Những chuyến phiêu lưu gian khó

Lượt đọc: 639 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 46

❊ ❊ ❊

Thời ấy có những nhà triệu phú xổi—ý tôi là trong những “năm tháng phất như diều”. Cứ mỗi lần đào được một mạch quặng béo bở nào là lại sinh ra một hoặc hai kẻ giàu sụ. Tôi còn nhớ mấy tay như thế. Nhìn chung, họ là những gã vô lo, dễ tính, và cả cộng đồng đôi khi còn được hưởng lợi từ sự giàu có của họ chẳng kém gì bản thân họ—thậm chí trong một số trường hợp còn hơn thế nữa.

Hai anh em họ làm nghề đánh xe chở thuê nọ nhận vận chuyển hàng cho một người, và đành phải lãnh một phần mỏ bạc nhỏ bị cắt khúc để thế cho ba trăm đô-la tiền mặt. Họ giao một phần ba mỏ cho một kẻ ngoài để khai thác, rồi tiếp tục đi đánh xe ngựa. Nhưng chẳng được bao lâu. Mười tháng sau, mỏ đã trả hết nợ và mang lại cho mỗi chủ nhân từ tám nghìn đến mười nghìn đô-la một tháng—tính ra là một trăm nghìn một năm.

Một trong những nhà triệu phú đầu tiên mà vùng Nevada sinh ra đeo mớ kim cương trị giá sáu nghìn đô-la trước ngực, và thề rằng hắn bất hạnh vì không thể tiêu tiền nhanh bằng lúc kiếm ra nó.

Một nhà triệu phú Nevada khác lại khoe thứ thu nhập thường đạt tới mười sáu nghìn đô-la một tháng; và hắn rất thích kể lể về việc hồi mới đến vùng này, chính hắn đã từng làm việc trong cái mỏ mang lại cho hắn ngần ấy tiền chỉ với năm đô-la một ngày.

Xứ sở của bạc và ngải đắng ấy còn biết đến một kẻ may mắn khác—vụt từ cảnh nghèo túng lên hàng phú quý chỉ trong một đêm—từng sẵn sàng bỏ ra một trăm nghìn đô-la để mua một chức vụ cao cấp ngay sau đó, và quả thực đã ra giá—nhưng không mua nổi, vì đường lối chính trị của hắn không vững vàng bằng tài khoản ngân hàng của hắn.

Rồi có cả John Smith. Hắn là một con người tốt bụng, thật thà và đôn hậu, sinh ra và lớn lên ở tầng lớp đáy của xã hội, với một sự dốt nát đến kỳ diệu. Hắn đánh xe thuê và sở hữu một trang trại nhỏ—một trang trại đủ mang lại cho hắn một cuộc sống thoải mái, bởi dù nó ra rất ít cỏ khô, nhưng dẫu ít ỏi thế nào thì số cỏ ấy cũng đáng giá từ hai trăm rưỡi đến ba trăm đô-la vàng một tấn trên thị trường. Chẳng mấy chốc, Smith đem vài mẫu đất trang trại đổi lấy một mỏ bạc nhỏ chưa khai thác ở Gold Hill. Hắn mở mỏ và dựng lên một cái xưởng nghiền mười chày khiêm tốn. Mười tám tháng sau, hắn giải nghệ nghề buôn cỏ khô, vì thu nhập từ mỏ đã đạt đến một con số quá ư dễ chịu. Người thì bảo là ba mươi nghìn một tháng, kẻ thì bảo là sáu mươi nghìn. Dù sao đi nữa thì Smith cũng đã rất giàu.

Và thế là hắn sang châu Âu du lịch. Khi trở về, hắn cứ huyên hoang mãi về những con lợn đẹp đẽ mà hắn thấy ở nước Anh, những con cừu lộng lẫy ở Tây Ban Nha, và mấy con bò tuyệt hảo quanh vùng Roma. Hắn ngập tràn những điều kỳ diệu của thế giới cũ và khuyên mọi người nên đi du lịch. Hắn bảo rằng một người sẽ chẳng thể tưởng tượng nổi trên đời có những thứ đáng ngạc nhiên nhường nào cho đến khi đi đây đi đó.

Một ngày nọ, trên tàu, các hành khách gom lại một quỹ năm trăm đô-la, thuộc về ai đoán gần sát nhất quãng đường con tàu chạy trong hai mươi tư giờ tiếp theo. Hôm sau, gần trưa, các con số đã nằm gọn trong phong bì dán kín của tay cự phách quản lý tài chính trên tàu. Smith điềm nhiên và hạnh phúc, bởi hắn đã hối lộ gã kỹ sư. Thế nhưng một kẻ khác lại giành giải! Smith liền nói:

“Này, thế thì không ổn! Hắn đoán trật mục tiêu nhiều hơn tôi tận hai dặm cơ mà.”

Gã quản lý bèn bảo: “Ông Smith ạ, ông đoán trượt xa hơn bất kỳ ai trên tàu này. Hôm qua chúng ta chạy được hai trăm linh tám dặm.”

“Ồ, thưa ngài,” Smith nói, “đấy chính là chỗ tôi bắt giò được ngài đấy, vì tôi đoán là hai trăm linh chín. Nếu ngài nhìn lại mấy con số của tôi, ngài sẽ thấy một số 2 và hai số 0, tượng trưng cho 200, đúng không nào?—và sau chúng ngài sẽ thấy một số 9 (2009), tượng trưng cho hai trăm linh chín. Tôi xin nhận số tiền đó, làm ơn nhé.”

Mỏ Gould & Curry rộng tới mười hai trăm thước, và ban đầu thuộc về đúng hai người mang tên nó. Ông Curry sở hữu hai phần ba—và ông kể rằng mình đã bán đứt nó lấy hai nghìn rưỡi đô-la tiền mặt cùng một con ngựa già tồi tàn đã ngốn hết giá trị thị trường của nó bằng cỏ khô và lúa mạch chỉ trong mười bảy ngày tính theo đồng hồ. Còn ông Gould thì bán quách đi để đổi lấy một đôi chăn quân đội cũ và một chai whisky đủ sức quật ngã chín người trong vòng ba tiếng đồng hồ, khiến một kẻ qua đường vô tội ngửi thấy mùi nút chai cũng tàn phế suốt đời. Bốn năm sau, cái mỏ được tống khứ đi ấy lại có giá trị trên thị trường San Francisco tới bảy triệu sáu trăm nghìn đô-la tiền vàng.

Những ngày đầu, có một lão người Mexico nghèo mạt rệp sống trong một hẻm núi ngay phía sau Virginia City, sở hữu một dòng nước to bằng cổ tay rỉ ra từ sườn đồi ngay trên phần đất của lão. Công ty Ophir cắt ra một trăm thước mỏ của họ để đổi lấy dòng nước ấy. Một trăm thước đất đó hóa ra lại là phần giàu có nhất của cả cái mỏ; bốn năm sau vụ trao đổi, giá trị thị trường của nó (tính cả nhà máy nghiền) lên tới 1.500.000 đô-la.

Một cá nhân sở hữu hai mươi thước trong mỏ Ophir trước khi sự giàu có vĩ đại của nó được phơi bày, đã đem đổi nó lấy một con ngựa, mà lại là một con vật trông vô cùng thảm hại. Khoảng một năm sau, khi cổ phiếu Ophir tăng vọt lên tới 3.000 đô-la một thước, kẻ chẳng có nổi một xu dính túi này thường hay khoe khoang rằng hắn là minh chứng giật gân nhất về sự xa hoa và khốn khổ từng xuất hiện trên đời—bởi vì hắn đủ sức cưỡi một con ngựa trị giá sáu mươi nghìn đô-la—thế mà lại chẳng gom đủ tiền mặt để mua nổi một cái yên, đành phải đi mượn hoặc cưỡi lưng trần. Hắn bảo nếu vận may mà ban cho hắn thêm một con ngựa sáu mươi nghìn đô-la nữa thì chắc hắn tiêu đời.

Một thiếu niên mười chín tuổi làm nhân viên điện tín ở Virginia với mức lương một trăm đô-la một tháng, kẻ mà mỗi khi không thể dịch nổi những cái tên Đức trong danh sách tàu thuyền đến San Francisco, liền tài tình tự chọn và đắp những cái tên thay thế từ một cuốn danh bạ thành phố Berlin cũ kỹ, đã phất lên nhờ theo dõi các bức điện tín khai thác mỏ qua tay mình và mua bán cổ phiếu tương ứng thông qua một người bạn ở San Francisco. Có lần, khi một bức điện mật từ Virginia gửi đến thông báo về một mạch quặng giàu có ở một mỏ lớn và khuyên nên giữ kín chuyện này cho đến khi tậu được một lượng lớn cổ phiếu, hắn liền mua bốn mươi “thước” cổ phiếu với giá hai mươi đô-la một thước, rồi sau đó bán một nửa với giá tám trăm đô-la một thước và số còn lại gấp đôi giá đó. Chỉ trong vòng ba tháng, hắn đã có trong tay 150.000 đô-la và từ chức nhân viên điện tín.

Một nhân viên điện tín khác từng bị công ty sa thải vì tiết lộ bí mật cơ quan, đã thỏa thuận với một tay lắm tiền ở San Francisco rằng sẽ cung cấp kết quả của một vụ kiện tụng mỏ chí mạng ở Virginia chỉ trong vòng một đổi sau khi các đương sự ở San Francisco nhận được tin mật. Đổi lại, hắn sẽ được hưởng một tỷ lệ phần trăm lớn trên lợi nhuận từ các giao dịch mua bán do kẻ đồng lõa thực hiện. Thế là hắn bèn cải trang thành một phu xe, đến một trạm điện tín nhỏ ven đường trong núi, làm quen với nhân viên trực trạm, rồi ngồi lì ở đó ngày này qua ngày khác, hút tẩu, kêu ca rằng xe ngựa của mình đã rạc cẳng không thể đi nổi—trong khi tai vẫnểnh lên nghe những bức điện lách cách chạy qua máy từ Virginia. Cuối cùng, bức điện mật thông báo kết quả vụ kiện vụt qua đường dây, và vừa nghe thấy là hắn liền đánh điện ngay cho người bạn ở San Francisco:

“Chờ mệt quá rồi. Sẽ bán xe và về nhà đây.”

Đó là mật khẩu đã định. Nếu bỏ từ “chờ” đi, thì sẽ có nghĩa là vụ kiện đã ngã theo hướng ngược lại.

Người bạn của gã phu xe giả mạo liền vơ vét một đống cổ phiếu mỏ với giá bèo trước khi tin tức vỡ lở, và kết quả là một cơ đồ kết xù.

Mãi lâu sau khi một trong những mỏ lớn ở Virginia được hợp doanh, khoảng năm mươi thước của địa điểm ban đầu vẫn nằm trong tay một kẻ chưa từng ký tên vào giấy tờ hợp doanh. Cổ phiếu trở nên cực kỳ giá trị, và mọi nỗ lực được đổ dồn để tìm kiếm gã này, ngặt nỗi hắn đã biến mất tăm. Có lần nghe tin hắn đang ở New York, một hai tay đầu cơ liền lặn lội sang miền Đông nhưng không tìm thấy. Lại có tin hắn ở tận quần đảo Bermuda, và thế là một hai tay đầu cơ lập tức tất tả hướng đông giương buồm đến Bermuda—nhưng hắn chẳng có ở đó. Cuối cùng, người ta nghe giang hồ đồn hắn đang ở Mexico, liền có một người bạn làm nghề pha chế rượu ăn lương còm của hắn gom góp chút ít tiền bèn lặn lội đi tìm, mua lại mấy “thước” đất của hắn với giá một trăm đô-la, rồi quay về bán đứt cơ ngơi ấy lấy 75.000 đô-la.

Nhưng hà cớ gì phải kể dài dòng? Truyền thuyết xứ Silverland đầy ắp những câu chuyện tương tự thế này, và tôi sẽ chẳng bao giờ kể hết nếu cứ cố gạn lọc ra. Tôi chỉ muốn mang lại cho độc giả một ý niệm về nét kỳ quặc của những “năm tháng phất như diều” mà tôi không tài nào thể hiện nổi bằng cách nào khác, và việc nhắc đến nó là điều thiết yếu để có thể thấu hiểu trọn vẹn thời đại và vùng đất ấy.

Tôi quen biết cá nhân với phần lớn những nhà triệu phú mà tôi vừa nhắc tới, thế nên vì tình nghĩa quen biết cũ, tôi đã xáo trộn nghề nghiệp và trải nghiệm của họ đi để đám đông công chúng vùng Thái Bình Dương không thể nhận ra những kẻ từng khét tiếng một thời này. Mà nay thì họ chẳng còn khét tiếng nữa, bởi phần lớn đều đã trôi dạt trở lại với cảnh nghèo hèn và vô danh tiểu tốt rồi.

Ở Nevada từng lưu truyền câu chuyện về một chuyến phiêu lưu của hai nhà triệu phú nọ, chuyện này có thật hay không thì chưa rõ. Tôi cứ xin kể lại đúng như giá trị của nó:

Đại tá Jim đã từng trải đó đây, ít nhiều cũng biết điều hay lẽ phải ở đời; còn Đại tá Jack thì xuất thân từ vùng quê hẻo lánh xa xôi của các bang, trải qua một đời lao động cực nhọc và chưa hề đặt chân đến thành thị. Hai con người này, bỗng dưng phất lên nhờ vận đỏ, liền lên kế hoạch du ngoạn New York—Đại tá Jack đi để mở rộng tầm mắt, còn Đại tá Jim đi để kèm cặp gã quê mùa này khỏi vướng vào tai họa. Họ đến San Francisco vào ban đêm và nhổ neo vào sáng hôm sau. Đặt chân đến New York, Đại tá Jack liền bảo:

“Ta nghe thiên hạ đồn đại về xe ngựa suốt cả cuộc đời, và giờ thì ta quyết phải làm một cuốc; tao chẳng buồn đếm xỉa đến giá cả đâu. Đi nào.”

Họ bước ra vỉa hè, và Đại tá Jim gọi một chiếc xe mui trần sang trọng. Nhưng Đại tá Jack gạt phăng đi:

“Không, ông bạn ạ! Đừng có đem mấy cái thứ xe cộ rẻ tiền hạng bét ấy ra dụ tôi. Tôi đến đây để vui chơi tới bến, và tiền bạc chẳng thành vấn đề. Tôi muốn cái xe bảnh chọe nhất đang có mặt trên đời. Kìa, đúng hàng độc xuất hiện rồi đấy. Vẫy cái xe màu vàng có vẽ tranh kia lại cho tôi—cứ yên tâm đi—tôi sẽ tự móc túi bao toàn bộ chi phí.”

Thế là Đại tá Jim bèn vẫy một chiếc xe buýt công cộng đang trống chỗ, và họ trèo lên. Đại tá Jack trầm trồ:

“Trông sang chảnh chưa kìa? Ồ, dĩ nhiên rồi! Đệm mút, cửa sổ, tranh ảnh ngập tràn trông đến là thích mắt. Mấy thằng ở nhà mà thấy cảnh chúng ta chơi trội ở New York thế này thì chúng nó sẽ trầm trồ ra sao nhỉ? Có trời mới biết, tôi ước gì chúng nó được mục kích cảnh này.”

Rồi hắn thò đầu ra cửa sổ, gào lên với gã đánh xe:

“Này, anh bạn trẻ, thế này mới hợp ý tôi chứ—hợp ý chính chủ luôn nhé, cứ tin là thế đi! Tôi bao trọn cái xe này cả ngày đấy. Chơi tới bến luôn đi ông anh! Quất ngựa cho nó chạy đi! Chúng ta sẽ thanh toán sòng phẳng với cậu, em trai!”

Gã đánh xe luồn tay qua lỗ xỏ dây da, giật chuông đòi tiền vé—hồi đó chuông bấm điện chưa trở nên phổ biến. Đại tá Jack liền chộp lấy bàn tay ấy, bắt tay thật nồng nhiệt. Hắn bảo:

“Cậu hiểu ý tôi đấy, chiến hữu cũ! Giữa những người đàn ông với nhau thì cứ sòng phẳng. Ngửi thử món này xem cậu có ưng cái bụng không nào!”

Và hắn nhét một đồng tiền vàng trị giá hai mươi đô-la vào tay gã đánh xe. Chợt gã đánh xe đáp rằng hắn không có tiền thối lại.

“Mặc kệ tiền thối đi! Cứ tính là tiền đi xe đi. Cứ nhét cả vào túi ấy.”

Rồi quay sang Đại tá Jim, hắn vỗ đùi đánh đét một cái:

“Thế mới là phong cách chứ lị! Thề có Chúa là ngày nào tao cũng sẽ thuê cái xe này liền một tuần cho mà xem.”

Chiếc xe buýt dừng lại và một tiểu thư bước lên. Đại tá Jack trân trân nhìn một lát, đoạn huých cùi chỏ vào người Đại tá Jim:

“Đừng có nói gì nhé,” hắn thì thầm. “Cứ để cô ấy đi, nếu cô ấy muốn. Ơ hay, chỗ ngồi rộng rãi chán.”

Cô tiểu thư lôi túi đựng tiền lẻ ra, đưa tiền vé cho Đại tá Jack.

“Cái này để làm gì thế?” hắn hỏi.

“Làm ơn đưa cho người đánh xe ạ.”

“Xin cô cứ thu hồi lại tiền, thưa tiểu thư. Chúng tôi không thể nhận được. Cô cứ tự nhiên ngồi xe bao lâu tùy thích, nhưng cái xe này đã được bao trọn gói rồi, và chúng tôi đời nào chịu để cô phải mất một xu tiền vé.”

Cô gái co ro vào một góc với vẻ mặt ngơ ngác. Một bà cụ mang theo cái giỏ lỉnh kỉnh leo lên xe, cũng chìa tiền vé ra.

“Xin lỗi cụ,” Đại tá Jack nói. “Cụ hoàn toàn được chào đón ở đây, thưa cụ, nhưng chúng cháu không thể để cụ trả tiền đâu. Cứ ngồi xuống đấy đi cụ ơi, đừng có mà lo lắng chút nào cả. Cứ thoải mái như đang ngồi trên xe nhà mình ấy.”

Chỉ trong vòng hai phút, ba vị quý ômg, hai người đàn bà đẫy đà và một cặp trẻ con lục tục kéo lên.

“Mời các vị cứ tự nhiên bước lên,” Đại tá Jack hồ hởi; “đừng ngại ngùng gì chúng tôi. Đây là một bữa tiệc khoản đãi miễn cưỡng... nhầm, miễn phí.” Rồi hắn thì thầm với Đại tá Jim,

“New York chắc chẳng có chỗ nào thân thiện hơn đâu—dùng từ thân thiện vẫn còn là quá ít!”

Hắn cương quyết gạt phăng mọi nỗ lực chuyển tiền vé cho gã đánh xe, và nồng nhiệt chào đón tất cả mọi người lên xe. Mọi người cuối cùng cũng ngấm ra hoàn cảnh kỳ quặc này, thế là họ bèn đút túi lại tiền của mình, phó mặc bản thân tận hưởng tập đoàn kín đáo của cái trò hề này. Nửa tá hành khách nữa lại chen lên xe.

“Ồ, chỗ ngồi hãy còn rộng chán,” Đại tá Jack phấn khởi. “Cứ thoải mái bước vào và coi như nhà mình nhé. Một bữa tiệc linh đình thì chẳng có chút giá trị mẹ gì nếu thiên hạ không có bạn bè đi cùng.” Đoạn hắn thì thầm vào tai Đại tá Jim: “Nhưng mấy người New York này thân thiện ra phơi phới ấy chứ lị! Lại còn điềm tĩnh đến lạ lùng nữa chứ. Tảng băng trôi cũng phải gọi bằng cụ. Tao cá là họ dám xông vào leo lên cả xe tang nếu nó đi cùng hướng với họ ấy chứ.”

Thêm nhiều hành khách leo lên; rồi lại thêm, và nhiều hơn nữa. Cả hai hàng ghế đã kín chỗ, và một dãy người đứng bám vào các thanh nắm trên trần xe. Những tốp người mang theo giỏ xách và bọc lỉnh kỉnh đang trèo cả lên nóc xe. Tiếng cười nén nhịn khúc khích vang lên từ mọi phía.

“Chà, xét về cái sự mặt dày trơ trẽn, tỉnh như ruồi và triệt để thế này, nếu mà còn có cái gì vượt nổi những gì tao từng thấy thì chắc tao biến thành người da đỏ mất thôi!” Đại tá Jack thì thầm.

Một gã người Trung Quốc cũng len lỏi chen chúc bước lên xe.

“Tao xin hàng!” Đại tá Jack kêu lên. “Khoan đã, anh lái xe! Các bà các cô và các ông cứ ngồi nguyên chỗ. Cứ tự nhiên thoải mái đi—mọi chi phí đã có người trả sạch rồi. Này anh lái xe, cứ chở đám đông này đi vòng vòng chừng nào họ còn muốn lượn lờ—toàn là chỗ quen biết cả đấy mà. Cứ đưa họ đi muôn nơi—và nếu cần thêm tiền, cứ ghé khách sạn St. Nicholas, chúng tôi sẽ thanh toán sòng phẳng. Chúc các bà các cô và các ông có một chuyến đi vui vẻ—cứ chơi tới bến đi chừng nào các vị thích—chẳng tốn một xu cắc ké nào đâu!”

Hai người bạn đồng hành bước xuống xe, và Đại tá Jack cảm thán:

“Jimmy ạ, đây là cái nơi thân thiện nhất mà tao từng thấy trên đời. Lão người Trung Quốc bước lên xe tự nhiên cứ như chốn không người ấy. Nếu chúng ta ở lại đây thêm dăm bữa nửa tháng nữa, tao dám cá là có cả mấy tên da đen bước lên cho mà xem. Thưa Chúa, có khi tối nay chúng ta phải rào chắn cửa nẻo lại thôi, kẻo có mớ vịt trời này lại đòi ngủ chung giường với chúng ta mất.”

Nguồn: Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.