Chính tại Thung lũng Sacramento vừa nhắc tới ấy, phần lớn các hoạt động khai thác vàng thời kỳ đầu mang lại nhiều lợi nhuận nhất đã diễn ra; và đến nay, ta vẫn có thể thấy ở một số nơi những triền dốc và thung lũng phủ cỏ bị cày xới, khoét rãnh và tàn phá bởi những kẻ vơ vét tham lam từ mười lăm, hai mươi năm trước. Bạn có thể thấy những vết tích tàn phá ấy trải rộng khắp California — và tại một số nơi như thế, nơi chỉ thấy đồng cỏ và rừng rậm — không một sinh vật sống, không một bóng nhà, không một cành cây hòn đá hay tàn tích sót lại, và không một âm thanh, thậm chí không một tiếng thì thầm để làm động lòng tĩnh lặng ngày Sabat — bạn sẽ thấy khó mà tin được rằng đã từng có ở đó một thành phố nhỏ sầm uứt dữ dội, với hai hay ba nghìn nhân khẩu, có tờ báo riêng, đội cứu hỏa, ban nhạc kèn đồng, lực lượng dân quân tình nguyện, ngân hàng, khách sạn, những cuộc diễu hành và diễn văn ồn ào mừng Ngày Quốc khánh, những sòng bạc nhạt nhòa khói thuốc, những lời thô tục và những gã đàn ông râu rậm đến từ muôn phương đủ mọi màu da, với những chiếc bàn chất đầy bụi vàng đủ làm ngân khố cho một tiểu vương quốc Đức — những con đường đông đúc náo nhiệt chuyện làm ăn — những lô đất trị giá bốn trăm đô la một foot mặt tiền — lao động, tiếng cười, âm nhạc, khiêu vũ, chửi thề, ẩu đả, đấu súng, đâm chém — một vụ khám nghiệm tử thi đẫm máu và một cái xác cho bữa sáng mỗi buổi sớm — tất cả những gì làm say lòng và tô điểm cho sự tồn tại — mọi tiện nghi và trang thiết bị của một thành phố trẻ đang phất lên, thịnh vượng và đầy triển vọng — để rồi giờ đây, chẳng còn lại gì ngoài một chốn hoang vu không sự sống, không nhà cửa.
Con người đã đi mất, những ngôi nhà đã biến tan, thậm chí tên tuổi của vùng đất ấy cũng rơi vào quên lãng. Ở không một xứ sở nào trong thời hiện đại, các thị trấn lại hoàn toàn chết chóc và biến mất triệt để như tại các vùng mỏ cũ của California.
Đó là một cộng đồng sục sôi, mãnh liệt và đầy bất an trong những ngày tháng ấy. Đó là một cộng đồng kỳ lạ. Đó là cộng đồng duy nhất mang tính chất ấy từng tụ hội trên thế giới này, và có lẽ thế giới sẽ chẳng bao giờ còn thấy lại một tập hợp tương tự. Bởi hãy quan sát xem, đó là sự hội tụ của hai trăm nghìn thanh niên — không phải những kẻ yếu đuối õng ẹo, diêm dúa, mang găng tay lụa, mà là những chàng trai trẻ vạm vỡ, cơ bắp, gan dạ, tràn trề sức sống và năng lượng, được phú bẩm một cách vương giả mọi phẩm chất để tạo nên một nam tính tuyệt đỉnh và hùng vĩ — chính là tinh hoa và lựa chọn hàng đầu trong số những con người hào hùng của thế giới. Không phụ nữ, không trẻ em, không những cựu binh lưng còng tóc bạc — chẳng có ai ngoài những chàng trai khổng lồ đứng thẳng, mắt sáng, cử động lẹ làng, tay chân vạm vỡ — cộng đồng kỳ lạ nhất, tốt đẹp nhất, và là đạo quân hào hiệp nhất từng bước qua những chốn hoang vu giật mình của một vùng đất chưa bóng người. Và giờ họ đang ở đâu? Tản mác đến tận cùng thế giới — hoặc già cua và tàn tạ trước tuổi — hoặc bị bắn hay đâm chết trong những vụ ẩu đả trên phố — hoặc chết vì những hoài bão tiêu tan và những trái tim tan vỡ — tất cả đã đi hết, hoặc gần như thế — những nạn nhân hiến dâng trên bàn thờ con bê vàng — cuộc tàn sát cao cả nhất từng đưa làn khói hy sinh bay thấu thiên đình. Nghĩ đến thật xót xa.
Đó là một cộng đồng tuyệt vời — bởi vì mọi kẻ chậm chạp, ngái ngủ, trì độn đều ở lại nhà — bạn chẳng bao giờ tìm thấy loại người ấy ở chốn biên ải — bạn không thể dựng nên những con người khai phá từ thứ vật liệu đó. Chính cộng đồng ấy đã mang lại cho California tiếng tăm về việc tạo ra những dự án kinh ngạc và thúc đẩy chúng tiến lên với một sự liều lĩnh, hào hoa đầy táo bạo, bất chấp chi phí hay hệ lụy, tiếng tăm mà vùng đất này vẫn mang cho đến tận ngày nay — và khi nơi đây hoạch định một bất ngờ mới, thế giới nghiêm nghị lại mỉm cười như thường lệ và bảo rằng: "Ừ, đúng là chất California xưa nay rồi."
Nhưng dạo ấy họ thô lỗ làm sao! Họ thực sự đắm chìm trong vàng, whisky, những trận ẩu đả và các vũ hội fandango, và hạnh phúc không sao tả xiết. Người thợ mỏ lương thiện cào từ một trăm đến một nghìn đô la vàng từ khoảnh đất của mình mỗi ngày, thế rồi với các sòng bạc cùng những trò giải trí khác, sáng hôm sau anh ta chẳng còn nổi một xu nếu gặp chút vận may. Họ tự nấu thịt xông khói và đậu, tự đính cúc áo, tự giặt áo sơ mi — những chiếc áo sơ mi len màu xanh; và nếu ai đó muốn gây gân hấn mà chẳng phải chờ đợi phiền toái gì, tất cả những gì anh ta cần làm là xuất hiện chốn đông người với một chiếc áo sơ mi trắng hoặc một chiếc mũ phớt cao lêu nghêu, thế nào cũng được thỏa mãn ngay. Bởi vì những con người ấy căm ghét tầng lớp quý tộc. Họ nuôi một mối thù hằn đặc biệt và cay độc đối với thứ mà họ gọi là "áo sơ mi là lượt" (biled shirt).
Đó là một xã hội hoang dã, tự do, hỗn loạn và kỳ quái! Đàn ông — chỉ là những đám đông đàn ông vạm vỡ lúc nhúc — không chút trẻ con, không bóng dáng phụ nữ nào xuất hiện ở bất cứ đâu!
Thời ấy, những người thợ mỏ thường tụ tập thành đám đông để được thoáng thấy cái cảnh tượng hiếm hoi và diễm phúc ấy: một người phụ nữ! Những bậc cao niên kể lại rằng, ở một trại nọ, tin tức lan truyền từ sáng sớm rằng một người phụ nữ đã đến! Họ đã nhìn thấy chiếc váy chintz phấp phới treo trên một cỗ xe ở bãi cắm trại — dấu hiệu của những người di cư vượt đại bình nguyên. Tất cả mọi người đều kéo ra đó, và một tiếng hô vang lên khi một chiếc váy thực sự, bằng xương bằng thịt được phát hiện đang bay phần phật trong gió! Người di cư nam đã xuất hiện. Những người thợ mỏ nói:
"Lôi cô ấy ra đây!"
Anh ta nói: "Thưa các ông, đó là vợ tôi — cô ấy đang ốm — chúng tôi đã bị thổ dân cướp sạch tiền bạc, lương thực, mọi thứ — chúng tôi muốn nghỉ ngơi."
"Lôi cô ấy ra! Bọn tao phải nhìn tận mắt!"
"Nhưng thưa các ông, tội nghiệp cô ấy, cô ấy..."

"LÔI CÔ ẤY RA!"
Anh ta đành "lôi cô ấy ra", và họ tung mũ hô vang ba tiếng hoan hô thật lớn cùng tiếng hú dài; họ chen chúc vây quanh, ngắm nhìn cô ấy, chạm vào tà váy và lắng nghe giọng nói của cô với ánh mắt của những kẻ đang hoài niệm về một ký ức hơn là thực tại trước mắt — rồi họ quyên góp hai nghìn năm trăm đô la vàng trao cho người đàn ông, lại tung mũ hô vang ba tiếng hoan hô nữa rồi mãn nguyện giải tán.

Có lần tôi dùng bữa tại San Francisco với gia đình của một người khai phá, và trò chuyện với con gái ông, một thiếu nữ có trải nghiệm đầu đời ở San Francisco chính là một cuộc phiêu lưu, dẫu bản thân cô chẳng tài nào nhớ nổi vì lúc đó mới chỉ lên hai hoặc lên ba tuổi. Cha cô kể rằng, sau khi bước xuống từ tàu, họ đang rảo bước trên phố, một người đầy tớ đi đầu bế theo đứa bé trên tay. Và ngay lúc đó, một gã thợ mỏ lực lưỡng, râu ria xồm xoàm, mang đai lưng, mang giày có cựa và lỉnh kỉnh đầy vũ khí chết người — rõ ràng vừa từ một chiến dịch dài ngày trên núi xuống — liền chặn ngang lối đi, dừng người đầy tớ lại, và đứng sững sờ ngắm nhìn với gương mặt rạng rỡ niềm vui sướng cùng kinh ngạc. Đoạn hắn cất giọng đầy cung kính:
"Cha mẹ ơi, hóa ra lại là một đứa trẻ!" Và rồi hắn giật phắt một chiếc túi da nhỏ trong túi quần ra, bảo người hầu rằng:
"Trong này có một trăm năm mươi đô la bụi vàng, tao tặng mày để đổi lấy cái quyền được hôn đứa bé!"
Giai thoại ấy hoàn toàn có thật.
Nhưng hãy nhìn xem mọi thứ đổi thay thế nào. Ngồi bên bàn ăn đó, lắng nghe giai thoại ấy, nếu lúc đó tôi ngỏ ý trả gấp đôi số tiền ấy để được đặc quyền hôn chính đứa bé đó, chắc chắn tôi đã bị từ chối. Mười bảy năm trôi qua đã đẩy giá cả lên gấp bội phần.
Và nhân tiện chủ đề này, tôi xin kể rằng có lần tại Star City, trong dãy núi Humboldt, tôi đã đứng xếp hàng dài theo kiểu xếp hàng mua tem thư cùng đám thợ mỏ, kiên nhẫn chờ đến lượt mình ghé mắt qua khe nứt vách một căn lều để được chiêm ngưỡng cảm giác mới mẻ tuyệt trần — một Người Phụ Nữ thực sự, bằng xương bằng thịt! Và sau nửa giờ đồng hồ, cuối cùng cũng đến lượt tôi, tôi áp mắt vào khe nứt, và kìa, cô ấy đang đứng chống nũng một tay, còn tay kia thì hất những chiếc bánh kếp chảo trong một cái chảo rán.

Và cô ấy đã một trăm sáu mươi lăm [Giờ đây tâm trạng đã bình tĩnh hơn, tôi tự nguyện bớt đi một trăm tuổi.—M.T.] tuổi, và trong miệng chẳng còn lấy một chiếc răng.