Chúng tôi lướt qua pháo đài Laramie trong đêm, và vào buổi sáng thứ bảy của hành trình, chúng tôi thấy mình đã đặt chân đến vùng Black Hills. Đỉnh Laramie hiện ra sừng sững ngay bên sườn xe (có cảm giác là vậy), cô độc và rộng lớn—một thứ sắc chàm đậm, tối và sâu thẳm, trông mới dữ dội làm sao khi gã cự thạch già cau mày dưới cái trán nhô ra là những đám mây giông. Thực ra nó cách chúng tôi tận ba bốn chục dặm, nhưng trông cứ như thể chỉ nằm ngay sau dãy gò thấp bên tay phải. Chúng tôi ăn sáng tại Trạm Horse-Shoe, cách St. Joseph sáu trăm bảy mươi sáu dặm. Lúc này, chúng tôi đã tiến vào vùng đất thù địch của người da đỏ; suốt buổi chiều, chúng tôi đi qua Trạm Laparelle và tận hưởng cái cảm giác bất an tột độ trong suốt thời gian lảng vảng ở vùng phụ cận, bởi ai nấy đều thừa biết rằng rất nhiều thân cây mà chúng tôi phóng qua sát rạt cửa kính kia đang che giấu một hoặc hai tên da đỏ phục kích. Đêm hôm trước, một tên ôn thần ẩn nấp đã tặng một viên đạn xuyên qua chiếc áo khoác của gã nài ngựa bưu điện, nhưng hắn cứ thế quất ngựa phi tiếp, chẳng mảy may dừng lại, bởi luật lệ không cho phép bọn nài ngựa dừng chân tra khảo mấy chuyện vặt vãnh ấy, trừ khi bọn chúng đã ngỏm. Chừng nào vẫn còn chút hơi thở trong người, chúng vẫn phải bám lấy yên ngựa và phóng, dẫu cho đám da đỏ có ngồi chờ họ cả tuần lễ và đã cạn sạch cả kiên nhẫn. Khoảng hai tiếng rưỡi trước khi chúng tôi đến Trạm Laparelle, người trạm trưởng ở đây đã nã liền bốn phát đạn vào một tên da đỏ, nhưng hắn ta lại phàn nàn với cái giọng đầy vẻ oan ức rằng tên da đỏ kia cứ “nhảy nhót tung tăng cốt để phá hỏng bét mọi chuyện—mà đạn dược thì lại khan hiếm chết đi được.” Suy luận hiển nhiên nhất rút ra từ cách giãi bày của hắn là, cái tội “nhảy nhót tung tăng” ấy đã giúp tên da đỏ giành được một lợi thế không mấy fair-play.
Chiếc xe ngựa của chúng tôi có thủng một lỗ gọn hàng ở mặt trước—món quà kỷ niệm từ chuyến đi trước qua vùng đất này. Viên đạn tạo ra cái lỗ đó chỉ sượt qua làm gã đánh xe bị thương nhẹ, nhưng hắn chẳng thèm bận tâm lắm. Hắn bảo cái xứ đáng ghét để rèn luyện cho một thằng đàn ông luôn trong trạng thái “nổi đóa” phải là tuyến Đường bộ Miền Nam, giữa sào huyệt của bọn Apache, trước khi công ty dời tuyến xe ngựa lên cung đường phía bắc. Hắn kể rằng ở dưới đó, lũ Apache cứ bu vào làm phiền hắn suốt ngày, và hắn suýt thì chết đói giữa đống lương thực ngập tràn, chỉ vì chúng đục trên người hắn lắm lỗ đạn quá mức cần thiết đến nỗi hắn “chẳng thể giữ nổi miếng ăn trong bụng.” Những lời tuyên bố của nhân vật này nhìn chung chẳng ai tin sái cổ.

Đêm đầu tiên đi qua vùng đất da đỏ thù địch, chúng tôi đóng chặt các khung cửa sổ che rèm và lăm lăm vũ khí trong tay. Thú thật là chúng tôi cũng có ngả lưng đè lên chúng đôi chút, nhưng phần lớn thời gian thì đúng là chỉ nằm lì trên lũ súng ống ấy. Chẳng ai nói năng gì nhiều, tất cả giữ im lặng và lắng tai nghe ngóng. Đêm đen như mực, lại thêm chút mưa phùn rả rích. Chúng tôi đang lọt thỏm giữa những lùm cây, khe đá, đồi hoang và hẻm vực—bị bao bọc kín mít đến mức khi ngó trộm qua khe hở của tấm rèm, chẳng mảy may nhìn thấy thứ gì. Gã đánh xe và tên lơ xe ngồi trên nóc cũng im thin thít, hoặc lâu lắm mới thốt lên vài tiếng thì thầm nhỏ xíu, đúng tác phong của những kẻ đang lọt vào giữa chốn hiểm nguy vô hình. Chúng tôi lắng nghe tiếng mưa tí tách rơi trên mái mui; tiếng bánh xe nghiến ken két qua lớp sỏi bùn lầy; tiếng gió hú rên rỉ não nề; và suốt khoảnh khắc ấy, chúng tôi cứ mang cái cảm giác quái gở không thể tách rời của những kẻ du hành ban đêm trong một chiếc xe buồng kín: cảm giác vẫn nằm trơ trọi bất động một chỗ, dẫu cho xe cộ có tròng cành xóc nảy, ngựa đạc giậm chân thình thịch và bánh xe đang quay cuồng nghiến rít. Chúng tôi cứ thế lắng tai nghe ngóng thật lâu với tâm trí căng như dây đàn và hơi thở nín bặt; hễ cứ có ai trong nhóm thả lỏng người, thở dài một hơi nhẹ nhõm rồi toan mở miệng nói gì đó, thể nào cũng có một chiến hữu lên tiếng “Suỵt!” cái rõ vang, thế là kẻ vừa định phá bối lại đâm cứng đờ người ra và tiếp tục căng tai ngóng đợi. Cứ thế, những phút giây mệt mỏi cùng những thập kỷ phút giây lê thê trôi qua, cho đến tận khi thể xác căng cứng của chúng tôi chìm vào một lớp màng ý thức mụ mẫm, rồi chúng tôi thiếp đi, nếu có thể gọi cái trạng thái ấy bằng một cái tên chắc nịch như thế—bởi đó là một giấc ngủ mỏng manh như sợi tóc sắp đứt. Đó là một giấc ngủ sục sôi và ngập tràn một sự hỗn độn kỳ quái, đầy đau khổ của những mảnh vụn và tàn dư từ những giấc mơ—một giấc mơ mang hình hài của cõi hỗn mang. Bỗng nhiên, những giấc mơ, giấc ngủ cùng sự tĩnh lặng u ám của đêm đen bị xé toạc bởi một tiếng súng nổ chát chúa, nối tiếp theo là một tiếng thét dài, hoang dại và đau đớn tột cùng! Ngay sau đó, chúng tôi nghe thấy—chỉ cách chiếc xe ngựa chừng mười bước chân—
“Cứu tôi với! Cứu với! Cứu với!” [Đó là giọng của gã đánh xe chúng tôi.]
“Giết nó đi! Giết chết nó như một con chó!”
“Tôi sắp bị sát hại rồi! Không ai cho tôi mượn khẩu súng lục nào sao?”
“Cẩn thận! Chặn đường nó lại! Chặn đầu nó lại!”
[Hai tiếng súng lục vang lên; tiếng lộn xộn của nhiều giọng nói cùng tiếng giậm chân thình thịch của rất nhiều người, tựa hồ như một đám đông đang ùa lại và quần tụ siết chặt lấy một mục tiêu nào đó; dăm tiếng đì đùng nặng nề tựa như tiếng gậy gộc nện xuống; một tiếng thét vọng lên đầy van lạy, “Đừng, các ngài, xin đừng—tôi là kẻ chết rồi đây!” Tiếp đó là một tiếng rên rỉ yếu ớt hơn, rồi thêm một cú giáng nữa, và chiếc xe ngựa phóng vút đi trong đêm tối, bỏ lại phía sau một câu hỏi rùng rợn đầy bí ẩn.]
Quả là một cú sốc chết điếng! Tám giây thôi là quá đủ để bao trùm toàn bộ sự việc—có lẽ năm giây cũng thừa. Chúng tôi vừa kịp chồm tới chỗ tấm rèm, lóng ngóng và luống cuống cởi nút tháo khuy được một góc, thì ngọn roi của gã xà ích đã vút lên đánh chát một tiếng trên đầu, và chúng tôi lao đi, gầm rú và rền vang đổ dốc theo một “cung đường” hiểm trở trên núi.
Chúng tôi nhai đi nhai lại mớ bí ẩn đó suốt phần đêm còn lại—phần ít ỏi còn lại, bởi đêm đang cạn dần. Nó đành phải tiếp tục là một ẩn số hiện hữu, bởi tất cả những gì chúng tôi gặng hỏi được từ gã lơ xe qua tiếng bánh xe lộc cộc chỉ là một câu nghe mang máng như: “Sáng mai rồi bảo!”
Thế là chúng tôi châm tẩu thuốc, hé một góc rèm làm ống khói, rồi cứ nằm dài trong bóng tối mà kể cho nhau nghe cảm giác ban đầu của mỗi đứa ra sao, tưởng tượng có bao nhiêu ngàn tên da đỏ đã lao vào tập kích, rồi ai nấy nhớ lại chuỗi âm thanh tiếp theo theo thứ tự thế nào. Chúng tôi cũng thi nhau suy diễn, nhưng chẳng có nổi một giả thuyết nào giải thích nổi vì sao giọng của gã đánh xe lại xuất hiện ngoài đó, hay tại sao đám sát nhân da đỏ kia lại nói tiếng Anh sõi thế, dẫu chúng đúng là da đỏ thật.
Cứ thế, chúng tôi vừa trò chuyện vừa rít thuốc qua nốt phần đêm còn lại một cách thoải mái, nỗi lo lắng bồn chồn ban nãy chẳng hiểu sao lại tan biến đi kỳ diệu trước sự hiện diện sờ sờ của một mối lo có thực.
Rốt cuộc chúng tôi chẳng bao giờ có được câu trả lời thỏa đáng cho vụ việc đen tối ấy. Tất cả những gì chúng tôi gom nhặt được từ mớ thông tin chắp vá vào buổi sáng hôm đó, chỉ là vụ rắc rối xảy ra tại một trạm dừng; rằng chúng tôi đổi người đánh xe ở đó, và gã đánh xe vừa xuống trạm đã lớn tiếng ba hoa, chửi bới về đám tội phạm hoành hành trong vùng (“bởi vì quanh vùng đó chẳng có ma nào là không có lệnh truy nã treo trên đầu và dám bén mảng xuất hiện ở các khu định cư,” gã lơ xe giải thích); hắn đã buông lời lăng mạ những nhân vật bất hảo ấy, và đáng ra hắn “phải đánh xe tới nơi với khẩu súng lục đã lên cò sẵn sàng nằm ngay bên ghế ngồi, rồi tự mình ra tay dọn dẹp trước, vì bất kỳ kẻ khờ nào cũng thừa biết bọn chúng đang mai phục sẵn để đón lõng hắn.”
Đó là tất cả những gì chúng tôi thu thập được, và chúng tôi có thể thấy rõ ràng là cả gã lơ xe lẫn gã đánh xe mới đều chẳng mảy may bận tâm đến chuyện đó. Rõ ràng bọn họ chẳng thèm coi trọng một kẻ dám thốt ra những lời lăng mạ xúc phạm người khác để rồi lại ngây ngô đến mức mò mặt vào hang ổ của họ mà tay không thèm “chuẩn bị để bảo vệ cho cái lý lẽ của mình,” theo cách nói phớt tỉnh của họ khi ám chỉ hành vi thủ tiêu bất kỳ sinh linh nào dám trái ý. Tương tự như vậy, họ tỏ rõ sự khinh miệt đối với sự thiếu khôn ngoan của gã kia khi dám cả gan chọc giận những con mãnh thú bất kham và máu lạnh đến cùng cực ấy—và gã lơ xe nói thêm rằng:
“Ta nói cho các cậu hay, chuyện đó đến cả Slade còn chẳng thèm làm cơ mà!”
Câu nói ấy đã tạo ra một cuộc cách mạng toàn diện trong sự tò mò của tôi. Lúc này, tôi chẳng mảy may bận tâm đến lũ da đỏ nữa, thậm chí còn hoài cả hứng thú với gã đánh xe bị sát hại. Cái tên SLADE ấy có một sức hút ma thuật đến lạ kỳ. Dù là ban ngày hay ban đêm, giờ đây tôi luôn sẵn sàng dẹp bỏ bất cứ đề tài nào đang bàn dở để lắng nghe những chuyện mới mẻ về Slade cùng những chiến tích rùng rợn của hắn. Ngay cả trước khi đến Overland City, chúng tôi đã bắt đầu nghe bàn tán về Slade và “vụ quản hạt” của hắn (bởi hắn là một “đại lý khu vực”) trên tuyến Đường bộ; và từ khoác khắc rời khỏi Overland City, chúng tôi chỉ nghe các gã đánh xe và lơ xe bàn tán về đúng ba thứ—“Californy,” các mỏ bạc Nevada, và tên tướng cướp khét tiếng Slade này. Mà phần lớn câu chuyện đều xoay quanh Slade. Dần dần, chúng tôi đã thấm thía một thực tế rằng Slade là một kẻ có trái tim, đôi bàn tay và tâm hồn đẫm máu của những kẻ dám thách thức uy quyền của hắn; một kẻ trả thù cay đắng và khủng khiếp cho mọi tổn thương, lăng nhục, sỉ vả hay khinh miệt dưới bất kỳ hình thức nào—sẽ trả thù ngay tại chỗ nếu có thể, hoặc dăm năm sau nếu chưa tìm được cơ hội; một kẻ mà lòng thù hận dằn vặt suốt ngày đêm cho đến khi cơn thịnh nộ được xoa dịu—mà nào phải sự trả thù thông thường đâu, cái đích phải là cái chết hoàn toàn của kẻ thù—chẳng có sự nhân nhượng nào khác; một kẻ mà gương mặt sẽ bừng sáng lên niềm vui tột độ đầy ma quái khi hắn tóm được một kẻ thù và đẩy y vào thế bất lợi. Vừa là một bề tôi tận tụy và mẫn cán của công ty Đường bộ, vừa là một tên tội phạm giữa chốn giang hồ nhưng đồng thời lại là nỗi kinh hoàng không khoan nhượng của chính bọn chúng, Slade vừa là công dân đẫm máu nhất, nguy hiểm nhất lại vừa đáng giá nhất sinh sống trong những sào huyệt hoang vu nơi núi thẳm.