Những chuyến phiêu lưu gian khó

Lượt đọc: 639 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHAPTER III.

❊ ❊ ❊

Cách thời điểm trời sáng khoảng một tiếng rưỡi, chiếc xe ngựa của chúng tôi vẫn đang lướt đi êm ru trên con đường mòn — êm đến mức chiếc nôi di động chỉ chòng chành một cách nhẹ nhàng, ru ngủ chúng tôi dần dần và làm cùn mòn mọi tỉnh táo — thì bỗng có cái gì đó gãy rục ngay bên dưới! Chúng tôi lờ mờ nhận ra điều đó, nhưng chẳng mảy may bận tâm. Chiếc xe dừng lại. Chúng tôi nghe tiếng người đánh xe và tay lơ xe đang thì thầm to nhỏ ngoài kia, lục lọi tìm cây đèn lồng, rồi chửi thề om sòm vì không tài nào tìm thấy nó — nhưng chúng tôi nào có chút hứng thú gì với mớ hỗn độn đang diễn ra ngoài trời; ý nghĩ về đám người đang oằn mình làm việc trong màn đêm âm u ngoài kia, trong khi chúng tôi thì cuộn tròn ấm cúng trong chiếc tổ êm đềm với tấm rèm buông kín, chỉ làm tăng thêm vẻ dễ chịu cho chúng tôi mà thôi. Nhưng chẳng mấy chốc, qua những âm thanh lọt vào, hình như đang có một cuộc kiểm tra hiện trường, và rồi giọng người đánh xe vang lên:

“Trời đất quỷ thần ơi, thanh giằng chính gãy toi rồi!”

Câu này khiến tôi tỉnh như sáo — hệt như cái cách mà một nỗi bất hạnh mơ hồ vẫn thường làm. Tôi tự nhủ: “Nào, thanh giằng chính có lẽ là một bộ phận của con ngựa; và chắc chắn là một bộ phận tối quan trọng, nhìn qua sự hoảng hốt trong giọng của lão đánh xe thì rõ. Chắc là chân ngựa chăng — mà sao nó lại có thể gãy chân khi đang tung tăng nhảy múa trên cái con đường thế này cơ chứ? Không, chắc không phải chân nó đâu. Thật vô lý, trừ khi nó với tay định tóm cổ người đánh xe. Mà này, không biết thanh giằng chính của ngựa là cái quái gì nhỉ? Thôi kệ, có chuyện gì xảy ra đi chăng nữa, tôi cũng chẳng dại gì mà phô cái sự dốt nát của mình ra trước đám đông này đâu.”

Đúng lúc đó, khuôn mặt gã lơ xe thò vào qua khung cửa sổ đã kéo rèm, ánh đèn lồng rọi thẳng vào chúng tôi cùng bức tường thư tín chất cao như núi. Gã bảo: “Các ông chủ ơi, phải xuống xe một lát rồi. Gãy thanh giằng chính rồi các ông ạ.”

Chúng tôi lồm cồm bò ra cái không khí lạnh ngắt lất phất mưa bụi, cảm thấy bơ vơ và não nề vô kể. Đến khi tôi phát hiện ra cái thứ gọi là “thanh giằng chính” ấy thực chất là hệ thống dây đai và nhòe lò xo khổng lồ dùng để giữ trọn chiếc xe ngựa lắc lư, tôi liền quay sang bảo lão đánh xe:

“Tôi nhớ là mình chưa từng thấy cái thanh giằng nào tàn tạ đến mức này. Nó bị thế nào vậy?”

“Thì tại cố nhét cái đống thư từ của ba ngày trời vào một chiếc xe chứ sao — nguyên nhân là thế đấy,” lão đáp. “Và ngay ở đây chính là cái chỉ dẫn được viết trên tất cả các túi báo định đem phát cho bọn da đỏ để giữ chân chúng cho ngoan ngoãn. Thật là may mắn hết chỗ nói, bởi vì trời tối như hũ nút thế này, nếu cái thanh giằng khỉ gió kia mà không gãy thì tôi đã phi thẳng qua mặt từ đời nào rồi mà chẳng hay biết gì sất.”

Tôi thừa biết lão lại chuẩn bị nháy mắt một cái, dù chẳng thấy rõ mặt lão vì mải cúi gằm xuống làm việc; và sau khi chúc cho lão “vượt cạn” thành công, tôi quay sang phụ những người còn lại lôi đống túi thư ra ngoài. Khi lôi hết ra, chúng chất thành một cái kim tự tháp sừng sững bên vệ đường. Lúc họ đã sửa xong thanh giằng, chúng tôi nhét đầy lại hai chiếc cốp xe, nhưng không đặt túi thư nào lên mui nữa, và ở bên trong cũng chỉ nhét số lượng bằng nửa lúc trước. Gã lơ xe bẻ gập tất cả các lưng ghế xuống, rồi chất đầy nửa chiếc xe từ đầu này đến đầu kia bằng các túi thư. Chúng tôi kịch liệt phản đối việc này, vì làm thế thì chẳng còn chỗ ngồi nào cho chúng tôi nữa. Nhưng gã lơ xe khôn ngoan hơn chúng tôi, hắn bảo nằm ngủ sướng hơn ngồi, vả lại cách này sẽ bảo vệ được mấy cái thanh giằng của hắn. Kể từ dạo đó, chẳng bao giờ chúng tôi thèm màng đến ghế ngồi nữa. Cái giường lười ấy tuyệt vời hơn hẳn. Về sau, tôi đã trải qua không biết bao nhiêu ngày tháng thú vị nằm sóng xoài trên đó, vừa đọc luật lệ vừa đọc từ điển, và tò mò không biết số phận các nhân vật rồi sẽ trôi dạt về đâu.

Gã lơ xe bảo hắn sẽ cử một lính canh quay lại từ trạm tiếp theo để trông coi đống túi thư bị bỏ lại, và thế là chúng tôi tiếp tục lên đường.

Lúc này trời vừa hửng sáng; khi chúng tôi duỗi thẳng cẳng chân tê cứng trên những túi thư, phóng tầm mắt qua những ô cửa sổ nhìn ra bãi cỏ rộng bao la đang khoác lên mình lớp sương mù mỏng manh, mát lạnh, hướng về phía chân trời phía đông đang ửng lên vẻ mong chờ, thì niềm vui sướng trọn vẹn của chúng tôi bỗng hóa thành một thứ ngất ngây thanh bình và viên mãn. Chiếc xe buýt phóng đi với tốc độ bạt mạng, gió quật phần phật vào rèm cửa và những chiếc áo khoác treo lủng lẳng tạo nên một cảm giác phấn khích tột cùng; chiếc nôi xe lắc lư nhịp nhàng, tiếng móng ngựa nện đều, tiếng roi quật của người đánh xe cùng tiếng thét “Hi-yi! g’lang!” vang lên nghe vui tai chẳng kém gì âm nhạc; mặt đất lướt vèo vèo và những hàng cây nhảy múa bên đường dường như cũng đang thầm hô vang lời cổ vũ khi chúng tôi chạy vụt qua, rồi chậm lại dõi theo chúng tôi với vẻ tò mò, ghen tỵ, hay một cảm xúc nào đó đại loại thế; và khi chúng tôi nằm đó rít tẩu thuốc hòa bình, so sánh sự xa hoa này với những năm tháng thị thành mỏi mệt ở phía sau, chúng tôi cảm thấy rằng trên đời này chỉ có một niềm hạnh phúc duy nhất trọn vẹn và thỏa mãn, và chúng tôi đã tìm thấy nó rồi.

Sau bữa điểm tâm tại một trạm dừng nào đó mà tôi đã quên tên, cả ba chúng tôi trèo lên chiếc ghế phía sau người đánh xe, nhường lại chiếc giường của mình cho gã lơ xe tranh thủ chợp mắt. Rồi chẳng mấy chốc, cái nắng ấm làm tôi rũ cả người, tôi nằm sấp trên mui xe, hai tay bám chặt lấy thanh chắn sắt mảnh khảnh, và ngủ say sưa suốt hơn một tiếng đồng hồ. Chừng đó đủ để người ta có được một hình dung rõ mệt về những con đường vô đối ấy. Bản năng sẽ khiến một kẻ đang ngủ phải túm chặt lấy thanh chắn mỗi khi xe xóc nảy, nhưng khi nó chỉ lắc lư và chao đảo nhè nhẹ thì chẳng cần phải bám víu gì sất. Các tay đánh xe và lơ xe đường dài thường ngồi nguyên trên vị trí của mình, ngủ liền tù tì ba mươi hay bốn mươi phút trên những đoạn đường đẹp, trong khi xe vẫn đang lao vút đi với tốc độ tám hoặc mười dặm một giờ. Tôi tận mắt chứng kiến cảnh đó hoài. Chẳng có chút nguy hiểm nào sất; một kẻ đang ngủ vẫn sẽ chộp lấy thanh sắt kịp thời mỗi khi xe chồm lên xóc nảy. Những con người này làm việc vất vả cực nhọc, và họ không tài nào thức trọn vẹn suốt cả chặng đường được.

Chẳng mấy chốc chúng tôi đã đi qua Marysville, vượt qua sông Big Blue và Little Sandy; từ đó đi tiếp khoảng một dặm thì đặt chân đến Nebraska. Đi thêm chừng một dặm nữa, chúng tôi tới sông Big Sandy — cách St. Joseph một trăm tám mươi dặm.

Khi mặt trời vừa lặn, chúng tôi trông thấy mẫu vật đầu tiên của một loài động vật nổi tiếng khắp hai ngàn dặm núi non và sa mạc — từ tận Kansas kéo dài mãi đến Thái Bình Dương — với cái tên “thỏ tai lừa”. Nó mang cái tên quả thực rất chuẩn. Nó y hệt như những con thỏ bình thường khác, chỉ có điều to gấp rưỡi hoặc gấp đôi, cặp chân dài hơn hẳn so với cơ thể, và sở hữu đôi tai kỳ quặc nhất từng mọc trên đầu bất kỳ sinh vật nào ngoại trừ con lừa.

Khi nó ngồi yên lặng, bận suy tư về những lỗi lầm của mình, hoặc lúc đang đããng trí chẳng mảy may lo sợ hiểm nguy, đôi tai vương giả của nó sẽ dựng đứng lên một cách vô cùng nổi bật; nhưng chỉ cần một tiếng cành khô gãy cũng đủ làm nó sợ chết khiếp, và rồi nó nhẹ nhàng cụp tai ra sau bắt đầu chuồn thẳng về tổ. Tất cả những gì bạn có thể nhìn thấy trong suốt phút tiếp theo sau đó, chính là cái thân hình xám xịt dài ngoằn ngoèo duỗi thẳng tắp, “vắt giò lên cổ” phóng bạt mạng qua những khóm ngải đắng lùn tịt, đầu ngẩng cao, mắt nhìn thẳng, đôi tai hơi ngả về phía sau, giúp bạn lúc nào cũng nhận ra vị trí của nó chẳng khác gì đang mang theo một cánh buồm nhỏ. Thỉnh thoảng nó lại tung ra một cú nhảy tuyệt mỹ bằng đôi chân dài ngoằng, bay cao vút qua cả những bụi ngải đắng còi cọc, tạo ra một cú nhảy khiến bất kỳ con ngựa nào cũng phải ghen tỵ. Chẳng mấy chốc nó hạ xuống bằng một dáng “phi kiệu” uyển chuyển kéo dài, và rồi biến mất một cách kỳ bí. Nó đã nép mình đằng sau một bụi ngải đắng, cứ ngồi lì ở đó lắng nghe và run rẩy cho đến khi bạn đến sát sạt cách sáu bước chân, nó mới lại tung cẳng vọt đi. Nhưng ai cũng phải thử bắn vào sinh vật này ít nhất một lần, nếu muốn chứng kiến cảnh nó hoảng hốt cắm đầu cắm cổ chạy thục mạng. Lúc này thì nó đã sợ mất mật rồi, nó áp chặt đôi tai dài vào sống lưng, duỗi thẳng cẳng như cây thước thợ trong mỗi cú nhún nhảy, và bỏ lại sau lưng hàng dặm đường với một vẻ dửng dưng ung dung đến mê hồn.

Đám chúng tôi đã khiến con vật này phải “vắt giò lên cổ”, đúng như lời gã lơ xe nói. Viên thư ký là người nổ phát súng đầu tiên từ khẩu Colt; tôi bắt đầu khạc đạn ra liên hồi bằng vũ khí của mình; và cùng lúc đó, toàn bộ loạt đạn của khẩu “Allen” già cỗi đồng loạt khai hỏa với một tiếng nổ đinh tai nhức óc, và nói không ngoa chút nào khi khẳng định rằng con thỏ đã hoảng loạn cực độ! Nó cụp tai, chổng đuôi, cao chạy xa bay về hướng San Francisco với tốc độ chỉ có thể miêu tả là chớp mắt một cái là biến mất tăm! Lâu sau khi nó đã khuất dạng, chúng tôi vẫn còn nghe thấy tiếng nó vút qua trong gió.

Tôi không nhớ mình chạm trán “cây ngải đắng” ở đâu đầu tiên, nhưng tiện nhắc đến thì tôi cứ miêu tả nó luôn thể.

Việc này dễ ợt, bởi vì nếu độc giả có thể tưởng tượng ra một cội sồi già cỗi, gồ ghề bị thu nhỏ lại thành một bụi cây nhỏ cao chừng hai thước, với lớp vỏ sần sùi, tán lá và những cành cây xoắn xuýt còn nguyên vẹn, thì bạn hình dung chính xác được “cây ngải đắng” trông ra sao rồi đấy. Thường thì vào những buổi chiều lười biếng trên vùng núi cao, tôi hay nằm rạp xuống đất, áp mặt ngay dưới một khóm ngải đắng, tự giải khuây bằng cách tưởng tượng rằng lũ muỗi mòng lảng vảng trong vòm lá của nó là những chú chim tí hon nước Lilliput, còn đám kiến đang diễu hành qua lại dưới gốc cây là những đàn gia súc gia cầm tí hon, và bản thân tôi là một gã khổng lồ lười biếng đến từ xứ Brobdingnag đang chực chờ bắt một tên dân làng nhỏ xíu để ăn thịt.

Đó quả là một vị vua oai hùng của chốn rừng sâu được thu nhỏ lại trong một phiên bản tinh xảo tuyệt mỹ, chính là “cây ngải đắng”. Tán lá của nó có màu xanh xám, bao phủ lấy cả sa mạc lẫn núi non một sắc màu đặc trưng. Nó có mùi thơm hăng hắc giống hệt như cây ngải nhà ta, và món “trà ngải” pha từ nó cũng có vị đắng ngắt hệt như thứ trà ngải mà mọi đứa trẻ con đều quá đỗi quen thuộc. Cây ngải đắng là một loài thực vật có sức sống vô cùng bền bỉ, chúng mọc ngay giữa những cồn cát sâu thẳm, giữa những bãi đá cằn cỗi nơi chẳng có sinh vật thực vật nào khác dám bén mảng mọc lên, ngoại trừ loài “cỏ bụi”.—[Loài “cỏ bụi” mọc trên những sườn núi tiêu điều ở Nevada và các vùng lãnh thổ lân cận, cung cấp nguồn thức ăn tuyệt vời cho gia súc, ngay cả giữa cái lạnh cắt da cắt thịt của mùa đông, bất cứ nơi nào tuyết bị thổi bay để lộ ra lớp cỏ bên dưới; bất chấp môi trường sống đầy khắc nghiệt, cỏ bụi vẫn là nguồn dinh dưỡng tốt hơn và bổ dưỡng hơn cho bò ngựa so với hầu hết các loại cỏ hay héo khô nào khác được biết đến — theo lời những kẻ chăn nuôi gia súc.]—Những bụi ngải đắng mọc cách nhau từ ba đến sáu hoặc bảy thước, phủ kín khắp các sườn núi và hoang mạc miền Viễn Tây, kéo dài tận biên giới California. Ở các hoang mạc, không hề có lấy một bóng cây bất kỳ nào suốt hàng trăm dặm — chẳng có chút thảm thực vật nào ở một sa mạc thực thụ, ngoại trừ cây ngải đắng và họ hàng của nó là cây “bụi mỡ”, loài cây có hình dáng giống ngải đắng đến mức sự khác biệt gần như không đáng kể. Những buổi cúp lều đốt lửa trại và bữa tối nóng hổi giữa sa mạc sẽ là điều bất khả thi nếu thiếu đi những cây ngải đắng thân thiện ấy. Thân cây to bằng cổ tay đứa trẻ (thậm chí to bằng bắp tay người lớn), và những cành cây ngoằn ngoèo của nó to bằng nửa thân cây — toàn là gỗ tốt, cứng cáp và rắn chắc chẳng khác gì gỗ sồi.

Khi đoàn người dừng chân cắm trại, việc đầu tiên cần làm là đi chặt cây ngải đắng; và chỉ trong vài phút là đã có một đống củi cao ngút sẵn sàng để sử dụng. Người ta đào một cái hố rộng một thước, sâu hai thước và dài hai thước, chặt ngải đắng bỏ vào đốt cho đến khi đầy tràn những cục than hồng rực. Lúc đó việc nấu nướng mới bắt đầu, hoàn toàn không có khói, và nhờ thế mà chẳng ai phải chửi thề câu nào. Một đống lửa như thế có thể cháy âm ỉ suốt cả đêm mà chẳng cần tiếp thêm mấy củi; và nó tạo ra một ngọn lửa trại vô cùng ấm cúng, xung quanh đó những câu chuyện ôn cố tri tân hoang đường nhất bỗng trở nên có lý, mang tính giáo dục và vô cùng cuốn hút.

Ngải đắng là loại củi đun khá ổn, nhưng nếu xét về mặt rau củ thì nó lại là một thất bại thảm hại. Chẳng có con vật nào chịu nổi cái mùi vị của nó ngoại trừ loài thỏ tai lừa và đứa con hoang mang tên con la. Nhưng lời khai của chúng về giá trị dinh dưỡng của loài cây này chẳng có chút giá trị nào, bởi vì chúng có thể nhai ngấu nghiến cả cành thông, than cốc, mạt đồng thau, ống chì, vỏ chai lọ cũ, hay bất cứ thứ gì vớ được, rồi vẫn ra điều hớn hở như vừa được đãi một bữa hào thượng hạng vậy. Loài la, lừa và lạc đà sở hữu một thứ khẩu vị mà bất cứ thứ gì cũng chỉ có thể xoa dịu chúng tạm thời, chứ chẳng bao giờ làm chúng thỏa mãn nổi.

Thuở ở Syria, ngay tại thượng nguồn sông Jordan, một con lạc đà từng nhận trông hộ chiếc áo khoác của tôi trong lúc dựng lều, và nó săm soi chiếc áo bằng một ánh mắt cực kỳ săm soi, chăm chú hệt như đang ấp ủ ý định may một chiếc y hệt; và sau khi ngắm nghía chán chê chiếc áo như một món trang phục, nó bắt đầu ngắm nghía chiếc áo như một món ăn. Nó đặt một chân lên áo, dùng răng ngoạm lấy một bên ống tay áo rồi nhai ngấu nghiến, từ từ nuốt trọn vào bụng, trong khi đôi mắt cứ nhắm nghiền rồi chớp chớp đầy vẻ tôn kính và ngây ngất hệt như chưa từng được nếm món nào ngon như chiếc áo khoác trong đời. Xong xuôi, nó chép miệng vài cái rồi với sang cái ống tay áo bên kia. Tiếp đến nó xơi luôn phần cổ nhung và nở một nụ cười thỏa mãn đến mức ai nhìn vào cũng biết là nó coi đó là phần ngon nhất của chiếc áo khoác. Tà áo là nạn nhân tiếp theo, đi kèm với một ít hạt nổ, kẹo ngậm ho, và dăm miếng mứt dẻo Constantinople.

Và rồi xấp bản thảo bài báo của tôi rơi ra, thế là nó xơi nốt — những trang bản thảo được viết gửi về cho tờ báo ở quê nhà. Nhưng lúc này thì nó đang dẫm chân lên vùng đất hiểm nguy. Nó bắt đầu nuốt phải những triết lý cao siêu nằm trong đống tài liệu đó, thứ vốn khá nặng nề đối với dạ dày của nó; thỉnh thoảng nó lại phải nuốt một câu đùa hiểm hóc đến mức làm nó rung chuyển cả hàm răng; tình hình đang dần trở nên vô cùng nguy ngập đối với nó, nhưng nó vẫn dũng cảm bám trụ và đầy hy vọng, cho đến khi bắt gặp những nhận định mà ngay cả một con lạc đà cũng không thể nuốt trôi một cách êm xuôi nổi. Nó bắt đầu nôn thốc nôn tháo, mắt lồi cả ra, hai chân trước khuỳnh ra, và chỉ chừng một phần tư phút sau, nó ngã lăn quay cứng đờ như một chiếc bàn mộc, chết trong một cơn đau đớn khôn tả. Tôi bước đến lôi xấp bản thảo ra khỏi miệng nó, và phát hiện ra rằng sinh vật nhạy cảm ấy đã nghẹn thở mà chết chỉ vì một trong những lời tuyên bố hiền lành và dịu dàng nhất mà tôi từng đem ra phơi bày trước công chúng cả tin.

Tôi đang định nói dở — trước khi bị lạc đề — rằng thỉnh thoảng người ta vẫn bắt gặp những khóm ngải đắng cao chừng năm sáu thước, với các cành lá xum xuê tương ứng, nhưng chiều cao phổ biến của chúng vẫn là hai hoặc hai thước rưỡi.

Nguồn: Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.