Những chuyến phiêu lưu gian khó

Lượt đọc: 639 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 67

❊ ❊ ❊

Tôi xin phép được trích dẫn tiếp từ nhật ký của mình:

Tôi nhận thấy cơ quan Lập pháp quốc gia bao gồm chừng nửa tá người da trắng và khoảng ba, bốn mươi người bản xứ. Đó là một hội đồng tối tăm. Các quý tộc và bộ trưởng (tổng cộng khoảng một tá) chiếm phần phía cực trái của hội trường, với David Kalakaua (Chủ quản Hậu cung của Nhà vua) và Hoàng tử William đứng đầu. Chủ tịch Quốc hội, Điện hạ M. Kekuanaoa — [Kekuanaoa không mang dòng máu hoàng tộc. Ông có được tước vị vương giả từ người vợ, vốn là ái nữ của Kamehameha Đại đế. Dưới các chế độ quân chủ khác, dòng nam được ưu tiên hơn dòng nữ khi truy nguyên gia phả, nhưng ở đây thì ngược lại — dòng nữ nắm thế thượng phong. Lý do của họ vô cùng hợp lẽ, và tôi xin mượn nó để tiến cử với tầng lớp quý tộc châu Âu: Họ bảo rằng thật dễ để biết ai là mẹ của một đứa trẻ, nhưng ôi thôi, v.v., v.v.] — cùng Phó Chủ tịch (một người da trắng), ngồi trên cái gọi là bục diễn đàn, nếu tôi có thể gọi như thế. Chủ tịch chính là thân phụ của Nhà vua. Ông là một cụ ông tám mươi tuổi hoặc xấp xỉ thế, dáng người thẳng thắn, vạm vỡ, nét mặt uy nghi, tóc bạc phơ và làn da ngăm rám nắng. Cụ ăn mặc giản dị nhưng tươm tất trong chiếc áo khoác bằng vải nỉ xanh, áo ghi-lê trắng và quần dài trắng, không một vết nhơ, chút bụi hay tỳ vết nào. Cụ mang một phong thái điềm tĩnh, bệ vệ và có sự hiện diện của một bậc quý nhân. Hơn nửa thế kỷ trước, cụ từng là một thanh niên tráng kiện và là một chiến binh lỗi lạc dưới trướng vị tướng tài ba khét tiếng Kamehameha I. Hiểu biết về cuộc đời cụ gợi lên trong đầu những suy ngẫm đại loại như thế này: “Con người này, trần truồng như khi mới sinh ra, tay cầm câu liêm và giáo mác, đã từng xung phong đứng đầu một lũ dã nhân để lao vào những lũ dã nhân khác từ hơn một thế hệ rưỡi trước, đắm chìm trong chém giết và biển máu; từng quỳ gối thành kính thờ phụng những hình nhân bằng gỗ; từng chứng kiến hàng trăm đồng bào của mình bị đem hiến tế cho thần linh gỗ trong những ngôi đền ngoại giáo, vào thời điểm mà chưa một dấu chân giáo sĩ nào đặt lên mảnh đất này, khi cụ chưa từng nghe đến vị Thượng Đế của người da trắng; từng tin rằng kẻ thù có thể âm thầm cầu nguyện cho mình chết đi; từng trải qua những ngày tháng thời thơ ấu mà ở đó, luật pháp trừng phạt bằng cái chết nếu một người đàn ông ăn uống cùng vợ, hoặc nếu một kẻ thường dân để bóng mình rơi lên người Nhà vua — và giờ đây, hãy nhìn cụ xem: một Kitô hữu có học thức; ăn mặc lịch sự, bảnh bao; một quý ông cao ngạo, lịch lãm; một kẻ từng đi đây đi đó phần nào, từng là khách quý được vinh danh chốn hoàng gia châu Âu; một người thành thạo việc nắm giữ cương vị của một chính phủ khai sáng, am tường chính trị nước nhà và sở hữu vốn kiến thức thực tế phổ thông. Hãy nhìn cụ kìa, ngồi đó chủ trì các cuộc thảo luận của một cơ quan lập pháp, giữa những người da trắng — một nhân vật trang nghiêm, đường bệ, ra dáng một nhà chính trị, và trông có vẻ tự nhiên, thích hợp với chiếc ghế ấy cứ như thể cụ sinh ra đã thuộc về nơi đó và chưa từng rời khỏi nó trong suốt cuộc đời mình. Trải nghiệm trong cuộc đời đầy biến động của cụ ông này mới châm biếm làm sao trước những phát minh rẻ tiền của tiểu thuyết lãng mạn!”

Việc cải đạo sang Kitô giáo của người bản xứ hầu như chẳng hề làm suy yếu đi chút dị đoan man rợ nào của họ, huống chi là tiêu diệt chúng. Tôi vừa nhắc đến một trong số đó. Người ta vẫn còn tin rằng nếu kẻ thù lấy được bất kỳ vật dụng nào thuộc về bạn, hắn có thể quỳ gối lên món đồ ấy và cầu nguyện cho bạn chết toi. Thế nên, không ít người bản xứ buông xuôi và chết chỉ vì tưởng tượng ra cảnh kẻ thù đang bắt mình trải qua một chuỗi những lời cầu nguyện gây tổn hại. Trò cầu nguyện cho ai đó chết đi này thoạt nghe có vẻ ngớ ngẩn hết sức, nhưng rồi khi chúng ta nhớ lại một số nỗ lực trên bục giảng của một vài vị mục sư phe ta, mọi thứ bỗng trở nên có lý đến lạ kỳ.

Thuở trước, tại các hòn đảo này, không chỉ tục đa thê là chuyện thường tình, mà thục đa phu cũng phổ biến chẳng kém. Một số phụ nữ bản xứ thuộc tầng lớp quý tộc có tới sáu đời chồng. Một người phụ nữ có ngần ấy ông chồng không chung sống với tất cả bọn họ cùng một lúc, mà luân phiên ở với từng người vài tháng. Một dấu hiệu đã được thỏa thuận trước sẽ được treo ngoài cửa nhà nàng trong suốt những tháng đó. Khi tấm biển được tháo xuống, nó mang ý nghĩa: “NGƯỜI TIẾP THEO.”

Thời đó, phụ nữ được dạy dỗ nghiêm ngặt phải “biết thân biết phận”. Phận sự của nàng là làm tất cả mọi việc, hứng chịu mọi trận đòn roi, lo liệu toàn bộ thực phẩm, và tự bằng lòng với những gì còn sót lại sau khi chúa tể của đời nàng đã ăn xế xong. Không những bị luật pháp cổ xưa cấm đoán dưới hình phạt tử hình việc ăn chung mâm với chồng hay bước lên xuồng, nàng còn bị tước quyền — với cùng mức hình phạt — thưởng thức chuối, dứa, cam và các loại trái cây thượng hạng khác vào bất cứ lúc nào hay ở bất cứ nơi đâu. Nàng buộc phải bó hẹp bản thân quanh món “poi” và lao động vất vả. Những kẻ ngoại giáo dốt nát và tội nghiệp này dường như có một thứ linh cảm mang tính mò mẫm về hậu quả của việc người phụ nữ ăn trái cây trong vườn Địa Đàng, và họ chẳng dại gì chuốc thêm rủi ro nào nữa. Nhưng các nhà truyền giáo đã đập tan cái trật tự đầy mãn nguyện ấy. Họ giải phóng phụ nữ và đưa nàng lên vị trí bình đẳng với đàn ông.

Người bản xứ có một phong tục vô cùng lãng mạn là chôn sống một số đứa con của họ khi gia đình trở nên đông đúc quá mức cần thiết. Các nhà truyền giáo cũng nhúng tay vào chuyện này và chặn đứng nó lại.

Cho đến tận ngày nay, người bản xứ vẫn có khả năng nằm xuống và chết bất cứ khi nào họ muốn, mặc cho cơ thể có đang mắc bệnh gì hay không. Nếu một tên Kanaka nổi hứng muốn chết, thì đó là dấu chấm hết cho hắn; chẳng ai có thể thuyết phục hắn bám trụ lại; tất cả bác sĩ trên đời cũng chẳng cứu nổi hắn.

Một sự xa hoa mà họ tận hưởng hơn bất cứ thứ gì trên đời, chính là một đám tang linh đình. Nếu ai đó muốn tống khứ một kẻ bản xứ rắc rối, họ chỉ cần hứa hẹn cho hắn một tang lễ thật hoành tráng kèm theo giờ giấc cụ thể, thế là hắn sẽ có mặt đúng từng phút — ít nhất là phần di hài của hắn.

Giờ đây, tất cả người bản xứ đều là tín đồ Kitô giáo, nhưng nhiều người trong số họ vẫn đào ngũ sang phò tá Vị Thần Cá Mập Vĩ Đại để tìm kiếm sự cứu trợ tạm thời trong lúc hoạn nạn. Một trận phun trào của ngọn núi lửa Kilauea vĩ đại, hay một cơn địa chấn, luôn làm nổi lên bề mặt lòng trung thành tiềm ẩn dành cho Thần Cá Mập Vĩ Đại. Người ta đồn đại rằng Nhà vua — một quý ông Kitô giáo có học thức, văn minh và lịch lãm như chúng ta đều rõ — vẫn quay về với các vị thần của tổ tiên để cầu cứu khi thảm họa chực chờ. Một chủ đồn điền bắt được một con cá mập, và một trong những người bản xứ đã theo đạo của ông liền chứng minh sự giải thoát của mình khỏi gông cùm dị đoan cổ xưa bằng cách phụ giúp mổ xẻ con con cá mập theo một lề lối bị cấm đoán bởi tín điều mà ông ta đã từ bỏ. Nhưng cơn hối hận chẳng mấy chốc bắt đầu đày ải ông. Ông trở nên ủ dột và tìm kiếm sự cô độc; gặm nhấm tội lỗi của mình, từ chối ăn uống và cuối cùng tuyên bố rằng ông phải chết và đáng phải chết, bởi ông đã phạm tội chống lại Thần Cá Mập Vĩ Đại và sẽ chẳng bao giờ tìm lại được sự bình yên. Ông trơ lì trước mọi lời khuyên can lẫn chế giễu, rồi chỉ trong vòng một hai ngày, ông lăn ra giường và qua đời, dẫu chẳng hề lộ ra một triệu chứng bệnh tật nào. Đứa con gái nhỏ của ông nối gót cha và chịu chung số phận ngay trong tuần đó. Nếp dị đoan đã ngấm sâu vào máu thịt của người bản xứ và việc nó bùng phát lên trong cơn hoạn nạn cũng là điều hiển nhiên. Bất cứ nơi nào người ta đặt chân đến trên các hòn đảo này, họ sẽ bắt gặp những đống đá nhỏ ven đường, phủ đầy những cỗ lễ vật bằng lá cây, do người bản xứ đặt ở đó để xoa dịu ác thần hoặc tôn vinh các vị thần linh bản địa thuộc về thần thoại thuở trước.

Ở các vùng nông thôn của bất kỳ hòn đảo nào, lữ khách hàng giờ lại bắt gặp những nhóm thiếu nữ da ngăm đang tắm suối hoặc tắm biển trong tình trạng không mảnh vải che thân mà chẳng hề tỏ ra chút nhiệt tình quá mức nào trong việc che đậy thân thể khỏa thân của mình. Khi các nhà truyền giáo mới đến định cư tại Honolulu, phụ nữ bản xứ thường xuyên đến thăm hỏi gia đình họ từng ngày, thậm chí chẳng thèm khoác lên mình lấy một chút ngượng ngùng. Người ta thấy thật khó khăn để thuyết phục họ rằng hành động này có phần kém tế nhị. Cuối cùng, các nhà truyền giáo đã cung cấp cho họ những chiếc áo rộng bằng vải calico dài thườn thượt, và thế là mọi rắc rối chấm dứt — vì đám phụ nữ sẽ kéo qua thị trấn, mình trần như nhộng, kẹp những chiếc áo choàng dưới nách, diễu hành đến nhà các nhà truyền giáo rồi mới chịu mặc vào!

Chẳng mấy chốc, người bản xứ bày tỏ niềm đam mê mãnh liệt với quần áo, nhưng rồi ai nấy sớm nhận ra rằng họ chỉ muốn có nó để làm oai. Các nhà truyền giáo nhập về một số lượng mũ nón cùng các trang phục nam nữ khác, tổ chức một đợt phát chẩn toàn dân và nài nỉ mọi người đừng kéo đến nhà thờ trong tình trạng trần truồng như mọi khi vào Chủ Nhật tới. Và họ đã làm đúng như vậy; nhưng tinh thần vô vị tha của dân tộc lại xui khiến họ chia chát cho những người hàng xóm láng giềng đã bỏ lỡ buổi phát quần áo, để rồi vào ngày Sabát tuần sau, những vị mục sư tội nghiệp hầu như chẳng thể giữ nổi vẻ mặt nghiêm nghị trước đoàn giáo chúng khổng lồ của mình. Giữa lúc đang đọc thánh thi, một quý bà da nâu bệ vệ sẽ lướt thướt bước lên lối đi với một bầu trời kiêu kỳ, trên người chẳng có thứ gì ngoài chiếc mũ ống khói cao ngất và một đôi găng tay rẻ tiền; một quý bà khác nối gót theo sau, lỉnh kỉnh trong độc nhất chiếc áo sơ mi của đàn ông; một người khác lại hiên ngang tiến vào với mấy ống tay áo của một bộ đồ calico sặc sỡ buộc quanh eo, phần còn lại của bộ cánh lê thê đằng sau trông như đuôi công đang lúc nghỉ ngơi; một gã “trai tơ” Kanaka bệ vệ sẽ hiên ngang bước vào với chiếc mũ phụ nữ đội ngược đầu — chỉ thế thôi và không gì khác; theo sau hắn sẽ là một gã đồng đội khác với hai ống quần buộc quanh cổ, phần cơ thể còn lại hoàn toàn tự do phóng khoáng; chốt lại đoàn diễu hành là một quý ông khác được trang hoàng giản dị bằng một chiếc cà vạt đỏ rực và một chiếc áo ghi-lê sọc.

Những sinh linh tội nghiệp ấy rạng rỡ niềm tự mãn và hoàn toàn vô thức trước bất kỳ sự ngớ ngẩn nào trên diện mạo của mình. Họ ngắm nhìn lẫn nhau với sự ngưỡng mộ đầy hạnh phúc, và dễ dàng nhận thấy rằng các thiếu nữ đang săm soi trang phục của nhau tự nhiên như thể họ vốn sinh ra ở một xứ sở Kinh Thánh và thừa biết nhà thờ được sinh ra để làm gì; đây chính là bằng chứng về một nền văn minh đang hé rạng. Cảnh tượng mà giáo đoàn bày ra quá đỗi phi thường và đồng thời cũng vô cùng cảm động, khiến các nhà truyền giáo thấy thật khó lòng bám sát kinh thánh để tiếp tục buổi lễ; và chẳng mấy chốc, khi những đứa con ngây thơ của mặt trời bắt đầu màn đổi chác quần áo hỗn loạn ngay giữa buổi họp công khai để rồi tạo ra những hiệu ứng quái đản không sao cưỡng lại nổi trong lúc thay trang phục, chẳng còn cách nào khác ngoài việc kết thúc nhanh gọn bằng ban phép lành và giải tán đám đông kỳ quái ấy.

Ở đất nước chúng ta, trẻ em hay chơi trò “đóng giả gia đình”; và tương tự theo cách gọi hoa mỹ nhưng thu nhỏ ấy, những người trưởng thành ở đây, với tư liệu nghèo nàn của một lãnh thổ eo hẹp và dân cư thưa thớt, đang chơi trò “đế chế”. Kìa là Quốc vương bệ hạ, với mức thu nhập ngang ngửa thám tử New York là ba mươi hay ba mươi lăm nghìn đô la một năm trích từ “danh sách dân sự hoàng gia” và “lãnh địa hoàng gia”. Ngài ngự trong một căn “cung điện” khung gỗ hai tầng.

Và kìa là “gia đình hoàng gia” — cái tổ kén quen thuộc gồm các ông hoàng, bà chúa, anh em họ hàng và đám ăn bám hoàng tộc vô tích sự khác vốn thường thấy ở các chế độ quân chủ — tất cả đều cắm một cái thìa vào cái máng cháo quốc gia, và đều mang những tước hiệu đại loại như Điện hạ Hoàng tử hay Công chúa X Y Z nào đó. Tuy nhiên, rất ít người trong số họ có thể vươn sự lộng lẫy hoàng gia của mình đến mức ngồi xe ngựa; họ chưng diện chú ngựa Kanaka tiết kiệm hoặc “lết bộ” chung với tầng lớp thứ dân.

Rồi đến Ngài Đại thần “Chủ quản Hậu cung” — một chức vụ nhàn hạ, bởi bệ hạ tự tay mặc quần áo lấy, ngoại trừ những lúc ngài về ở ẩn tại Waikiki và khi ấy thì ngài chẳng cần mặc gì sất.

Kế tiếp là Ngài Tổng tư lệnh Lực lượng Cận vệ, với lực lượng bao gồm đúng bằng số binh lính thường được đặt dưới quyền một hạ sĩ ở các xứ sở khác.

Tiếp theo là Quan Quản gia Hoàng gia và Đại Hầu tước Trực ban — những chức sắc cao cấp với mức lương khiêm tốn và chẳng có mấy việc để làm.

Rồi đến Ngài Cận thần Đệ nhất Phòng ngủ — một chức vụ vừa nhàn hạ lại vừa uy nghi.

Kế đến là Ngài Thủ tướng, một kẻ người Mỹ phản bội quê hương đến từ New Hampshire, toàn là mõm, thói hư vinh, lời khoác lác và sự dốt nát, một luật sư hạng “luật sư cào cào”, một kẻ lừa đảo bản chất, một tín đồ hèn mọn sùng bái chiếc vương quyền trên đầu mình, một loài bò sát chưa bao giờ chán ngấy việc chế nhạo mảnh đất sinh thành hay ca tụng vương quốc rộng mười mẫu đất đã nhận nuôi hắn — mức lương 4.000 đô la một năm, oai vệ tột cùng và chẳng có bổng lộc gì.

Sau đó là Ngài Bộ trưởng Tài chính Đế quốc, kẻ quản lý một triệu đô la tiền công quỹ mỗi năm, dâng biểu “ngân sách” thường niên với nghi thức long trọng, khoác lác vô biên về “tài chính”, đề xuất những kế hoạch bề thế nhằm thanh toán “nợ công” (trị giá 150.000 đô la), và làm tất cả những điều đó với mức lương 4.000 đô la một năm cùng vinh quang không thể tưởng tượng nổi.

Kế tiếp là Ngài Bộ trưởng Chiến tranh, kẻ nắm quyền cai quản các đạo quân hoàng gia — chúng bao gồm hai trăm ba mươi tên Kanaka mặc đồng phục, phần lớn là Chuẩn tướng, và nếu đất nước này có bề gì với một cường quốc nước ngoài thì có lẽ chúng ta sẽ được nghe tin từ họ. Tôi từng quen một người Mỹ mà danh thiếp khắc đồng có dòng chữ ấn tượng này: “Trung tá Bộ binh Hoàng gia.” Nói rằng anh ta tự hào về niềm vinh dự này thì quả là nói giảm nói tránh. Bộ trưởng Chiến tranh cũng phụ trách một số khẩu đại bác xoay cổ điển trên đồi Punch-Bowl, nơi những loạt đại bác chào mừng hoàng gia được bắn lên khi các chiến hạm nước ngoài cập cảng.

Tiếp theo là Ngài Bộ trưởng Hải quân — một kẻ trọc phú thống trị “hạm đội hoàng gia” (một chiếc tàu kéo hơi nước và một chiếc thuyền buồm sáu mươi tấn).

Và kế đến là Đức Giám mục Honolulu, chức sắc tối cao của “Giáo hội Quốc lập” — bởi khi các nhà truyền giáo Trưởng lão người Mỹ đã hoàn tất việc thu phục quốc gia này vào trạng thái Kitô giáo gọn nhẹ, hoàng tộc bản xứ liền nhảy vào và dựng lên phẩm giá vĩ đại của một “Giáo hội Quốc lập (Giám mục)” trên nền móng đó, đồng thời nhập khẩu một vị Giám mục giá rẻ làm sẵn từ nước Anh sang để cai quản. Sự hậm hực của các nhà truyền giáo chưa bao giờ được diễn tả trọn vẹn cho đến tận ngày nay, do thói tục chửi thề không được phép sử dụng.

Kế tiếp là Ngài Bộ trưởng Giáo dục Công cộng.

Tiếp theo là các vị Thống đốc Oahu, Hawaii, v.v., và sau đó là một tràng dài các Cảnh sát trưởng Cấp cao cùng đám té riu khác đông đến mức đếm không xuể.

Rồi còn có các vị Đặc sứ toàn quyền và Bộ trưởng Đại thần của Hoàng đế Pháp; Bộ trưởng của Nữ hoàng Anh; Bộ trưởng thường trú Hoa Kỳ; cùng khoảng sáu hoặc tám đại diện từ các quốc gia nước ngoài khác, tất cả đều mang những tước hiệu kêu rang, oai nghi lẫm liệt và phong thái bề thế nhưng tiết kiệm.

Hãy thử tưởng tượng toàn bộ sự hoa lệ này trong một “vương quốc” trò chơi trẻ con mà dân số chưa rớt nổi sáu mươi nghìn linh hồn!

Người dân đã quá quen thuộc với những tước hiệu chín khúc cùng đám tai to mặt lớn vĩ đại đến mức một vị hoàng thân nước ngoài chẳng gây nổi nhiều xôn xao ở Honolulu hơn một nghị sĩ miền Tây ở New York.

Và xin hãy nhớ rằng ở đây có một “trang phục triều đình” được quy định ngặt nghèo đến mức “choáng váng” khiến gã hề trong gánh xiếc trông thật nhạt nhòa và tầm thường khi đặt lên bàn cân so sánh; mỗi vị quan chức cao cấp Hawaii đều có một bộ đồng phục rực rỡ sắc màu, thêu chỉ vàng đặc trưng cho chức vị của mình — không bộ nào giống bộ nào, và thật khó để phân định bộ nào là “lòe loẹt” nhất. Nhà vua tổ chức các buổi “tiếp tân” định kỳ giống như các vị quân chủ khác, và khi những bộ đồng phục muôn hình vạn trạng này tụ hội ở đó — những kẻ mắt kém đành phải ngắm nhìn cảnh tượng qua một tròng kính khói. Nào phải có một sự tương phản đầy thỏa mãn giữa màn trình diễn thời hiện đại này với cảnh tượng mà tổ tiên của một số nhân vật sừng sỏ ấy đã bày ra cho các nhà truyền giáo vào ngày Chủ Nhật sau đợt phát quần áo thuở nào hay sao? Hãy chiêm ngưỡng những gì tôn giáo và văn minh đã tạo nên kìa!

Nguồn: Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.