Vào lúc bốn giờ chiều, chúng tôi đang xuôi dần xuống một sườn núi toàn dung nham xám xịt, hoang vu để tiến ra biển, khép lại chặng hành trình trên cạn đầy thú vị. Đống dung nham này là tích tụ của bao thời đại; từng dòng thác lửa cứ nối tiếp nhau trôi tuột xuống đây từ thuở hồng hoang, bồi đắp cho cấu trúc hòn đảo ngày một cao hơn. Bên dưới, lòng đất rỗng tuếch chằng chịt những hang hốc; đào giếng ở một nơi thế này thì công cốc—chúng chẳng thể giữ nổi nước—mà thực ra có bói cũng chẳng ra giọt nước nào để mà giữ. Thế nên, người làm vườn đành phải trông cậy vào các bể chứa nước mưa.
Dòng dung nham cuối cùng phun trào ở đây đã từ rất lâu rồi, đến nỗi chẳng còn ai sống sót từng mục kích cảnh tượng ấy. Có nơi dòng chảy đã nuốt trọn và thiêu trụi cả một rặng dừa, để lại những cái lỗ hằn in hình thân cây trên lớp dung nham vẫn còn rõ mồn một; vách lỗ vẫn giữ nguyên nếp vỏ sần sùi. Thân cây đổ rạp xuống dòng sông lửa, bị vùi lấp một phần, đã để lại nơi đó bản sao hoàn hảo của từng cái bướu, từng cành cây, chiếc lá, thậm chí cả trái dừa, để những kẻ tò mò ở một thì tương lai xa tít tắp phải trầm trồ ngắm nghía.
Hẳn là thủa ấy có không ít lính gác bản địa lảng vảng quanh đây, nhưng họ chẳng để lại những pho tượng đúc bằng hình dáng chính mình trong lớp dung nham như lính gác La Mã ở Herculaneum và Pompeii từng làm. Thật tiếc vì điều đó, bởi những thứ ấy mới thú vị làm sao; nhưng sự đời là thế. Chắc là họ đã chuồn từ trước. Có lẽ họ rút đi từ sớm. Dù sao thì họ cũng có cái lý của mình; người La Mã tỏ ra gan dạ hơn, nhưng người bản địa lại sáng suốt hơn.
Chẳng mấy chốc, chúng tôi đã thu vào tầm mắt chốn mà lịch sử đã nhẵn mặt với mọi đứa trẻ đi học trên khắp thế giới này—Vịnh Kealakekua—nơi Thuyền trưởng Cook, nhà thám hiểm vĩ đại đi vòng quanh thế giới, đã bị thổ dân sát hại ngót nghét một trăm năm về trước. Mặt trời lặn đang rực lửa trên mặt vịnh, một cơn mưa mùa hè đang trùm xuống, bắc ngang qua đó là hai chiếc cầu vồng lộng lẫy. Hai kẻ đi trước chúng tôi phi ngựa xuyên qua một dải cầu vồng, và trong chốc lát, y phục của họ bỗng chói lọi một cách vương giả đến lạ kỳ. Sao Thuyền trưởng Cook lại thiếu tinh tế đến mức không đặt tên cho phát kiến vĩ đại của ông là Quần đảo Cầu vồng cơ chứ? Những cảnh tượng mê hồn này cứ đập vào mắt bạn ở mọi ngã rẽ; chúng xuất hiện nhan nhản ở khắp các hòn đảo; ngày nào cũng thấy, và thường xuyên gặp cả về ban đêm—không phải dải sáng bạc mờ ảo mà ta dăm thì mười họa mới thấy một lần ở các bang quê nhà nhờ ánh trăng, mà là những vệt màu rực rỡ, diễm lệ đủ sắc thái, tựa như đứa con của mặt trời và giọt nước mưa. Tối nọ tôi vừa chộp được một cái. Thứ mà thủy thủ đoàn gọi là “chó mưa”—những mảnh cầu vồng nhỏ xíu—thường dạt trôi bồng bềnh trên bầu trời chốn vĩ độ này, trông hệt như mấy ô kính màu nhà thờ.
Vịnh Kealakekua là một khúc cong nhỏ tựa nếp uốn cuối cùng của vỏ ốc sên, khoét sâu vào đất liền, thoạt nhìn bề ngang bờ bên này sang bờ bên kia chưa đầy một dặm. Một bên vịnh—nơi diễn ra vụ án mạng—được bao bọc bởi một vùng đất bằng phẳng nhỏ hẹp, nơi tọa lạc một rặng dừa cùng vài ngôi nhà đổ nát; một bức vách dung nham dựng đứng, cao tới ngàn thước ở đầu trên và ba bốn trăm thước ở đầu dưới, sà xuống từ ngọn núi để chặn lấy phần tận cùng bên trong của vịnh. Nhờ bức vách này mà chốn ấy mang cái tên Kealakekua, theo tiếng bản địa có nghĩa là “Lối đi của các vị thần.” Người ta đồn đại (và vẫn đinh ninh như thế, mặc cho đã được thụ hưởng nền giáo dục Thiên Chúa giáo phóng khoáng), rằng vị thần vĩ đại Lono, kẻ từng cư trú trên sườn núi, vẫn thường rảo bước dọc theo con đường này mỗi khi có việc công khẩn cấp liên quan đến cõi tiên thúc bách ngài hỏa tốc hạ phàm xuống chốn ven biển.
Khi mặt trời đỏ rực dòm qua đại dương phẳng lặng xuyên qua những thân dừa cao, nhẵn thín, trông y hệt một gã bợm rượu mặt mày đỏ tía đang nhòm qua chấn song nhà tù thành phố, tôi liền bước ra mép nước đứng trên phiến đá phẳng từng in dấu chân Thuyền trưởng Cook vào khoảnh khắc nhát dao chí mạng tước đoạt mạng sống của ông, và ráng mường tượng trong đầu cảnh ngã ngũ: người đàn ông bị phán quyết phải chết đang oằn mình chống chọi giữa vây trùng vây lũ thổ dân giận dữ ngút ngàn—những gã thủy thủ trên tàu đang chen chúc bám lấy mạn thuyền, ánh mắt ngập tràn hoảng loạn ngước nhìn về phía bờ—cảnh—nhưng tôi sực nhận ra mình chẳng tài nào tưởng tượng nổi.

Trời chuyển dần tối, mưa bắt đầu rơi, từ xa chúng tôi có thể thấy chiếc Boomerang đang vô phương trôi dạt vì lặng gió giữa trùng khơi, thế là tôi đành lui về cái kho hàng nhỏ xíu lạnh lẽo trống huơ trống hoác, ngồi xuống châm điếu thuốc, trầm ngâm suy nghĩ và thầm cầu mong con tàu sớm cập bến—bởi mười tiếng đồng hồ nay chúng tôi chẳng nhét được mấy chữ bẻ đôi vào bụng và đang đói ngấu đóu nghiến như hổ đói.
Lịch sử trần trụi, chẳng màng tô vẽ đã tước sạch lớp vỏ lãng mạn xung quanh vụ ám sát Thuyền trưởng Cook, để rồi đưa ra phán quyết rành mạch rằng đây là một vụ giết người chính đáng. Bất cứ đặt chân đến hòn đảo nào, ông ta cũng được dân bản địa đón tiếp nồng hậu, chào mừng rôm rả, và tàu của ông được cung cấp ê chề đủ loại lương thực. Thế nhưng ông ta lại đáp trả sự tử tế ấy bằng thói hất h hàm xấc và đối xử tệ bạc. Nhận thấy người dân lầm tưởng mình là vị thần Lono đã biến mất từ lâu và vô cùng kính tiếc, ông ta liền hùa theo sự u mê ấy chỉ vì thứ quyền lực vô biên mà nó mang lại; thế nhưng trong cuộc bạo loạn đình đám tại chốn này, khi ông và đồng bọn bị mười lăm nghìn tên thổ dân cuồng nộ vây chặt, ông đã dính đòn và sơ hở để lộ cội nguồn phàm trần bằng một tiếng rên rỉ. Đó chính là bản án tử hình dành cho ông. Lập tức một tiếng gầm vang lên: “Hắn rên kìa!—hắn không phải thần linh!” Thế là họ xúm vào đâm chém và hạ sát ông.
Thịt ông bị lóc khỏi xương rồi đem đốt (ngoại trừ chín cân được chuyển lên tàu). Trái tim thì được treo trong một túp lều bản địa, rồi bị ba đứa trẻ tìm thấy và ăn ngấu nghiến vì ngỡ là tim chó. Một trong ba đứa trẻ ấy lớn lên thành một ông lão đầu bạc răng long, và vừa qua đời ở Honolulu cách đây vài năm. Về phần xương của Cook, một số đã được vớt lại và được các sĩ quan trên tàu thủy táng xuống lòng đại dương sâu thẳm.
Chẳng thể trách cứ gì đám thổ dân trong vụ thủ tiêu Cook. Họ đã đối xử tốt với ông. Ấy vậy mà ông ta lại đi ngược đãi họ. Ông và thuộc hạ đã gây thương tích thân thể cho biết bao người vào những thời điểm khác nhau, thậm chí còn tước đoạt mạng sống của ít nhất ba người bản địa trước khi họ kịp tung ra những đòn trả đũa tương xứng.
Gần bờ biển, chúng tôi tìm thấy “Tượng đài Cook”—thực chất chỉ là một khúc gốc dừa cao bốn thước, phần gốc to cỡ một thước. Xung quanh chân đế được chất đống những tảng dung nham to tướng để chèn giữ cho nó khỏi ngã, và toàn bộ thân được bọc kín mít từ trên xuống dưới bằng những tấm đồng thô ráp, sỉn màu, hệt như thứ đồng dùng để ốp đáy tàu biển. Khắc trên mỗi tấm đồng là những dòng chữ nguệch ngoạc—trông có vẻ như dùng đinh khắc—và nét chữ nào trông cũng thảm họa. Hầu hết chỉ ghi chép lại mấy chuyến ghé thăm của các chỉ huy hải quân Anh tới chốn này, riêng một tấm có khắc dòng chữ sau:
“Gần chốn này THUYỀN TRƯỞNG JAMES COOK đã ngã xuống, Nhà thám hiểm lừng danh, người đã phát hiện ra các hòn đảo này vào Công nguyên 1778.”
Sau vụ ám sát Cook, phó tướng của ông trên tàu đã cho khai hỏa nã pháo xối xả vào bầy đàn thổ dân đang lúc nhúc trên bãi biển, và một quả đạn phán đã tiện đứt phăng ngọn cây dừa này, để lại cái gốc cây mang tính biểu tượng trơ trọi giữa trời. Trông nó mới cô quạnh và thê lương làm sao, giữa chốn hoàng hôn mịt mù mưa gió. Nhưng chang còn tượng đài nào khác tưởng nhớ Thuyền trưởng Cook nữa. Thật ra, ngược lên sườn núi, chúng tôi từng đi ngang qua một khoảnh đất rào chắn rộng rãi trông chẳng khác nào chuồng lợn lớn xây bằng những khối dung nham, đánh dấu nơi thịt của Cook bị lóc khỏi xương và đem đi thiêu rụi; nhưng đây chẳng thể coi là đài tưởng niệm cho cam, bởi nó do chính tay người bản địa dựng lên, mục đích chẳng phải để tôn vinh nhà thám hiểm vĩ đại mà cốt cho tiện bề quay thịt ông ta mà thôi. Một tấm biển chỉ đường gắn trên cái cột cao cắm phăng phắc phía trên cái chuồng lợn ấy, thuở trước từng khắc dòng chữ miêu tả sự kiện ghi dấu lịch sử đã diễn ra tại đây; nhưng nắng mưa dãi dầu bấy lâu nay đã làm nó phai mờ đến độ chữ nghĩa nhòe nhoẹt chẳng thể đọc nổi.
Đến độ nửa đêm, một cơn gió lành thổi lồng lộng lên, chiếc phăng-sơ liền trườn mình vào vịnh rồi hạ neo. Thuyền nhỏ được thả xuống đón chúng tôi vô bờ, và chẳng mấy chốc mây mù cùng mưa dầm đã tan biến sạch sành sanh. Ánh trăng hiền hòa đang tỏa rạng xuống cả đất liền lẫn trùng khơi, còn hai chúng tôi thì ngả oằn người trên boong tàu, tận hưởng giấc ngủ ngon lành cùng những giấc mơ ngọt ngào mà chỉ những kẻ mệt mỏi và vô tội mới được ban ơn.