Những chuyến phiêu lưu gian khó

Lượt đọc: 639 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2

❊ ❊ ❊

Việc đầu tiên chúng tôi làm vào buổi tối vui mừng đưa chân đến St. Joseph là đi tìm phòng vé xe ngựa, rồi dứt khoát bỏ ra một trăm năm mươi đô-la cho mỗi vé xe ngựa đường dài tuyến Carson City, Nevada.

Sáng hôm sau, từ lúc trời còn hửng sáng, chúng tôi ăn vội bữa điểm tâm rồi hối hả chạy ra bến xe. Lúc ấy, một rắc rối bỗng lòi ra mà trước đó chúng tôi chẳng hề lường trước: ấy là người ta không thể cứ khăng khăng đòi chiếc va-li du lịch cồng kềnh của mình chỉ nặng đúng hai mươi nhăm pa-vơ — bởi vì nó nặng hơn thế nhiều. Khổ nỗi, đó lại là trọng lượng tối đa chúng tôi được phép mang — mỗi người đúng hai mươi nhăm pa-vơ. Thế là chúng tôi đành phải bứt bách bung va-li ra để chọn lọc lại trong một bầu không khí vô cùng tất bật. Chúng tôi dồn cái định mức hợp pháp hai mươi nhăm pa-vơ của mỗi người vào chung một chiếc túi xách tay, rồi gửi trả mấy cái va-li ngược về St. Louis. Đó là một cuộc chia ly đầy lưu luyến, bởi từ nay chúng tôi sẽ chẳng còn áo đuôi tôm hay găng tay da dê trắng để diện trong các buổi tiếp tân sang trọng ở Pawnee giữa chốn Dãy núi Rocky, cũng chẳng có nổi mũ chóp cao hay giày da bóng lộn, hay bất cứ thứ gì khác cần thiết để duy trì một cuộc đời bình yên, phẳng lặng. Chúng tôi bị đẩy về cái thế chuẩn bị ra trận. Mỗi đứa tự tròng lên người một bộ đồ thô kệch, dày cộp, bao gồm cả áo sơ-mi len quân đội và đôi bốt da thô kệch; còn trong túi xách thì nhồi nhét dăm chiếc áo sơ-mi trắng, ít đồ lót cùng dăm thứ linh tinh tương tự. Anh tôi, vị Thư ký đoàn, còn mang theo độ bốn pa-vơ luật lệ Hợp chủng quốc và sáu pa-vơ Từ điển khổ lớn; vì chúng tôi đâu có biết — lũ khờ dại làm sao — rằng những thứ đó hoàn toàn có thể mua ở San Francisco vào ngày hôm nay rồi nhận được ở Carson City ngay ngày mai. Riêng tôi thì vũ trang tận răng bằng một khẩu súng lục Smith & Wesson bảy phát đáng thương hại, với viên đạn nhỏ xíu như viên thuốc vi lượng đồng căn, mà phải nện cả bảy phát mới đủ liều hạ gục một người lớn. Thế nhưng tôi lại cứ tưởng thế là oai lắm. Trông nó cứ như thể một thứ vũ khí chết người không bằng. Nó chỉ mắc đúng một lỗi duy nhất — là anh chẳng tài nào bắn trúng nổi thứ gì bằng nó cả. Một tay “lơ xe” của chúng tôi đã thử tập tành bắn một con bò bằng khẩu súng ấy, và baoừng nào con bò còn đứng yên bất động thì nó hãy còn bình an vô sự; nhưng hễ nó vừa cựa quậy bước đi, và anh ta quay sang ném đạn vào những mục tiêu khác, thì y như rằng con bò khốn khổ lại dính đạn. Anh Thư ký thì đeo lủng lẳng bên hông một khẩu súng lục Colt cỡ nhỏ để phòng thân trước thổ dân, và để đề phòng tai nạn cướp cò, anh cẩn thận tháo luôn cả hạt nổ ra. Còn ông George Bemis thì trông gớm ghiếc đến mức thảm hại. George Bemis là bạn đồng hành cùng chuyến với chúng tôi.

Chúng tôi chưa từng gặp hắn bao giờ. Giắt bên lưng hắn là một khẩu súng lục kiểu cũ chính gốc hiệu “Allen”, thứ mà người đời hay ngông nghênh gọi là “hộp đựng tiêu”. Chỉ cần giật lợt cò ra phía sau là búa súng tự động giương lên và nổ đom đóm. Khi lợt cò dịch chuyển về phía sau, búa súng bắt đầu chồm lên và nòng súng quay tít, rồi chẳng mấy chốc búa súng sập xuống, viên đạnéé vút đi. Cố ngắm nghía dọc theo cái nòng súng đang quay mòng mòng để bắn trúng đích là một kỳ tích có lẽ chưa từng ai trên đời này làm nổi với một khẩu “Allen”. Mặc dù vậy, khẩu súng của George vẫn được coi là một thứ vũ khí đáng tin cậy, bởi như một xà-vịt xe ngựa sau đó đã nói: “Nếu nó không tóm được con mồi nó định săn, thì thể nào nó cũng quơ được một thứ quái quỷ khác.” Quả đúng là như vậy. Có lần nó nhắm bắn một lá bài hai bích được đóng đinh lên thân cây, thế quái nào lại quơ trúng một con lừa đang đứng cách đó tận ba mươi thước về phía bên trái. Bemis chẳng đời nào cần con lừa ấy; nhưng chủ nhân của nó đã cầm sẵn khẩu súng săn hai nòng lao ra và ép anh ta mua đứt cho bằng được. Quả là một thứ vũ khí tràn đầy hứng khởi — cái dòng “Allen” ấy. Đôi khi cả sáu nòng của nó cùng nhả đạn một lúc, và khi ấy thì chẳng có lấy một xó xỉnh nào quanh vùng là an toàn cho nổi, trừ phi đứng nấp đằng sau nó.

Chúng tôi mang theo hai, ba chiếc mền để chống chọi với cái lạnh cắt da cắt thịt trên miền núi cao. Về khoản xa xỉ phẩm thì chúng tôi rất đỗi khiêm nhường — chẳng mang theo gì sất ngoài dăm chiếc tẩu và năm pa-vơ thuốc lào. Chúng tôi có hai chiếc bình tông lớn để trữ nước uống giữa các trạm dừng trên vùng Đồng bằng, đồng thời cũng giắt theo một túi đạn nhỏ đựng đầy tiền xu để chi tiêu dọc đường cho những bữa điểm tâm và cơm tối.

Đúng tám giờ, mọi thứ đã đâu vào đấy, và chúng tôi vượt sang bên kia sông. Chúng tôi nhảy tót lên xe ngựa, người đánh xe vung roi quất một tiếng đong đưa, thế là xe lướt băng băng, bỏ lại “các Bang” ở phía sau. Đó là một buổi sáng mùa hè tuyệt diệu, cả không gian bừng sáng dưới ánh mặt trời rực rỡ. Lại thêm bầu không khí tươi mới, lộng gió, cùng một cảm giác phấn khích khôn tả vì được giải phóng khỏi mọi thứ lo toan và trách nhiệm, khiến chúng tôi suýt ngỡ rằng những năm tháng chôn chân nơi thành thị ngột ngạt, nóng bức, đầu tắt mặt tối cày cuốc vừa qua đều là hoài phí và đổ sông đổ biển. Chúng tôi đang vun vút lao qua xứ Kansas, và chỉ tầm một tiếng rưỡi sau là đã dấn thân hẳn ra giữa vùng Đồng bằng mênh mông rộng lớn. Ngay tại đây, địa hình bắt đầu chập chùng — một dải nhấp nhô liên tiếp những ngọn đồi thấp và thung lũng kéo dài tít tắp tận chân trời — tựa như những đợt sóng dềnh lên buốt giá và uy nghiêm của lòng đại dương sau cơn giông bão. Và đâu đâu cũng là những cánh đồng bắp, chấm phá những ô màu xanh sẫm giữa không gian thảo nguyên vô tận này. Thế nhưng chẳng mấy chốc, cái biển cả trên cạn khô ấy sẽ mất đi vẻ “nhấp nhông” vốn có để mà duỗi thẳng tắp suốt bảy trăm dặm dài bằng phẳng như một tấm sàn nhà!

Chiếc xe ngựa của chúng tôi là một cỗ xe tròng trành, lắc lư vô cùng sang trọng — một chiếc nôi nguy nga gắn bánh xe. Nó được kéo bởi sáu con ngựa tuấn tú, và ngồi vắt vẻo bên cạnh người đánh xe chính là tay “lơ xe”, vị thuyền trưởng đích thực của chuyến hành trình; bởi nhiệm vụ của hắn là cai quản và chăm sóc hòm thư, hành lý, hàng hóa chuyển phát cùng đám hành khách chúng tôi. Ba chúng tôi là những hành khách duy nhất trong chuyến đi này. Chúng tôi ngồi ở hàng ghế sau, bên trong khoang. Toàn bộ phần không gian còn lại của xe đều nhét kín các bao thư — bởi chúng tôi mang theo lượng thư từ bị ùn ứ từ ba ngày trước. Ngay sát đầu gối chúng tôi, một bức tường thư từ dựng đứng cao vút lên tận mái xe. Trên nóc xe còn chất một đống bưu phẩm khổng lồ được chằng néo cẩn thận, và cả cốp trước lẫn cốp sau đều nghẹt thở. Xe chở tới hai nghìn bảy trăm pa-vơ bưu phẩm, như lời người đánh xe cho biết — “một ít cho Brigham, Carson và ’Frisco, nhưng phần nặng ký nhất là dành cho mấy ông Thổ dân, đám này cực kỳ rắc rối nếu không được phát cho đống tài liệu đọc ngập mặt.”

Nhưng ngay lúc đó, trên nét mặt hắn bỗng xuất hiện một cơn co giật kinh hoàng hệt như một gã đang cố nuốt chửng cái nháy mắt bị một trận động đất cướp đi, thế là chúng tôi đoán chắc câu nói vừa rồi chỉ là một trò đùa cợt tếu táo, ngầm ý rằng chúng tôi sẽ trút bỏ phần lớn đống bưu phẩm ấy ở đâu đó giữa chốn Đồng bằng rồi mặc kệ cho Thổ dân, hay bất cứ kẻ nào thèm muốn tha hồ nhặt lấy.

Cứ mười dặm là chúng tôi đổi ngựa một lần, suốt cả ngày dài, và xe lao đi vun vút trên con đường cứng cáp, phẳng lỳ. Mỗi lần xe dừng bánh là chúng tôi lại nhảy tót xuống duỗi chân duỗi cẳng, nhờ thế mà khi màn đêm buông xuống, chúng tôi vẫn giữ nguyên vẻ phơi phới, chẳng hề mệt mỏi.

Sau bữa tối, có một người phụ nữ bước lên xe, nhà ả tận năm mươi dặm về phía trước, thế là ba chúng tôi phải luân phiên nhau trèo lên ngồi ngoài mui với người đánh xe và lơ xe. Trông mụ có vẻ chẳng phải là tuýp người thích ba hoa. Mụ cứ ngồi ì ra đấy giữa chốn hoàng hôn chạng vạng, dán chặt đôi mắt kiên định vào một con muỗi đang cắm vòi rúc sâu vào cánh tay mình, rồi từ từ giơ bàn tay bên kia lên án chừng khoảng cách, để rồi vung một cái tát trời giáng có sức quật ngã cả một con bò; và sau đó mụ cứ ngồi thừ ra ngắm nghía cái xác con côn trùng với sự mãn nguyện tĩnh lặng — bởi mụ chưa từng trượt con muỗi nào bao giờ; mụ chính là một thiện xạ bách phát bách trúng ở cự ly gần. Mụ chẳng thèm quét dọn cái xác nào đi, cứ để nguyên đấy làm mồi nhử. Tôi ngồi cạnh vị Nhân sư lạnh lùng này và lặng lẽ quan sát mụ tàn sát ba bốn mươi con muỗi — quan sát và chờ đợi mụ thốt lên lấy một lời, nhưng mụ cứ ngậm tăm mãi. Cuối cùng, không chịu nổi nữa, tôi đành chủ động khơi mào câu chuyện. Tôi cất lời:

— Muỗi ở vùng này hoành hành dữ dội thật đấy, thưa bà.

— Khỏi phải bàn!

— Dạ, vừa rồi bà nói gì cơ ạ?

— ĐÃ BẢO KHỎI PHẢI BÀN RỒI!

Bấy giờ mụ ta mới hớn hở hẳn lên, quay phắt người lại và oang oang:

— Thề có Chúa tao cứ ngỡ mấy thằng bây bị điếc với câm chứ lị. Thề có ơn trên luôn ấy chứ. Tao ngồi đây, cứ ngồi lì, ngồi lì, ngồi lì hết nện con muỗi này đến bóp chết con muỗi nọ mà cứ ngẩn ngơ không hiểu tụi bay bị cái quái gì nữa. Ban đầu tao tưởng tụi bay điếc câm, xong lại tưởng tụi bay bị ốm hay hóa rồ hóa dại gì rồi, để rồi lúc sau tao lạiâm thầm đoán tụi bay chỉ là một lũ dở hơi ốm o chả biết mở mồm nói năng câu gì cho nên hồn. Tụi bay từ xó xỉnh nào chui ra thế hả?

Vị Nhân sư nay đã không còn là Nhân sư nữa! Những mạch nước ngầm sâu thẳm trong mụ ta đã vỡ òa, và mụ tuôn ra trút xối xả đủ chín phần của từ loại suốt ròng rã bốn mươi ngày bốn mươi đêm, nói theo cách ẩn dụ là thế, vùi dập chúng tôi dưới một trận hồng thủy tám chuyện nhảm nhí tàn khốc đến mức chẳng còn lấy nổi một mỏm đá hay chóp núi đối đáp nào nhô lên nổi giữa dòng đời trôi nổi của thứ ngữ pháp trật khớp và cách phát âm phân hủy ấy!

Chúng tôi đã phải chịu đựng, chịu đựng và chịu đựng biết nhường nào! Mụ ta cứ lải nhải hết giờ này sang giờ khác, khiến tôi đâm ra hối hận vì đã khơi mào cái đề tài muỗi đó để rồi rước họa vào thân. Mụ chẳng chịu ngậm miệng lại cho đến tận lúc gần sáng khi xe tới đích; và rồi trước lúc rời khỏi xe (vì lúc bấy giờ chúng tôi đã bắt đầu gật gù buồn ngủ), mụ còn cố vỗ về đánh thức chúng tôi dậy và phán một câu xanh rờn:

— Này mấy chú em, cứ xuống xe ở Cottonwood đi nhé, rồi nghỉ ngơi dăm bữa nửa tháng ở đấy, tối nay thể nào tao cũng quay lại, và nếu tao có thể giúp ích gì cho tụi bay bằng cách xía dăm ba câu vào chuyện trò lúc này lúc khác, tao sẵn sàng có mặt ngay. Người ta cứ bảo tao là đứa kiêu kỳ và khó tính đối với một đứa con gái lớn lên chốn rừng thiêng nước độc, mà đúng là thế thật, với đám phàm phu tục tử thì con gái bắt buộc phải thế nếu muốn giữ mình ra gì, nhưng hễ gặp những kẻ ngang hàng xứng tầm với tao, tao đây tính ra cũng là một con nhỏ dễ gần khối kẻ đấy nhé.

Chúng tôi đồng lòng quyết định không thèm “dừng chân ở Cottonwood”.

Nguồn: Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.