Trong nhật ký ghi chép về ngày thứ ba của chúng tôi ở Honolulu, tôi tìm thấy đoạn này:
Lúc này, tôi có lẽ là kẻ nhạy cảm nhất ở Hawaii — đặc biệt là trong việc đặt mông ngồi xuống trước mặt những bậc tôn kính hơn mình. Tôi đã cưỡi ngựa mười lăm hay hai mươi dặm từ hồi 5 giờ chiều, và thú thật là tôi vô cùng e ngại cái việc phải ngồi xuống đâu đó.
Một chuyến dã ngoại tới Diamond Head và Rừng dừa của Nhà vua đã được lên lịch vào hôm nay — hẹn lúc 4:30 chiều — đoàn đi gồm nửa tá quý ông và ba quý bà. Tất cả bọn họ đều khởi hành đúng giờ hẹn, ngoại trừ tôi. Tôi đang ở nhà tù chính phủ (cùng Đại úy Fish và một thuyền trưởng tàu săn cá voi khác là Đại úy Phillips), và mải mê quan sát đến mức chẳng để ý thời gian trôi nhanh thế nào. Có ai đó lên tiếng rằng đã năm giờ hai mươi phút rồi, điều đó mới làm tôi giật mình tỉnh ngộ. Thật may mắn làm sao khi Đại úy Phillips mang theo cỗ xe "tự chế" của ông — theo cách gọi của ông về chiếc xe mui trần hai bánh mà Thuyền trưởng Cook đã đem tới đây hồi năm 1778, cùng con ngựa đã có mặt ở đây từ hồi Thuyền trưởng Cook đặt chân đến. Đại úy Phillips tỏ ra vô cùng tự hào về tay lái của mình cũng như tốc độ của con ngựa, và nhờ niềm đam mê trổ tài ấy mà chúng tôi chỉ mất có mười sáu phút để phi từ nhà tù về tới Khách sạn American — một khoảng cách ước tính dài hơn nửa dặm. Nhưng đó là một cú lái xe bạt vía. Chiếc roi của viên Đại úy quất xuống liên hồi, những cú đánh tóe ra lắm bụi mù từ lớp da con ngựa đến nỗi trong nửa chặng đường sau, chúng tôi lao đi giữa một màn sương mù đặc quánh, phải dò đường bằng chiếc la bàn bỏ túi trên tay Đại úy Fish — một tay săn cá voi có thâm niên hai mươi sáu năm, kẻ vẫn ngồi điềm nhiên suốt chuyến hải trình nguy hiểm ấy như thể đang ngồi trong buồng chơi bài trên chính con tàu của mình, thỉnh thoảng lại điềm tĩnh cất tiếng: "Bẻ lái sang trái — trái nào", rồi "Giữ cho lỏng tay một chút — đều tay — thế — thế nào", và "Đánh lái gấp — sát sang mạn phải!" mà chưa một lần đánh mất sự bình tĩnh hay để lộ chút lo âu nào qua giọng nói hay thái độ. Khi cuối cùng chúng tôi thả neo dừng lại, Đại úy Phillips nhìn đồng hồ và tuyên bố: "Mười sáu phút — tôi đã bảo là con bé này làm được mà! Thế là hơn ba dặm một giờ đấy!" Tôi nhận ra ông đang chờ đợi một lời khen ngợi, thế là tôi bèn bảo rằng tôi chưa từng thấy tia chớp nào chạy nhanh như con ngựa ấy. Và quả thực tôi chưa thấy bao giờ.
Chủ khách sạn American cho biết nhóm người kia đã rời đi gần một tiếng đồng hồ, nhưng ông có thể cho tôi chọn một số con ngựa có khả năng bắt kịp họ. Tôi bảo thôi khỏi — tôi thích một con ngựa an toàn hơn là một con ngựa chạy nhanh — tôi muốn một con ngựa hiền lành quá mức — một con ngựa chẳng còn chút khí thế nào — một con thọt chân thì càng tốt nếu ông ta có sẵn. Chưa đầy năm phút sau, tôi đã ở trên yên ngựa, hoàn toàn mãn nguyện với cơ ngơi của mình. Tôi chẳng có thời gian để gắn biển đề "Đây là một con ngựa", thế nên nếu thiên hạ có nhầm nó là cừu thì tôi đành chịu. Tôi thấy hài lòng, và đó mới là điều quan trọng nhất. Tôi nhận thấy nó có nhiều nét đẹp chẳng kém gì ngựa của bất kỳ ai, thế nên tôi bèn treo chiếc mũ của mình lên một trong những chỗ đẹp đó, ngay đằng sau yên ngựa, rồi lau mồ hôi trên mặt và bắt đầu khởi hành. Tôi đặt tên cho nó theo tên hòn đảo này, "Oahu" (đọc là O-waw-hee). Cái cổng đầu tiên chúng tôi gặp, nó liền xông thẳng vào; tôi chẳng có roi cũng chẳng có cưa, thế nên đành dùng lý lẽ để tranh luận với nó. Nó kháng cự lý lẽ, nhưng cuối cùng cũng phải chịu khuất phục trước những lời lăng mạ và sỉ vả. Nó lùi ra khỏi cái cổng ấy và chĩa mũi nhắm thẳng tới một cái cổng khác ở phía bên kia đường. Tôi đã chiến thắng bằng biện pháp cũ. Chỉ trong sáu trăm thước tiếp theo, nó đã băng qua đường mười bốn lần và cố lao vào mười ba cái cổng, trong khi cái nắng nhiệt đới đang nện xuống đầu như muốn đánh sụp đỉnh đầu tôi, còn mồ hôi thì túa ra đầm đìa trên người tôi. Sau đó, nó từ bỏ cái trò phá cổng và lúp xúp đi tiếp khá ôn hòa, nhưng chìm đắm trong dòng suy tư trầm mặc. Tôi chú ý đến biểu hiện sau này của nó, và chẳng mấy chốc điều đó bắt đầu dấy lên trong lòng tôi sự hoang mang tột độ. Tôi tự nhủ, con vật quái quỷ này đang mưu tính một trò tồi tệ mới mẻ nào đây, một mưu đồ đen tối nào khác — chẳng có con ngựa nào lại đăm chiêu suy nghĩ về một vấn đề sâu sắc đến thế mà lại chẳng vì cái quái gì cả. Càng nghĩ ngợi về chuyện này, tôi lại càng cảm thấy bồn chồn lo lắng, cho đến khi sự bất định trở nên gần như không thể chịu đựng nổi và tôi đành xuống ngựa để xem trong mắt nó có chút vẻ hoang dã nào không — vì tôi từng nghe nói rằng đôi mắt của loài vật nuôi cao quý này rất có biểu cảm.

Tôi không thể diễn tả nổi gánh nặng lo âu trút bỏ khỏi tâm trí tôi nhiều thế nào khi phát hiện ra rằng nó chỉ đang ngủ gật. Tôi đánh thức nó dậy và thúc nó bước nhanh hơn, thế rồi bản chất đểu cá của nó lại bộc lộ. Nó tìm cách trèo qua một bức tường đá cao chừng năm sáu feet. Tôi hiểu ra rằng mình buộc phải dùng vũ lực với con ngựa này, và có lẽ nên ra tay sớm còn hơn muộn. Tôi bẻ mộthành cành roi dẻ dai từ một gốc me, và ngay khoảnh khắc nó nhìn thấy chiếc roi, nó liền xin hàng. Nó chồm lên với một điệu phi nước đại giật cục, gồm ba bước ngắn và một bước dài, khiến tôi liên tưởng luân phiên tới những cú lắc trời giáng của trận đại địa chấn, hay những cú chồm lút cán của chiến hạm Ajax giữa cơn giông bão.
Và giờ đây, chẳng có dịp nào thích hợp hơn hiện tại để thốt lên những lời chúc phúc ngược đời dành cho kẻ đã phát minh ra chiếc yên ngựa kiểu Mỹ. Chẳng có chỗ nào ra hồn để mà ngồi trên đó — người ta ngồi lên một cái xẻng còn hơn — và mấy cái bàn đạp thì chẳng khác gì một thứ phiền toái mang tính trang trí. Nếu tôi viết ra đây tất cả những lời nguyền rủa mà tôi dành cho đám bàn đạp ấy, nó sẽ thành một cuốn sách dày cộm, kể cả khi không có tranh minh họa. Có những lúc tôi thọc một bàn chân qua sâu đến mức cái bàn đạp trông chẳng khác nào chiếc vòng kiềng đeo chân; có lúc cả hai bàn chân đều thọc qua và tôi bị còng chặt lấy đôi cẳng; rồi có lúc chân tôi tụt hẳn ra ngoài và để mặc mấy chiếc bàn đạp vung vẩy hoang dại quanh ống đồng của mình. Ngay cả khi tôi ở đúng tư thế và cẩn trọng giữ thăng bằng trên đầu bàn chân, thì cũng chẳng có chút thoải mái nào, bởi nỗi sợ hãi chập chờn rằng chúng sẽ trượt đi đằng này hay đằng khác bất cứ lúc nào. Nhưng chủ đề này quá ư bực bội để mà viết thêm.
Cách thị trấn chừng một dặm rưỡi, tôi đi đến một khu rừng dừa cao vút, với những thân cây nhẵn thín không cành vươn thẳng đứng lên cao sáu bảy mươi feet và được tô điểm ở chùm lá xanh mướt che chở cho những buồng dừa — chẳng khác nào một khu rừng gồm những chiếc ô rách rưới khổng lồ với những chùm nho phóng đại lủng lẳng bên dưới.
Tôi từng nghe một kẻ đau khớp người miền Bắc nói rằng cây dừa có lẽ mang chất thơ, điều đó có thể đúng; nhưng trông nó chẳng khác gì cái chổi lông gà bị sét đánh. Tôi nghĩ câu đó tả chuẩn hơn là một bức tranh — thế mà, không chút nghi ngờ, cây dừa vẫn mang một nét quyến rũ kỳ lạ — và cũng rất uyển chuyển nữa.

Khoảng một tá ngôi nhà tranh, cái bằng gỗ, cái bằng cỏ bản địa, ẩn mình buồn ngủ trong bóng râm rải rác đây đó. Những căn lều tranh có màu xám xịt, hình dáng khá giống những ngôi nhà tranh của chúng tôi, chỉ có điều mái thường cao và dốc hơn, và được làm bằng một loại cỏ dại nào đó bện chặt lại thành từng bó. Mái nhà rất dày, và tường cũng vậy; trên tường có trổ những ô vuông làm cửa sổ. Nhìn từ xa, những căn lều này có vẻ ngoài xù lông, tựa như chúng được làm từ da gấu vậy. Bên trong rất mát mẻ và dễ chịu. Lá cờ của Nhà vua đang tung bay trên mái của một trong những ngôi nhà tranh, và có lẽ Bệ hạ đang ở bên trong. Ngài sở hữu toàn bộ khu vực quanh đó, và thường xuyên lui tới đây vào những ngày oi bức để "nghỉ ngơi". Nơi này được gọi là "Rừng của Nhà vua".
Ngay gần đó là một di tích thú vị — tàn tích ít ỏi của một ngôi đền ngoại giáo cổ xưa — nơi từng diễn ra những nghi lễ hiến tế con người vào những ngày tháng xa xưa ấy, khi những đứa con ngây thơ của tự nhiên, trong phút chốc yếu lòng sa ngã trước cám dỗ tột cùng, đã nhận thức được sai lầm của mình sau khi tĩnh tâm suy ngẫm, rồi bước lên với sự thẳng thắn cao thượng và dâng hiến người bà của mình như một vật tế chuộc tội — vào những thời điểm xa xưa ấy, khi kẻ tội đồ bất hạnh có thể liên tục gột rửa lương tâm và đạt được niềm hạnh phúc định kỳ chừng nào họ hàng của hắn vẫn còn sống; từ rất lâu, rất lâu trước khi các nhà truyền giáo dám đương đầu với muôn vàn gian khổ để đến đây và khiến họ đau khổ vĩnh viễn bằng cách kể cho họ nghe thiên đường tươi đẹp và hạnh phúc nhường nào và việc bước vào đó khó khăn ra sao; rồi chỉ cho người bản địa tội nghiệp thấy nơi luyện ngục ảm đạm thế nào cùng với những phương tiện rộng rãi đến mức vô lý để đày ải bản thân tới đó; chỉ cho họ thấy trong sự vô minh của mình, họ đã uổng công đem bán rẻ tất cả họ hàng thân thích như thế nào; chỉ cho họ thấy việc làm lụng vất vả suốt cả ngày trời để kiếm năm mươi xu mua thức ăn cho ngày hôm sau mang lại sự ngây ngất nhường nào, so với việc đi câu cá giải trí và ngả ngốn trong bóng râm suốt Mùa Hè vĩnh cửu, ăn những món quà mà chẳng ai phải nhọc công cung cấp ngoài Tự nhiên. Thật đáng buồn khi nghĩ đến đám đông đã vùi thây trong nấm mồ tại hòn đảo xinh đẹp này mà chưa từng biết đến sự tồn tại của địa ngục!
Ngôi đền cổ này được xây bằng những khối nham thạch thô ráp, đơn thuần là một khoảng sân không mái dài một trăm ba mươi feet và rộng bảy mươi feet — chẳng có gì ngoài những bức tường trơ trọi, rất dày, nhưng cao hơn đầu người không bao nhiêu. Chúng chắc chắn sẽ tồn tại qua muôn đời nếu không bị quấy phá. Ba bệ thờ cùng các vật dụng linh thiêng khác của nó đã mục nát và tiêu vong từ nhiều năm trước. Người ta kể rằng vào thời xưa, hàng ngàn sinh mạng con người đã bị tàn sát nơi đây, trước sự chứng kiến của những tên dã nhân mình trần truồng hú hét. Nếu những hòn đá câm lặng này có thể cất lời, chúng sẽ kể biết bao câu chuyện, miêu tả biết bao bức ảnh về những nạn nhân bị xiềng xích oằn mình dưới lưỡi dao; về những đám đông chen chúc nhoài người ra khỏi chòm bóng tối với những gương mặt hung tợn bừng sáng dưới ánh lửa hiến tế; về phông nền là những hàng cây ma quái; về khối kim tự tháp tối tăm của Diamond Head đứng canh gác khung cảnh kỳ dị ấy, và vầng trăng hiền hòa đang cúi xuống nhìn qua những kẽ rách của tầng mây!
Khi Kamehameha (đọc là Ka-may-ha-may-ah) Đại đế — người có tài thao lược quân sự và thành công vang dội tựa như một dạng Napoleon — xâm chiếm hòn đảo Oahu này ba phần tư thế kỷ trước, tiêu tan toàn bộ đội quân được cử ra chống lại mình, và chiếm đoạt hoàn toàn đất nước này, ông đã cho lùng sục thi thể của Nhà vua Oahu cùng các thủ lĩnh lớn, rồi bêu đầu họ lên những bức tường của ngôi đền này.
Đó là những thời kỳ man rợ khi cái lò sát sinh cổ kính này đang ở thời kỳ hoàng kim. Nhà vua và các tù trưởng cai trị tầng lớp dân đen bằng bàn tay sắt; bắt họ thu gom tất cả lương thực mà các bậc bề trên cần; xây dựng mọi ngôi nhà và đền đài; gánh chịu mọi chi phí, bất kể loại gì; nhận những cái đá thúng đụng nia để đổi lấy lời cảm ơn; lê lết những cuộc đời đẫm mùi bất hạnh, rồi chịu chết vì những tội lỗi cỏn con hoặc dâng hiến mạng sống trên các bệ thờ tế thần để cầu ơn huệ từ các vị thần cho những kẻ cai trị độc ác của họ. Các nhà truyền giáo đã mặc quần áo cho họ, giáo dục họ, đập tan quyền lực bạo tàn của các tù trưởng, ban cho họ sự tự do và quyền hưởng thụ những gì do bàn tay và khối óc họ làm ra với luật pháp công bằng cho tất cả mọi người, cùng hình phạt như nhau cho tất cả những ai vi phạm. Sự tương phản quá đỗi mạnh mẽ — ơn huệ mà các nhà truyền giáo mang lại cho dân tộc này quá ư nổi bật, rõ rành rành và không thể chối cãi — đến mức lời khen ngợi thẳng thắn nhất và tuyệt vời nhất mà tôi có thể dành cho họ, chính là chỉ ra tình trạng của cư dân quần đảo Sandwich vào thời Thuyền trưởng Cook và tình trạng của họ ngày nay.
Công sức của họ đã tự nói lên tất cả.