Ngôi Nhà Mơ Ước Của Anne

Lượt đọc: 80 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 9
Buổi Tối Tại Mũi Four Winds

❊ ❊ ❊

Đã cuối tháng Chín khi Anne và Gilbert có thể đến thăm ngọn hải đăng Four Winds như đã hứa. Họ từng nhiều lần lên kế hoạch đi, nhưng luôn có việc này việc nọ xảy ra cản trở. Thuyền trưởng Jim đã mấy lần “ghé ngang” ngôi nhà nhỏ.

— Tôi không khách sáo đâu, cô Blythe, — ông nói với Anne. — Được đến đây đối với tôi là một niềm vui thực sự, và tôi không định từ chối bản thân mình chỉ vì cô chưa xuống thăm tôi. Giữa những người cùng hội cùng thuyền thì không cần phải câu nệ khách khí thế đâu. Tôi sẽ đến khi có thể, và cô cứ qua khi nào thuận tiện, chừng nào chúng ta còn có những buổi trò chuyện vui vẻ thì mái nhà nào che trên đầu chẳng quan trọng một mảy may.

Thuyền trưởng Jim vô cùng mê mẩn Gog và Magog, hai bức tượng đang cai quản vận mệnh của góc lò sưởi trong ngôi nhà nhỏ với tất cả vẻ uy nghi và đĩnh đạc như hồi còn ở Patty’s Place.

— Trông chúng có đáng yêu không chứ lị? — ông thường thích thú thốt lên; và ông chào hỏi rồi từ biệt chúng nghiêm trang và đều đặn chẳng khác gì với chủ nhà. Thuyền trưởng Jim quyết không để bản thân xúc phạm các vị thần hộ mệnh trong nhà chỉ vì thiếu sự kính trọng và lễ nghĩa.

— Cô đã biến ngôi nhà nhỏ này trở nên gần như hoàn hảo, — ông nói với Anne. — Nó chưa từng tuyệt vời nhường này trước đây. Bà Selwyn cũng có gu thẩm mỹ như cô và bà ấy đã làm nên những điều kỳ diệu; nhưng người thời đó không có những chiếc rèm cửa, tranh ảnh và đồ trang trí xinh xắn như cô đang có. Còn về Elizabeth, bà ấy sống trong quá khứ. Cứ như thể cô đã mang cả tương lai vào đây vậy. Tôi sẽ vô cùng hạnh phúc ngay cả khi chúng ta chẳng thể trò chuyện gì lúc đến đây — chỉ cần ngồi ngắm cô, ngắm những bức tranh và hoa của cô thôi cũng đã là một thứ quà tuyệt vời rồi. Thật đẹp — quá đỗi tuyệt vời.

Thuyền trưởng Jim là một kẻ tôn sùng cái đẹp đến cuồng nhiệt. Mọi điều đáng yêu được nghe hay nhìn thấy đều mang lại cho ông một niềm vui sâu sắc, tinh tế và nội tại, soi rọi cả cuộc đời ông. Ông nhận thức rất rõ sự thiếu vắng vẻ bề ngoài tuấn tú của bản thân và thường than thở về điều đó.

— Người ta bảo tôi là người tốt, — ông dí dỏm nhận xét nhân một dịp nọ, — nhưng đôi khi tôi ước gì Chúa chỉ làm cho tôi tốt bằng nửa chừng ấy thôi còn phần còn lại thì dồn cả vào dung mạo. Mà thôi, tôi đoán Ngài biết mình đang làm gì, giống như một người Thuyền trưởng giỏi vậy. Đâu đó chúng ta phải có vài kẻ trông quê mùa, nếu không thì những người xinh đẹp — như cô Blythe đây — sẽ chẳng thể nổi bật đến thế.

Một buổi tối, Anne và Gilbert cuối cùng cũng đi bộ xuống ngọn hải đăng Four Winds. Ngày hôm đó bắt đầu ảm đạm trong mây xám và sương mù, nhưng lại kết thúc bằng một khung cảnh lộng lẫy sắc đỏ và vàng. Phía trên những ngọn đồi phía tây bên kia bến cảng là những khoảng trời sâu thẳm sắc hổ phách và những vùng nông trong vắt, với ánh lửa hoàng hôn rực rỡ ở phía dưới. Phía bắc là bầu trời vằn lông cá thu với những đám mây nhỏ vàng rực như lửa. Ánh sáng đỏ rực rỡ hắt lên những cánh buồm trắng của một con tàu đang lướt xuôi theo luồng lạch, hướng về một cảng phía nam thuộc vùng đất của những rặng dừa. Xa hơn thế, nó rọi vào và nhuộm đỏ những vách cồn cát trắng ngần, không mọc một ngọn cỏ đang tỏa sáng rực rỡ. Phía bên phải, ánh sáng rơi xuống ngôi nhà cổ nằm giữa những rặng liễu dọc theo con lạch, trao cho nó trong khoảnh khắc phù du những ô cửa sổ lộng lẫy hơn cả của một ngôi nhà thờ cổ kính. Chúng rực lên giữa bầu không gian tĩnh lặng và xám xịt tựa như những ý nghĩ đỏ rực, sục sôi của một tâm hồn sống động bị giam cầm trong lớp vỏ bọc môi trường tẻ nhạt.

— Ngôi nhà cổ bên con lạch kia trông lúc nào cũng thật cô quạnh, — Anne nói. — Tôi chẳng bao giờ thấy có khách khứa ở đó. Dĩ nhiên, lối đi của nó dẫn ra con đường lớn phía trên — nhưng tôi không nghĩ có mấy ai qua lại. Thật kỳ lạ khi chúng ta chưa từng gặp gia đình Moore, dẫu họ sống chỉ cách chúng ta mười lăm phút đi bộ. Đương nhiên là tôi có thể đã thấy họ ở nhà thờ, nhưng nếu có thì tôi cũng chẳng nhận ra. Tôi lấy làm tiếc vì họ quá mức xa lánh người ngoài, trong khi họ lại là những người hàng xóm gần gũi duy nhất của chúng ta.

— Rõ ràng họ không thuộc hội những người cùng hội cùng thuyền rồi, — Gilbert cười vang. — Em đã bao giờ tìm ra cô gái mà em từng khen là đẹp tuyệt trần ấy là ai chưa?

— Chưa. Chẳng hiểu sao em chưa từng nhớ ra để hỏi về cô ấy. Nhưng em chưa bao giờ nhìn thấy cô ấy ở bất cứ đâu, thế nên em đoán chắc cô ấy là người ở nơi khác. Ồ, mặt trời vừa khuất dạng rồi — và kìa ngọn hải đăng đã bật sáng.

Khi màn sương chiều sẫm lại, ngọn hải đăng lớn cắt những vệt sáng xuyên qua bóng tối, quét thành một vòng tròn bao trùm lên các cánh đồng, bến cảng, dải cát bồi và vịnh biển.

— Em cứ có cảm giác nó có thể chộp lấy mình rồi cuốn phăng ra tận khơi xa hàng dặm ấy chứ, — Anne nói, khi một luồng sáng mạnh quét qua người họ; và cô cảm thấy nhẹ nhõm hơn hẳn khi họ tiến đến gần Mũi đất đến mức nằm trong tầm chiếu của những tia sáng chói lọi, lóe lên liên hồi ấy.

Khi rẽ vào con ngõ nhỏ dẫn băng qua các cánh đồng để ra Mũi đất, họ bắt gặp một người đàn ông đang đi ngược chiều ra — một người có diện mạo kỳ lạ đến mức trong giây lát cả hai người đều trân trân ngước nhìn. Hắn là một người đàn ông có vẻ ngoài cực kỳ khôi ngô — cao lớn, vai rộng, đường nét khuôn mặt thanh tú với chiếc mũi dọc dừa và đôi mắt xám thẳng thắn; hắn mặc bộ quần áo đẹp nhất dành cho ngày Chủ nhật của một nông dân khấm khá; xét về mặt này thì hắn trông chẳng khác gì bất kỳ cư dân nào ở Four Winds hay vùng Glen. Thế nhưng, đổ tràn xuống trước ngực gần tới tận đầu gối là cả một dòng thác râu nâu xoăn tít; và dọc theo tấm lưng, ẩn bên dưới chiếc mũ phớt bình thường là một dòng thác tóc nâu dày, gợn sóng tương ứng.

— Anne, — Gilbert thì thầm khi họ đã đi ra ngoài tầm nghe của người kia, — em đã không cho cái mà Chú Dave gọi là 'một chút luật Scott' vào cốc nước chanh mà em đưa cho anh ngay trước khi chúng ta rời nhà đấy chứ?

— Không, em không có, — Anne nói, cố nén tiếng cười sợ rằng vị "ẩn số" đang bước đi khuất kia nghe thấy. — Anh ta rốt cuộc là ai trên đời này cơ chứ?

— Anh không biết; nhưng nếu thuyền trưởng Jim giữ những bóng ma kiểu đó ở Mũi đất này thì anh sẽ phải giắt theo miếng sắt lạnh trong túi khi đến đây mất. Hắn không phải là thủy lính, bằng không người ta có thể châm chước cho sự kỳ cục trong vẻ bề ngoài ấy; hắn chắc hẳn thuộc về cái đám người ở phía bên kia bến cảng rồi. Chú Dave bảo bên đó có mấy kẻ quái dị cơ mà.

— Em nghĩ chú Dave có chút thành kiến đấy thôi. Anh biết đấy, tất cả những người ở bên kia bến cảng đến nhà thờ Glen trông đều rất tử tế mà. Ồ, Gilbert, cảnh này chẳng phải rất đẹp sao?

Ngọn hải đăng Four Winds được xây dựng trên một mỏm vách đá sa thạch đỏ nhô ra vịnh biển. Một bên, băng qua eo biển, là bờ cát bạc của dải cồn cát bồi; bên kia là một bãi biển dài uốn lượn với những vách đá đỏ, dốc đứng nhô lên từ cácvũng nhỏ rải đầy sỏi đá. Đó là một bờ biển thấu hiểu ma thuật và sự huyền bí của bão tố và những vì sao. Nơi bờ biển ấy luôn tồn tại một sự cô tịch lớn lao. Rừng cây thì chưa bao giờ cô độc — chúng tràn đầy thứ sự sống thì thầm, vẫy gọi và thân thiện. Nhưng biển cả lại là một tâm hồn hùng vĩ, mãi mãi rên rỉ về một nỗi buồn lớn lao nào đó không thể sẻ chia, điều tự giam hãm nó trong chính mình suốt muôn đời. Chúng ta chẳng bao giờ có thể thấu thấu đáo sự huyền bí vô tận của nó — chúng ta chỉ có thể lang thang trong sự kinh ngạc và mê mẩn bên rìa ngoài của nó mà thôi. Rừng cây gọi chúng ta bằng trăm ngàn giọng nói, nhưng biển cả chỉ có duy nhất một giọng — một âm thanh hùng vĩ dìm ngập tâm hồn chúng ta trong khúc ca uy nghi của nó. Rừng cây mang tính con người, nhưng biển cả lại thuộc về hội đoàn của các tổng lãnh thiên thần.

Anne và Gilbert tìm thấy chú Jim đang ngồi trên chiếc ghế dài bên ngoài ngọn hải đăng, đang hoàn thiện những nét cuối cùng cho một mô hình tàu schooner đồ chơi đầy đủ buồng lái vô cùng tinh xảo. Ông đứng dậy chào đón họ đến với chốn ngụ cư của mình bằng sự lịch thiệp nhẹ nhàng, tự nhiên vốn rất hợp với con người ông.

— Hôm nay quả là một ngày khá tuyệt vời từ đầu đến cuối, cô Blythe ạ, và bây giờ, ngay lúc cuối cùng, nó lại mang đến món quà tuyệt vời nhất. Hai người có muốn ngồi xuống đây bên ngoài một chút trong lúc trời còn ánh sáng không? Tôi vừa mới làm xong món đồ chơi nhỏ này cho cậu cháu nội của tôi, thằng Joe, ở tận trên Glen. Sau khi hứa làm cho nó, tôi lại đâm ra hơi hối hận, vì mẹ nó thấy bực mình. Con bé sợ sau này nó lại đòi đi biển và không muốn cái ý định đó được nhen nhóm trong đầu thằng bé. Nhưng tôi biết phải làm sao đây, cô Blythe? Tôi ĐÃ HỨA với nó rồi, và tôi nghĩ việc nuốt lời hứa với một đứa trẻ là một hành động hèn hạ đê tiện kiểu gì ấy. Nào, ngồi xuống đi. Ở lại chơi một tiếng thì mất mát gì đâu.

Gió thổi từ hướng đất liền ra, chỉ làm mặt biển gợn lên những con sóng nhỏ lăn tăn màu bạc, và hắt những chiếc bóng lấp lánh bay trải rộng ra khắp mặt nước từ mọi mũi đất và mỏm đá giống như những đôi cánh trong suốt. Màn sương chiều đang giăng một bức màn u buồn sắc tím lên các cồn cát và những mũi đất nơi từng đàn hải âu đang rúc đầu vào nhau. Bầu trời được phủ một lớp màng mỏng manh những dải hơi nước mịn như lụa. Những hạm đội mây đang thả neo dọc theo đường chân trời. Một ngôi sao buổi chiều đang canh giữ dải cát bồi.

— Đó chẳng phải là một khung cảnh đáng để ngắm nhìn sao? — Thuyền trưởng Jim cất lời với niềm tự hào đầy trìu mến và xem như của riêng mình. — Thật tuyệt và cách xa chốn chợ búa phải không nào? Chẳng có buôn bán kiếm lời gì sạt. Cô chẳng phải trả bất cứ thứ gì — toàn bộ biển cả và bầu trời ấy đều miễn phí — 'không tiền bạc, không tốn kém.' Chẳng mấy chốc nữa trăng sẽ mọc đấy — tôi chẳng bao giờ thấy chán việc khám phá xem cảnh trăng mọc trên những mỏm đá, biển cả và bến cảng kia sẽ như thế nào. Lần nào cũng có những bất ngờ mới mẻ.

Họ đã ngắm cảnh trăng mọc, thưởng ngoạn vẻ kỳ diệu và ma mị của nó trong sự thinh lặng chẳng màng đến thế gian hay bất cứ ai khác. Sau đó, họ bước lên tháp đèn, và Thuyền trưởng Jim đã chỉ dẫn, giải thích cơ chế hoạt động của ngọn hải đăng vĩ đại. Cuối cùng, họ có mặt ở phòng ăn, nơi ngọn lửa củi trôi dạt đang dệt nên những ngọn lửa với sắc màu chập chờn, thoắt ẩn thoắt hiện mang hương vị đại dương trong chiếc lò sưởi mở.

— Chính tay tôi lắp cái lò sưởi này đấy, — Thuyền trưởng Jim nhận xét. — Chính phủ làm gì ban ơn cho mấy người gác hải đăng những thứ xa xỉ thế đâu. Hãy nhìn những sắc màu mà thứ gỗ đó tạo ra xem. Nếu cô thích chút củi trôi dạt cho lò sưởi của mình, cô Blythe, bữa nào tôi sẽ mang lên cho cô một xe. Ngồi xuống đi. Tôi sẽ pha cho hai người một tách trà.

Thuyền trưởng Jim kéo sẵn một chiếc ghế cho Anne, sau khi đã dời đi một con mèo khổng lồ màu cam và một tờ báo đang nằm trên đó.

— Xuống đi, Matey. Ghế sofa mới là chỗ của mày. Tôi phải cất gọn tờ báo này đi cho an toàn đến khi tìm được thời gian đọc nốt câu chuyện trong đó. Nó có tựa đề là Một Tình Yêu Điên Cuồng. Đó không phải là thể loại tiểu thuyết ưa thích của tôi, nhưng tôi đọc nó chỉ để xem mụ tác giả có thể kéo dài nó ra đến bao giờ. Nó đã đến chương sáu mươi hai rồi mà đám cưới thì vẫn chẳng thấy tiến triển gì hơn so với lúc bắt đầu, theo như tôi thấy. Khi nào thằng bé Joe đến tôi lại phải kể cho nó nghe mấy chuyện cướp biển. Chẳng phải thật kỳ lạ khi những sinh vật ngây thơ như lũ trẻ lại thích những câu chuyện đẫm máu nhất hay sao?

— Giống như thằng cu Davy ở nhà tôi vậy, — Anne nói. — Nó chỉ thích những câu chuyện đậm chất máu me gớm ghiếc.

Trà của Thuyền trưởng Jim pha hóa ra lại ngon như cam lồ. Ông vui mừng như một đứa trẻ trước những lời khen ngợi của Anne, nhưng vẫn cố tỏ ra dửng dưng đầy kiêu hãnh.

— Bí quyết là tôi không tiếc kem đâu, — ông thản nhiên nhận xét. Thuyền trưởng Jim chưa từng nghe đến Oliver Wendell Holmes, nhưng rõ ràng ông hoàn toàn đồng tình với châm ngôn của nhà văn đó rằng “trái tim rộng lượng chưa từng tiếc hũ kem nhỏ.”

— Chúng tôi vừa gặp một nhân vật có bề ngoài kỳ quặc đi ra từ ngõ nhà bác đấy, — Gilbert nói trong lúc cả hai đang nhấp ngậm ngụm trà. — Anh ta là ai vậy?

Thuyền trưởng Jim cười toe toét.

— Đó là Marshall Elliott — một người đàn ông vô cùng tuyệt vời chỉ có điều mắc một tật xấu ngớ ngẩn. Tôi đoán là hai người đã tự hỏi không biết mục đích của hắn khi biến mình thành một thứ quái thai trong gánh xiếc hội chợ dạo là gì đúng không.

— Anh ta là một người theo phái Nazarite thời hiện đại hay một nhà tiên tri người Hê-brơ sót lại từ thời cổ đại vậy? — Anne hỏi.

— Cả hai đều không phải. Chính trị mới là nguyên nhân đằng sau trò hề của hắn. Tất cả bọn người dòng họ Elliott, Crawford và MacAllisters đó đều là những kẻ cuồng tín chính trị từ trong trứng nước. Chúng sinh ra đã mang dòng máu của phe Grit hoặc Tory, sống chết cũng gắn liền với phe Grit hay Tory; và rồi chúng sẽ làm gì trên thiên đàng, nơi có lẽ chẳng có chút chính trị nào, lại là điều vượt quá khả năng suy đoán của tôi. Marshall này sinh ra đã là một tín đồ trung thành của phe Grit. Bản thân tôi cũng ủng hộ phe Grit ở mức độ ôn hòa, nhưng ở Marshall thì chẳng có lấy một chút ôn hòa nào. Mười lăm năm trước, có một cuộc tổng tuyển cử gay go đặc biệt. Marshall đã chiến đấu vì đảng của mình bằng mọi giá. Hắn chắc như đinh đóng cột rằng phe Tự do sẽ thắng — chắc chắn đến mức hắn đã đứng lên trong một cuộc họp công cộng và thề rằng sẽ không cạo râu hay cắt tóc cho đến khi nào phe Grit giành được chính quyền. Chà, họ đã không thắng cử — và cho đến nay họ vẫn chưa bao giờ thắng — và hai người đã tận mắt thấy kết quả ngày hôm nay rồi đấy. Marshall vẫn giữ đúng lời hứa của mình.

— Vợ anh ta nghĩ sao về chuyện đó? — Anne hỏi.

— Hắn ta là một kẻ độc thân. Nhưng giả sử hắn có vợ thì tôi đoán cô ấy cũng chẳng thể bắt hắn phá vỡ lời thề đó đâu. Dòng họ Elliott ấy từ xưa đã nổi tiếng bướng bỉnh hơn người thường. Người anh trai của Marshall là Alexander có nuôi một con chó mà anh ta rất mực cưng chiều, và khi nó chết, người đàn ông đó lại thực sự muốn chôn nó ở nghĩa trang, 'cùng với những tín đồ Cơ Đốc khác,' như anh ta đã nói. Dĩ nhiên, anh ta không được phép làm thế; thế là anh ta chôn nó ngay bên ngoài hàng rào nghĩa trang, và từ đó chẳng bao giờ bén mảng đến cửa nhà thờ nữa. Nhưng cứ đến Chủ nhật là anh ta lại chở gia đình đến nhà thờ rồi ngồi ngay bên nấm mồ con chó ấy để đọc Kinh Thánh suốt thời gian buổi lễ diễn ra. Người ta bảo rằng khi sắp lìa đời, anh ta đã van xin vợ chôn mình cạnh con chó; cô vợ là một người phụ nữ hiền lành nhỏ nhẹ nhưng nghe đến ĐÂY thì nổi giận lôi đình. Cô ấy bảo CÔ ta không đời nào chịu chôn cất bên cạnh một con chó nào hết, và nếu anh ta thà chọn nơi an nghỉ cuối cùng bên con chó còn hơn là ở cạnh cô ấy, thì cứ nói thẳng ra như vậy. Alexander Elliott đúng là một con lừa cứng đầu, nhưng anh ta rất yêu vợ, thế nên cuối cùng anh ta đành nhượng bộ và thết lên rằng: 'Thôi được, chết tiệt thật, muốn chôn tôi ở đâu thì tùy cô. Nhưng khi tiếng kèn của thiên sứ Gabriel vang lên, tôi mong con chó của tôi sẽ sống lại cùng tất cả chúng ta, bởi vì nó có một tâm hồn chẳng kém gì bất kỳ tên Elliott hay Crawford hay MacAllister chết tiệt nào từng vênh mặt trên đời này.' Đó chính là những lời trăn trối cuối cùng của anh ta. Còn về phần Marshall, tất cả chúng ta đều đã quen với hắn rồi, nhưng chắc chắn hắn sẽ khiến những người lạ lẫm phải trầm trồ vì bề ngoài kỳ quặc của mình. Tôi quen hắn từ khi hắn mười tuổi — giờ hắn khoảng năm mươi rồi — và tôi rất quý hắn. Hắn với tôi hôm nay vừa đi câu cá tuyết về đấy. Đó cũng là tất cả những gì tôi làm được lúc này — thỉnh thoảng đi câu cá hồi và cá tuyết thôi. Nhưng hồi xưa thì không phải vậy đâu — hoàn toàn không phải thế. Tôi từng làm nhiều việc khác nữa, hai người sẽ phải công nhận nếu được đọc cuốn hồi ký cuộc đời tôi.

Anne vừa định hỏi cuốn hồi ký cuộc đời ông là gì thì First Mate liền tạo ra một sự chú ý bằng cách nhảy phốc lên đùi Thuyền trưởng Jim. Nó là một chú mèo tuyệt đẹp, với khuôn mặt tròn vo như vầng trăng rằm, đôi mắt xanh lá cây rực rỡ và những chiếc bàn chân kép trắng muốt, to lớn. Thuyền trưởng Jim dịu dàng vuốt ve bộ lông nhung của nó.

— Tôi chưa bao giờ thích mèo cho lắm cho đến khi tìm thấy First Mate, — ông nhận xét, hòa cùng tiếng rừ rừ vang dội của chú mèo. — Tôi đã cứu mạng nó, và một khi đã cứu mạng một sinh vật nào đó, bạn buộc phải yêu thương nó. Điều đó đứng sau việc ban sự sống mà thôi. Có những kẻ trên đời này vô cùng vô tâm, cô Blythe ạ. Một số kẻ thuộc tầng lớp thượng lưu thành phố có nhà nghỉ hè bên kia cảng vô tâm đến mức tàn nhẫn. Đó là kiểu tàn nhẫn tồi tệ nhất — kiểu vô tâm. Bạn chẳng thể nào đối phó nổi với nó. Chúng nuôi mèo ở đó vào mùa hè, cho chúng ăn uống, nuông chiều, diện cho chúng những chiếc vòng cổ và ruy băng xinh xắn. Rồi đến mùa thu, chúng bỏ đi và mặc kệ chúng đói lả hoặc chết cóng. Điều đó làm máu trong người tôi sôi lên, cô Blythe ạ. Mùa đông năm ngoái, tôi tìm thấy một con mèo mẹ tội nghiệp đã chết trên bờ biển, nằm áp sát vào những cái xác chỉ còn da bọc xương của ba đứa con nhỏ của nó. Nó đã chết trong khi cố che chở cho chúng. Nó vòng những chiếc chân đã cứng đờ của mình quanh bọn trẻ. Chúa ơi, tôi đã khóc đấy. Rồi tôi thề rủa. Sau đó tôi mang những chú mèo con tội nghiệp ấy về nhà, cho chúng ăn uống đầy đủ và tìm những mái ấm tử tế cho chúng. Tôi biết người phụ nữ đã bỏ rơi con mèo đó và khi cô ta quay lại vào mùa hè này, tôi liền băng qua bến cảng và nói cho cô ta biết suy nghĩ của tôi về cô ta. Đó là một hành động xía vào chuyện người khác quá mức, nhưng tôi thực sự thích xía vào chuyện người khác vì một lý do chính đáng.

— Cô ta phản ứng thế nào? — Gilbert hỏi.

— Khóc nức nở và bảo rằng cô ta 'không nghĩ tới.' Tôi bảo thẳng với cô ta rằng: 'Cô có nghĩ điều đó sẽ được coi là một lời bào chữa hợp lý vào Ngày Phán Xét, khi cô phải giải trình về sinh mạng của con mèo mẹ tội nghiệp đó không? Tôi đoán Chúa sẽ hỏi cô tại sao Ngài lại ban cho cô bộ não nếu không phải để suy nghĩ.' Tôi không nghĩ lần sau cô ta còn dám bỏ mặc mèo đói chết nữa đâu.

— First Mate có phải là một trong số những chú mèo bị bỏ rơi đó không? — Anne hỏi, vừa đưa tay làm quen với chú mèo và được đáp lại một cách nhã nhặn dẫu mang chút vẻ bề trên.

— Đúng vậy. Tôi tìm thấy NÓ vào một ngày mùa đông lạnh cắt da cắt thịt, bị mắc kẹt trên cành cây bởi chiếc vòng cổ ruy băng ngớ ngẩn của nó. Nó suýt thì chết đói. Ước gì cô nhìn thấy đôi mắt của nó lúc đó, cô Blythe! Nó chỉ là một chú mèo con, và nó đã phải chật vật kiếm sống qua ngày kể từ khi bị bỏ rơi cho đến lúc bị treo lơ lửng ở đó. Khi tôi gỡ nó xuống, nó đã lấy cái lưỡi đỏ hỏn của mình liếm nhẹ một cái đầy tội nghiệp lên tay tôi. Nó không phải là một thủy thủ tháo vát như cô thấy bây giờ đâu. Nó hiền lành y như Moses vậy. Chuyện đó xảy ra đã chín năm rồi. Cuộc đời nó kéo dài được ngập ngàng vùng đất này đối với một con mèo quả là lâu đấy. First Mate là một người bạn già tốt bụng.

— Tôi cứ nghĩ bác phải nuôi một con chó cơ, — Gilbert nói.

Thuyền trưởng Jim lắc đầu.

— Tôi từng nuôi một con chó. Tôi yêu quý nó đến mức khi nó chết, tôi không sao chịu nổi ý nghĩ sẽ nuôi một con khác thay thế chỗ của nó. Nó là một NGƯỜI BẠN THÂN THỰC SỰ — cô hiểu chứ, cô Blythe? Matey chỉ là một người bạn đồng hành thôi. Tôi rất quý Matey — càng quý hơn vì ở nó có chút tinh quái nghịch ngợm — giống như tất cả loài mèo vậy. Nhưng tôi YÊU quý con chó của mình. Tôi luôn có sự đồng cảm thầm kín với Alexander Elliott về con chó của ÔNG ẤY. Chẳng có chút tà tính nào ở một con chó ngoan cả. Tôi đoán đó là lý do tại sao chúng đáng yêu hơn mèo. Nhưng thú thật là chúng chẳng thú vị bằng mèo đâu. Chứ lị, tôi lại nói hơi nhiều rồi. Sao hai người không ngăn tôi lại cơ chứ? Mỗi khi có cơ hội trò chuyện với ai là tôi lại huyên thuyên không dứt. Nếu hai người đã uống trà xong, tôi có vài món đồ nhỏ chắc cô chú sẽ thích ngắm nghía — tôi lượm lặt chúng được từ những góc khuất xó xỉnh mà tôi từng tò mò thọc mũi vào ngày trước.

“Vài món đồ nhỏ” của Thuyền trưởng Jim hóa ra lại là một bộ sưu tập những món đồ cổ vô cùng thú vị, kỳ quái, gớm ghiếc và cả xinh đẹp nữa. Và hầu như món nào cũng gắn liền với một câu chuyện ly kỳ.

Anne không bao giờ quên được niềm hạnh phúc khi cô lắng nghe những câu chuyện cũ kỹ ấy vào buổi tối ngập ánh trăng bên cạnh đống lửa củi trôi dạt đầy mê hoặc, trong khi biển bạc đang gọi mời họ qua khung cửa sổ rộng mở và thổn thức vỗ vào những mỏm đá phía dưới.

Thuyền trưởng Jim không hề thốt ra một lời kiêu ngạo nào, nhưng người ta không thể kìm được cảm giác ngưỡng mộ trước sự anh dũng của người đàn ông ấy — dũng cảm, trung thực, tháo vát và vị tha. Ông ngồi đó trong căn phòng nhỏ và làm cho những câu chuyện ấy sống lại một lần nữa trước người nghe. Chỉ bằng một cái nhấc lông mày, một cái nhếch môi, một cử chỉ, một lời nói, ông phác họa cả một khung cảnh hoặc nhân vật sống động đến mức họ nhìn thấy chúng y như thật.

Một số cuộc phiêu lưu của Thuyền trưởng Jim mang một sức cuốn hút kỳ diệu đến mức Anne và Gilbert thầm tự hỏi liệu ông có đang phóng đại câu chuyện để thử thách sự nhẹ dạ cả tin của họ hay không. Nhưng hóa ra về điểm này, họ đã đánh giá sai về ông. Những câu chuyện của ông đều hoàn toàn có thật. Thuyền trưởng Jim có năng khiếu của một người kể chuyện bẩm sinh, nhờ đó mà những “nỗi buồn đau từ tận phương xa” có thể hiện lên vô cùng sống động trước người nghe với tất cả nỗi niềm thổn thức vẹn nguyên thuở ban đầu.

Anne và Gilbert đã cùng cười và cùng rùng mình trước những câu chuyện của ông, và có lúc Anne chợt thấy mình đang rơi nước mắt. Thuyền trưởng Jim quan sát giọt nước mắt của cô với niềm vui rạng ngời hiện rõ trên khuôn mặt.

— Tôi thích nhìn thấy mọi người khóc theo cách đó, — ông nhận xét. — Đó là một sự khen ngợi. Nhưng tôi không thể kể lại trọn vẹn những gì mình từng chứng kiến hoặc tham gia làm. Tôi đã ghi chép tất cả chúng vào cuốn hồi ký cuộc đời mình, nhưng ngặt nỗi tôi lại không có cái hoa tay để viết chúng ra cho đúng điệu. Nếu tôi có thể tìm đúng từ ngữ và xâu chuỗi chúng lại cho thật chuẩn xác trên giấy thì tôi đã có thể viết nên một cuốn sách vĩ đại rồi. Nó sẽ đánh bại quách cuốn Một Tình Yêu Điên Cuồng cho mà xem, và tôi tin là thằng Joe cũng sẽ thích nó chẳng kém gì mấy truyện cướp biển đâu. Phải, trong cuộc đời mình tôi đã trải qua vài cuộc phiêu lưu; và cô có biết không, cô Blythe, tôi vẫn khao khát chúng biết bao. Phải, dù già nua và vô dụng thế này đây, đôi khi vẫn có một niềm khao khát mãnh liệt trào dâng trong tôi muốn được giương buồm ra khơi — ra khơi — ra tận ngoài kia — mãi mãi và vĩnh viễn.

— Giống như Ulysses, bác sẽ

‘Giương buồm qua hoàng hôn và bến tắm

Của mọi vì sao phương tây cho đến lúc ngã xuống,’

— Anne mơ màng đọc.

— Ulysses ư? Tôi từng đọc về hắn. Phải, chính xác là cảm giác của tôi lúc này — đúng là cảm giác của tất cả chúng tôi, những lão thủy thủ già, tôi đoán vậy. Rốt cuộc thì tôi cũng sẽ chết trên cạn thôi. Chà, chuyện gì phải đến sẽ đến. Hồi đó có lão William Ford ở Glen chưa từng bước chân ra mặt nước lần nào trong đời, vì lão sợ chết đuối. Một bà thầy bói đã tiên đoán rằng lão sẽ chết như vậy. Thế rồi một hôm lão ngất xỉu, ngã cắm mặt vào máng nước trong chuồng ngựa và thế là chết đuối. Hai người phải đi rồi sao? Thường xuyên ghé thăm tôi nhé. Lần tới đến lượt bác sĩ phải nói chuyện đấy. Cậu ta biết khối thứ mà tôi muốn tìm hiểu. Đôi khi ở đây một mình tôi cũng thấy hơi cô đơn. Mọi chuyện càng tệ hơn kể từ khi Elizabeth Russell qua đời. Cô ấy và tôi vốn là đôi bạn thân thiết.

Thuyền trưởng Jim cất lời với nỗi niềm thương cảm của tuổi già, những người phải chứng kiến bạn bè lần lượt rời xa — những người mà vị trí không bao giờ có thể được lấp đầy bởi thế hệ trẻ hơn, thậm chí ngay cả những người thuộc hội những người cùng hội cùng thuyền. Anne và Gilbert hứa sẽ ghé qua thường xuyên.

— Bác ấy thực sự là một con người kỳ lạ và hiếm có phải không anh? — Gilbert nói trong lúc họ đi bộ về nhà.

— Chẳng hiểu sao, em không thể liên tưởng nhân vật giản dị, tử tế ấy với cuộc đời phiêu lưu đầy sóng gió mà ông ấy từng trải qua, — Anne trầm ngâm.

— Em sẽ không thấy khó hiểu thế đâu nếu em chứng kiến cảnh ông ấy dạo nọ dưới làng chài. Một tay trong thuyền của Peter Gautier đã thốt ra một lời lẽ khó nghe về một cô gái nào đó dọc bờ biển. Thuyền trưởng Jim đã thực sự thiêu đốt gã khốn đó bằng tia nhìn sắc như dao cau của ông. Trông ông lúc ấy chẳng khác nào một con người biến thành kẻ khác. Ông chẳng nói nhiều — nhưng cách ông nói ấy! Em cứ ngỡ nó có thể lột cả da thịt trên người gã kia ra ấy chứ. Anh hiểu rằng Thuyền trưởng Jim sẽ không bao giờ dung thứ cho bất kỳ lời lẽ nào xúc phạm đến phụ nữ được thốt lên trước mặt mình.

— Em tự hỏi tại sao bác ấy chưa từng kết hôn, — Anne nói. — Lẽ ra bây giờ bác ấy đã có những đứa con trai đang tung hoành trên những con tàu ngoài khơi xa và những đứa cháu nội bu quanh để nghe kể chuyện — ông ấy là tuýp người như vậy mà. Thế nhưng, đổi lại ông ấy chẳng có gì ngoài một chú mèo tuyệt đẹp.

Nhưng Anne đã lầm. Thuyền trưởng Jim còn có nhiều hơn thế. Ông có cả một ký ức.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.