viết ra nó, song ngặt nỗi vì khả năng tôi bị xử tử vào thời điểm sớm nhất có thể có lẽ đã được định đoạt sẵn rồi, tôi cảm thấy mình cần phải làm tất cả những gì có thể trước khi giờ G điểm, ít nhất là để chỉ cho người ta cách đập nát cái nền cai trị độc tài và băng đảng đã cướp đi của toàn cõi Nevada sự tự do thực sự, nếu không muốn nói là cả nhân phẩm con người. Dù tôi không đưa ra giả thuyết này dưới dạng một “cáo buộc”, nhưng tôi cảm thấy với tư cách là một công dân Mỹ, tôi vẫn có quyền suy nghĩ và lên tiếng bày tỏ suy nghĩ của mình ngay cả trên vùng đất của Sharon và Winters, và việc đó cũng chính đáng chẳng kém gì bất kỳ sự tàn bạo hiển hiện nào khác. Tôi xin đưa ra vấn đề dưới dạng một gợi ý có thể giải thích cho các cơ quan chức năng có thẩm quyền cùng đông đảo quần chúng mà họ đại diện hiểu rõ về một sự thật dù đã được xác thực nhưng vẫn phủ một lớp màn u ám đầy bí ẩn. Kịch bản của vụ tấn công có thể đã diễn ra như sau:

Thứ nhất—Gieo rắc nỗi sợ hãi cho tôi bằng cách làm cho tôi ý thức được sự bất lực của chính mình sau khi đã đưa ra những lời đe dọa thực tế nhưng không hợp pháp nhằm vào tính mạng tôi.

Thứ ba—Nã đạn vào đầu tôi ngay khoảnh khắc tôi vừa đặt bút ký, qua đó ngăn chặn mọi cơ hội giải thích về sau có thể tước đi vết nhơ đó.

Thứ tư—Philip Lynch sẽ bị ép buộc phải khai trước tòa rằng tôi bị John B. Winters giết trong lúc tự vệ, bởi việc kết tội Winters sẽ đồng thời lôi cổ hắn vào tù với tư cách là tòng phạm. Phỏng đó là kịch bản trong tâm trí John B. Winters, thì chẳng có gì cứu nổi mạng sống của tôi ngoài sự từ chối ngoan cố không chịu ký kết, khi mà sự từ chối ấy hiển hiện rõ ràng trước mắt tôi như sự lựa chọn duy nhất đối diện với cái chết.

Tuyên bố kỳ lạ mà ông Winters nhắm vào tôi, rằng lòng thương hại đã cứu mạng tôi vào tối thứ Tư tuần trước, gần như buộc tôi phải tin rằng ban đầu hắn không hề có ý định để tôi bước ra khỏi căn phòng đó còn sống; và lý do vì sao tôi được tha mạng, nếu không phải nhờ phép thôi miên hay một thứ quyền lực vô hình nào đó, thì tôi đành chịu không tài nào đoán nổi. Càng ngẫm nghĩ về sự việc này, tôi càng thấy cách giải thích rợn người này có độ chính xác cao.

Lẽ ra tôi đã có thể tha thứ cho cả ông Winters lẫn công chúng khi không kể lại những chuyện này nếu bản thân hắn giữ im lặng, nhưng vì hắn vừa lên tiếng vừa dung túng cho một tuyên bố bóp méo sự thật mọc rễ trên tờ Gold Hill News, tôi cảm thấy có trách nhiệm với chính mình, với cộng đồng này, cùng toàn bộ nền báo chí độc lập của Mỹ và Anh quốc, phải cung cấp một bản tường thuật chân thực về cái điều mà ngay cả tờ Gold Hill News cũng phải thốt lên là một vụ bê bối ô nhục, và là thứ mà nó vô cùng hối tiếc do một lỗi đánh điện tín nào đó trong bản tường thuật. [Kẻ nào đã nhận được những bức điện tín sai lệch đó nhỉ?]

Dù hắn có thể thấy chưa khôn ngoan khi tước đoạt mạng sống của tôi ngay lúc này, nhưng việc xuất bản bài viết này chắc chắn sẽ buộc Tướng Winters (với những quan điểm kỳ quái của ông ta về quyền miễn nhiễm trước mọi lời phê bình từ tôi) phải hạ quyết tâm trừ khử tôi bằng bạo lực, dẫu cho có thể mất tới hàng năm trời để thực hiện. Bất chấp điều đó, tôi không hề mang lòng oán hận hắn; và nếu W. C. Ralston cùng William Sharon, cùng các thành viên khác trong Băng đảng Khai mỏ và Xay xát San Francisco cảm thấy rằng ông ta là nhân vật ưu tú nhất trong số mọi người ở Tiểu bang này lẫn California phù hợp để giám sát và kiểm soát các công việc của Yellow Jacket, thì cho đến khi tôi đủ sức bỏ phiếu đánh bại hơn một nửa số cổ phiếu của họ, tôi đoán là hắn vẫn sẽ được giữ lại để tiếp tục tô điểm cho cái chức vụ hiện tại của mình.

Trong lúc này, tôi nhiệt liệt hoan nghênh tất cả những ai nắm được bất kỳ loại tội ác tày trời nào chỉ có thể được chữa lành thông qua việc phơi bày ra ánh sáng (và những ai muốn vạch trần chúng nếu được bảo đảm không bị phản bội dưới những lời đe dọa nạt nộ), hãy liên hệ với tờ PEOPLE’S TRIBUNE; bởi cho đến khi tôi bị sát hại, chừng nào tôi còn vớt vát được chút phương tiện để ấn hành, tôi vẫn dự định sẽ tiếp tục các nỗ lực của mình nhằm chí ít là hồi sinh các quyền tự do của Tiểu bang, kiềm chế sự áp bức, và mang lại lợi ích cho thế giới của loài người cùng trái đất của Thượng đế.

CONRAD WIEGAND.

[Thật là một điều đáng tiếc khi Cảnh sát trưởng bị tống giam bên ngoài, bởi lẽ sự khôn ngoan của một vị tướng dân quân cùng một chủ bút tên tuổi đã thất bại trong việc nhận thức rằng việc trừng trị đích đáng đứa trẻ yếu ớt, chậm phát triển này đáng lẽ phải được thực hiện ngoài đường phố, nơi mà kẻ khốn khổ ấy còn có cơ hội cắm cổ chạy thoát thân. Khi một nhà báo vu khống một công dân, hoặc tấn công danh dự của người ta dựa trên những lời đồn thổi, hắn xứng đáng bị tát cho bầm mặt, ngay cả khi hắn chỉ là một kẻ yếu ớt “bất bạo động”; nhưng một đối thủ quân tử ít ra cũng sẽ chừa cho một con cừu non như thế cơ hội được dùng đôi chân của mình trong những tình huống như vậy.—M. T.:]

Nguồn: Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.