Ngôi Nhà Mơ Ước Của Anne

Lượt đọc: 80 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 28
Chuyện Vặt Vãnh

❊ ❊ ❊

“Tôi vừa đọc cáo phó trên báo xong,” cô Cornelia nói, đoạn đặt tờ Daily Enterprise xuống và cầm lấy giỏ đồ may vá.

Bến cảng hiện lên với một vẻ đen đẫm và ủ rũ dưới bầu trời tháng Mười một xám xịt; những chiếc lá ẩm ướt, tàn úa dán chặt, bết bát vào bệ cửa sổ; nhưng căn nhà nhỏ vẫn rộn ràng ánh lửa hồng cùng những chậu dương xỉ và phong lữ thảo tươi tắn như mùa xuân của Anne.

“Ở đây lúc nào cũng là mùa hè, Anne ạ,” Leslie từng nói một ngày nọ; và tất cả những ai từng đặt chân đến ngôi nhà của những giấc mơ ấy đều có chung cảm giác đó.

“Dạo này tờ Enterprise có vẻ rất chuộng việc đăng cáo phó,” cô Cornelia bâng quơ tiếp lời. “Lúc nào báo cũng có hẳn vài cột viết về chuyện đó, và tôi đọc không sót một dòng. Đó là một trong những niềm tiêu khiển của tôi, nhất là khi có mấy bài thơ tự biên tự soạn đính kèm theo. Đây là một mẫu ví dụ điển hình cho cô xem nhé:

Nàng đã đi về nơi Tạo Hóa,

Chẳng bao giờ lang bạt nữa đâu.

Xưa nàng thường ca vang niềm vui sướng,

Bài ca Ôi Nhà Ngọt Ngào Đâu.

Ai bảo ở hòn đảo chúng ta không có chút tài thơ phú nào chứ! Anne cưng, em đã bao giờ để ý thấy dạo này có biết bao nhiêu người tốt qua đời chưa? Nghe cứ thấy tội nghiệp thế nào ấy. Nào là mười cáo phó, mà vị nào cũng là thánh sống với mẫu mực cả, kể cả đàn ông. Lại còn lão Peter Stimson nữa chứ, người đã ‘để lại một vòng tròn lớn những người bạn tiếc thương sự ra đi bất đài bất hạn của ông.’ Chúa ơi, Anne cưng, lão già đó thọ tới tám mươi tuổi, và bất cứ ai biết lão đều đã mong lão chết quách đi từ ba mươi năm nay rồi. Hãy đọc cáo phó khi nào tâm trạng em u ám nhé, Anne cưng — nhất là cáo phó của những kẻ em quen biết. Chỉ cần em có chút khiếu hài hước thôi, chúng sẽ vực dậy tinh thần em ngay, cứ tin tôi đi. Tôi chỉ ước gì mình được tự tay viết cáo phó cho một vài kẻ nào đó. ‘Cáo phó’ có phải là một từ xấu xí khủng khiếp không? Chính cái lão Peter mà tôi vừa nhắc tới ấy có khuôn mặt y hệt như cái từ đó vậy. Chưa bao giờ tôi nhìn thấy lão mà ngay lúc đó lại không nghĩ đến hai từ CÁO PHÓ. Chỉ có duy nhất một từ khác mà tôi biết là còn khó nghe hơn, đó là từ GÓA PHỤ. Chúa ơi, Anne cưng, tôi có thể là một bà cô già độc thân, nhưng bù lại có một điều an ủi thế này — tôi sẽ chẳng bao giờ phải làm ‘góa phụ’ của bất kỳ người đàn ông nào hết.”

“Đó QUẢ THỰC là một từ khó nghe,” Anne cười vang nói. “Nghĩa trang Avonlea đầy rẫy những tấm bia mộ cũ ‘để tưởng nhớ người quá cố X.Y., GÓA PHỤ của cố ông X.Y.’ Nó luôn làm tôi liên tưởng đến một thứ gì đó đã mòn vữa và bị mọt gặm nhấm. Tại sao những từ ngữ liên quan đến cái chết lại mang cảm giác khó chịu đến thế nhỉ? Thật lòng tôi ước gì cái phong tục gọi thi thể là ‘phần còn lại’ có thể bị dẹp bỏ đi. Tôi thực sự nổi da gà mỗi khi nghe nhà mai táng cất giọng phúng điếu trong một tang lễ rằng, ‘Ai muốn nhìn thấy phần còn lại xin vui lòng bước theo lối này.’ Nó luôn gieo vào đầu tôi cái ấn tượng kinh hoàng rằng tôi sắp được mục kích cảnh tượng của một buổi tiệc ăn thịt người vậy.”

“Chà, điều duy nhất tôi mong mỏi,” cô Cornelia điềm tĩnh nói, “đó là khi tôi chết đi sẽ chẳng có ai gọi tôi là ‘người chị quá cố của chúng ta’ nữa. Tôi đã bắt đầu thấy ngứa mắt với cái trò xưng hô anh em chị em kiểu đó từ năm năm trước, khi có một gã truyền giáo lưu động đến tổ chức các buổi nhóm họp ở Glen. Tôi chẳng ưa gì hắn ta ngay từ cái nhìn đầu tiên. Linh cảm mách bảo tôi rằng gã này có vấn đề mập mờ. Và quả thực là như vậy. Cứ thử nghĩ xem, hắn ta cứ giả bộ làm một tín đồ Trưởng lão — Trưởng-LÃO-giáo, HẮN ta phát âm như thế đấy — mà hóa ra toàn bộ thời gian đó hắn đích thị là một tín đồ Giám lý. Hắn nhận tất cả mọi người làm anh chị em. Gã đàn ông đó có cả một họ hàng hang hốc đông đảo ghê gớm. Có một tối nọ, hắn nắm chặt tay tôi đầy số sột và khẩn khoản van nài: ‘Chị Bryant THÂN MẾN của tôi ơi, chị đã là một tín đồ Thiên Chúa giáo chưa?’ Tôi chỉ lướt mắt đánh giá hắn ta một chút, rồi điềm tĩnh đáp: ‘Người anh trai duy nhất mà tôi từng có, ÔNG Fiske ạ, đã được chôn cất từ mười lăm năm trước, và từ đó đến nay tôi chẳng nhận nuôi thêm ông anh nào nữa cả. Còn về việc có phải là tín đồ Thiên Chúa hay không, tôi hy vọng và tin rằng mình đã là điều đó từ khi cậu còn đang bò lê bò lết dưới sàn nhà trong chiếc váy đầm trẻ con rồi.’ CÂU nói đó đã vả cho hắn một cú câm họng, cứ tin tôi đi. Này Anne cưng, tôi không hề có ác cảm với tất cả các nhà truyền giáo đâu nhé. Chúng ta từng có một số vị rất tuyệt vời, vô cùng tận tụy, những người đã làm được rất nhiều việc thiện và khiến cho đám tội nhân già giặc phải run rẩy. Nhưng cái gã Fiske này thì không nằm trong số đó. Đã có tối tôi được một trận cười thả phanh một mình. Fiske yêu cầu tất cả những ai là tín đồ Thiên Chúa đứng dậy. Đương nhiên là tôi không đứng rồi, tin tôi đi! Tôi chưa bao giờ ưa nổi cái trò kiểu đó. Nhưng hầu hết mọi người đều đứng dậy, rồi hắn tiếp tục kêu gọi những ai muốn trở thành tín đồ Thiên Chúa hãy đứng lên. Chẳng có ai nhúc nhích trong một chốc lát, thế là Fiske cất giọng hát vang một bài thánh ca hết cỡ. Ngay trước mặt tôi, tội nghiệp thằng bé Ikey Baker đang ngồi ở hàng ghế của nhà Millison. Nó là một đứa trẻ được nhận nuôi trong vùng, mới mười tuổi đầu, thế mà lão Millison bắt nó làm việc gần như kiệt sức. Sinh linh tội nghiệp lúc nào cũng mệt mỏi rã rời đến mức cứ hễ đến nhà thờ hay bất cứ đâu có thể ngồi yên vài phút là nó ngủ thiếp đi ngay lập tức. Nó đã ngủ suốt cả buổi họp, và tôi thấy thật biết ơn khi thấy đứa bé tội nghiệp được chợp mắt một chút, tin tôi đi. Chà, khi giọng hát của Fiske vút cao lên tận mây xanh và những người khác cùng hòa giọng, tội nghiệp thằng bé Ikey giật mình tỉnh giấc. Nó cứ ngưởng đó chỉ là một buổi hát thánh ca bình thường và mọi người đều phải đứng lên, thế nên nó cuống cuồng vùng dậy với tốc độ chóng mặt, vì biết chắc thể nào mình cũng bị Maria Millison mắng cho vuốt mặt không kịp nếu dám ngủ gật trong giờ lễ. Fiske trông thấy nó, liền khựng lại và gào lên: ‘Thêm một linh hồn nữa được cứu rỗi! Hô-lê-lu-gia vinh hiển thay!’ Ấy thế mà tội nghiệp thằng bé Ikey sợ hãi, tỉnh ngủ được một nửa và ngáp ngắn ngáp dài, chẳng hề mảy may nghĩ ngợi gì đến linh hồn mình cả. Tội nghiệp đứa trẻ, nó chẳng bao giờ có thì giờ để suy nghĩ về bất cứ thứ gì khác ngoài cái cơ thể nhỏ bé mệt mỏi và kiệt quệ vì làm việc quá sức của mình.

Leslie từng đến dự một buổi tối và gã Fiske liền bám riết lấy con bé — ồ, hắn đặc biệt quan tâm đến phần hồn của những cô gái có ngoại hình xinh xắn lắm đấy, cứ tin tôi đi! — và hắn đã làm tổn thương cảm xúc của con bé khiến nó không bao giờ dám bén mảng tới lần thứ hai nữa. Và thế là sau hôm đó, tối nào hắn cũng công khai cầu nguyện ngay trước đám đông, xin Chúa hãy làm mềm hóa trái tim cứng nhắc của con bé. Cuối cùng, tôi đã phải đến gặp mục sư Leavitt, mục sư của chúng tôi lúc bấy giờ, và tuyên bố thẳng thừng rằng nếu ông không bắt Fiske dừng cái trò đó lại thì ngay tối hôm sau tôi sẽ đứng phắt dậy và ném thẳng cuốn thánh ca vào mặt hắn mỗi khi hắn dám nhắc đến ‘thiếu nữ xinh đẹp nhưng ngoan cố chưa chịu hối cải’ đó. Tôi mà nói thật là tôi làm thật đấy, cứ tin tôi đi. Mục sư Leavitt cuối cùng cũng phải dẹp chuyện đó đi, nhưng Fiske vẫn tiếp tục mấy buổi họp ngông cuồng của hắn cho đến khi Charley Douglas đặt dấu chấm hết cho sự nghiệp của hắn ở Glen. Vợ của anh chàng Charley đã ở California suốt cả mùa đông. Vào mùa thu, cô ấy từng rơi vào trạng thái u sầu thực sự — bệnh u sầu tôn giáo — một căn bệnh di truyền trong gia đình cô ấy. Cha cô ấy từng dằn vặt khổ sở đến mức đinh ninh rằng mình đã phạm phải tội lỗi không thể dung tha và cuối cùng qua đời trong nhà thương điên. Thế nên khi Rose Douglas cũng có triệu chứng như vậy, Charley liền tống khứ cô ấy đi thăm người chị gái ở Los Angeles. Cô ấy hoàn toàn bình phục và trở về nhà đúng lúc phong trào phục hưng tôn giáo của Fiske đang diễn ra rầm rộ nhất. Cô ấy vừa bước xuống tàu ở Glen, mặt mày rạng rỡ tươi cười hớn hở, thì thứ đầu tiên đập vào mắt cô ấy ngay trên bức tường hồi đen sì của nhà kho chứa hàng lại là câu hỏi được sơn bằng những chữ cái màu trắng to đằng đẵng hai thước: ‘Ngươi đi đâu về đâu — về thiên đàng hay xuống hỏa ngục?’ Đó là một trong những ý tưởng quái đản của Fiske, và hắn đã thuê Henry Hammond sơn nó lên. Rose vừa nhìn thấy liền thét lên một tiếng rồi ngất lịm; và khi người ta đưa được cô ấy về nhà thì tình trạng còn tồi tệ hơn trước gấp bội. Charley Douglas liền tìm gặp mục sư Leavitt và tuyên bố xanh rờn rằng toàn bộ gia tộc Douglas sẽ rời bỏ nhà thờ nếu Fiske còn tiếp tục ở lại đây thêm một ngày nào nữa. Mục sư Leavitt buộc phải chịu thua, bởi vì gia đình Douglas đóng góp tới một nửa tiền lương cho ông ta, thế là Fiske đành phải cuốn gói ra đi, và chúng tôi lại phải quay về trông cậy vào những trang Kinh Thánh để được chỉ đường dẫn lối về thiên đàng một lần nữa. Sau khi hắn đi rồi, mục sư Leavitt mới tá hỏa phát hiện ra hắn chỉ là một tên Giám lý giả dạng, và ông ta cảm thấy nhục nhã ê chề vô cùng, cứ tin tôi đi. Mục sư Leavitt đôi chỗ vẫn còn thiếu sót, nhưng ông ấy là một tín đồ Trưởng lão chân chính, vững vàng.”

“Nhân tiện đây, hôm qua tôi vừa nhận được một bức thư từ anh Ford,” Anne nói. “Anh ấy nhờ tôi gửi lời hỏi thăm ân cần đến cô.”

“Tôi không cần lời hỏi thăm nào từ hắn hết,” cô Cornelia cụt ngủn đáp.

“Tại sao chứ?” Anne kinh ngạc hỏi. “Cháu tưởng cô quý anh ấy cơ mà.”

“Chà, thì trước kia tôi cũng có quý, theo một cách nào đó. Nhưng tôi sẽ chẳng bao giờ tha thứ cho những gì hắn đã gây ra cho Leslie. Tội nghiệp con bé, cứ phải dằn vặt đau khổ vì hắn — như thể nó chưa đủ khốn khổ lắm vậy — còn cái gã đó thì chắc hẳn đang nhởn nhơ lang thang khắp Toronto, ăn chơi phè phỡn như mọi khi cho mà xem. Đúng là bản tính đàn ông muôn đời vẫn thế.”

“Ôi, cô Cornelia, sao cô lại biết chuyện này vậy?”

“Chúa ơi, Anne cưng, tôi có mắt chứ bộ! Hơn nữa tôi đã chứng kiến Leslie lớn lên từ khi còn là một đứa trẻ. Mùa thu này trong ánh mắt con bé xuất hiện một nỗi niềm đau đớn khao khát hoàn toàn mới lạ, và tôi thừa biết gã nhà văn đó đứng sau chuyện này theo cách này hay cách khác. Tôi sẽ không bao giờ tha thứ cho chính mình vì đã vô tình đóng vai trò mai mối đưa hắn đến đây. Nhưng tôi chưa bao giờ ngờ rằng hắn lại là kẻ như vậy. Tôi cứ đinh ninh hắn cũng chỉ giống như những gã đàn ông từng ở trọ nhà Leslie trước đây thôi — những thằng ranh con kiêu ngạo mãn khai, đứa nào đứa nấy đều vô tích sự và con bé chẳng thèm ngó ngàng tới ai. Từng có một tên dámgiở trò tán tỉnh con bé và bị nó lạnh lùng trừng trị thẳng tay — đến mức tôi chắc chắn rằng từ đó đến nay hắn chưa bao giờ tan nổi cái băng giá ấy đâu. Thế nên tôi mới chẳng mảy may đề phòng nguy hiểm gì cả.”

“Xin cô đừng để Leslie ngờ rằng cô biết bí mật của nó nhé,” Anne vội vã lên tiếng. “Cháu nghĩ điều đó sẽ làm con bé tổn thương đấy.”

“Cứ tin ở tôi đi, Anne cưng. Tôi đâu phải dạng vừa đâu. Ôi, dịch hạch quái ác giáng xuống đầu tất cả đàn ông trên đời này đi! Hết tên này hủy hoại cuộc đời Leslie từ trước, rồi giờ lại đến một tên khác trong cái bộ tộc ấy đến và biến nó thành một kẻ càng khốn khổ hơn. Anne này, thế giới này thực sự là một nơi tồi tệ khủng khiếp, cứ tin tôi đi.”

“Trên đời này dẫu có điều gì trắc trở,

Rồi cũng sẽ có ngày được giải mã mà thôi,”

Anne mơ màng ngâm nga.

“Nếu có ngày đó thật, thì chắc chắn nó phải diễn ra ở một thế giới không có bóng dáng đàn ông nào hết,” cô Cornelia ủ rũ tiếp lời.

“Hôm nay lũ đàn ông lại gây ra chuyện gì nữa thế?” Gilbert vừa bước vào vừa cất tiếng hỏi.

“Gây rối chứ gì nữa! Từ trước đến nay chúng làm được việc gì khác ngoài thế cơ chứ?”

“Chính Eva mới là người ăn trái cấm cơ mà, cô Cornelia.”

“Lại là một sinh linh giống đực đã cám dỗ con bé đấy chứ,” cô Cornelia đắc ý đáp trả.

Leslie, sau khi cơn đau đớn tột cùng qua đi, cuối cùng cũng nhận thấy rằng cuộc sống vẫn có thể tiếp diễn như thường lệ, hệt như cách mà phần lớn chúng ta vẫn làm, bất kể hình thức đày ải riêng biệt của chúng ta có là gì đi chăng nữa. Thậm chí có lúc cô còn tận hưởng được những khoảnh khắc vui vẻ khi hòa mình vào vòng tròn nhộn nhịp trong ngôi nhà của những giấc mơ. Nhưng nếu Anne từng nuôi hy vọng rằng bạn mình đang dần quên đi Owen Ford, thì cô đã hoàn toàn lầm to khi chứng kiến nỗi khao khát ngấm ngầm trong ánh mắt Leslie mỗi khi tên anh được nhắc đến. Thấu cảm với nỗi khát khao ấy, Anne luôn khéo léo kể cho Đại úy Jim hoặc Gilbert nghe những mẩu tin tức từ các bức thư của Owen khi Leslie có mặt ở đó. Gương mặt lúc thì đỏ bừng, khi thì tái mét của cô gái trong những khoảnh khắc như thế đã phơi bày một cách vô cùng sống động thứ cảm xúc đang ngập tràn tâm hồn cô. Thế nhưng, cô chưa bao giờ thổ lộ về anh với Anne, hay đả động gì đến đêm định mệnh trên dải cát bồi ấy.

Một ngày nọ, con chó già của cô qua đời và cô vô cùng đau khổ tiếc thương nó.

“Nó đã làm bạn với tôi lâu đến thế cơ mà,” cô đau đớn nói với Anne. “Nó vốn là con chó của Dick, em biết đấy — Dick nuôi nó chừng một năm trước khi chúng tôi kết hôn. Anh ấy đã để lại nó cho tôi khi lên đường đi chuyến tàu Four Sisters. Carlo rất quấn quýt tôi — và tình yêu của chú chó ấy đã giúp tôi vượt qua năm đầu tiên đầy kinh khủng sau khi mẹ mất, khoảng thời gian tôi chỉ có một mình thui thủi. Khi nghe tin Dick sắp trở về, tôi đã sợ rằng Carlo sẽ không còn là của riêng tôi nữa. Thế nhưng dường như nó chẳng mảy may quan tâm đến Dick, dẫu trước kia từng gắn bó với anh ấy biết nhường nào. Nó thường gầm gừ và nhe răng dọa dẫm anh ấy như với một kẻ xa lạ. Thú thật là tôi đã rất vui mừng. Thật tuyệt vời khi có được một thứ mà tình yêu thương hoàn toàn thuộc về riêng mình. Chú chó già ấy đã trở thành một chỗ dựa tinh thần vô giá cho tôi, Anne ạ. Vào mùa thu, nó yếu đi nhiều đến mức tôi sợ rằng nó chẳng thể sống được bao lâu nữa — nhưng tôi vẫn thầm hy vọng có thể chăm sóc nó qua khỏi mùa đông này. Sáng nay trông nó vẫn khá khỏe mạnh. Nó nằm trên tấm thảm trước lò sưởi; rồi đột nhiên, nó chồm dậy và lết đến chỗ tôi; nó gác đầu lên đùi tôi và trao cho tôi một cái nhìn trìu mến từ đôi mắt to, dịu dàng của loài chó — rồi nó khẽ run lên và trút hơi thở cuối cùng. Tôi sẽ nhớ nó biết bao.”

“Để tớ tặng cậu một con chó khác nhé, Leslie,” Anne đề nghị. “Tớ đang định tậu một chú chó săn Gordon tuyệt đẹp làm quà Giáng sinh cho Gilbert đây. Tớ sẽ tặng cậu một con nữa nhé.”

Leslie lắc đầu.

“Thôi đừng lúc này, cảm ơn cậu nhé, Anne. Tớ vẫn chưa có tâm trạng để nuôi một con chó khác đâu. Dường như tớ chẳng còn chút tình cảm nào dành cho một con vật nào khác nữa rồi. Có lẽ — khi thời gian trôi qua — tớ sẽ nhận lời để cậu tặng. Thực ra tớ rất cần một con như một dạng bảo vệ ấy chứ. Nhưng ở Carlo có một cái gì đó gần gũi như con người vậy — sẽ là KHÔNG ĐÚNG MỰC nếu vội vã khỏa lấp vị trí của nó quá nhanh, anh bạn già thân mến ạ.”

Anne trở về Avonlea một tuần trước Giáng sinh và ở lại đó cho đến tận khi kỳ nghỉ lễ khép lại. Gilbert đã lên đón cô, và một lễ mừng năm mới tưng bừng đã diễn ra tại Green Gables, khi gia đình Barry, gia đình Blythe và gia đình Wright tề tựu đông đủ để thưởng thức bữa tối tiêu tốn biết bao công sức suy tính và chuẩn bị của cô Rachel cùng Marilla. Khi họ trở lại Four Winds, ngôi nhà nhỏ gần như đã bị tuyết vùi lấp đến tận mái, bởi vì cơn bão thứ ba của một mùa đông vốn nổi tiếng với những trận bão cuồng phong khốc liệt đã càn quét qua bến cảng và chất đống những ngọn núi tuyết khổng lồ xung quanh mọi thứ nó quét qua. Thế nhưng Đại úy Jim đã xúc tuyết dọn sạch cửa ra vào và các lối đi, còn cô Cornelia thì đã đến nhóm sẵn ngọn lửa hồng trong lò sưởi.

“Thật tuyệt khi thấy em trở lại, Anne cưng ạ! Nhưng em đã bao giờ thấy những đống tuyết dày thế này chưa? Chẳng thể nhìn thấy nhà của gia đình Moore đâu nếu em không lên lầu gác. Leslie chắc sẽ mừng lắm khi thấy em về đấy. Con bé gần như bị chôn sống ở bên kia rồi. May mắn là Dick biết xúc tuyết, và anh ta coi đó là một trò vui thích lớn. Susan vừa nhắn bảo cô tới báo cho em biết ngày mai con bé sẽ có mặt ở đây. Thế cháu định đi đâu đấy, Đại úy?”

“Tôi tính cày tuyết sang Glen ngồi trò chuyện một lát với lão Martin Strong. Lão ấy gần đất xa trời rồi và đang thui thủi một mình. Lão chẳng có mấy bạn bè — cả đời bận rộn kiếm ăn nên chẳng thèm kết giao với ai. Dù vậy lão kiếm được khối tiền đấy.”

“Chà, chắc lão nghĩ rằng vì không thể vừa phục vụ Chúa vừa phục vụ Thần Tài nên tốt nhất cứ bám chặt lấy Thần Tài cho chắc,” cô Cornelia sắc sảo nhận xét. “Thế nên giờ đây nếu thấy Thần Tài không phải là một bầu bạn tâm giao thú vị cho lắm thì lão cũng chẳng có quyền gì mà kêu ca phàn nàn.”

Đại úy Jim bước ra ngoài, nhưng chợt nhớ ra điều gì ở sân liền quay ngược trở lại khoảnh khắc.

“Tôi vừa nhận được một bức thư từ anh Ford, thưa cô Blythe, và anh ấy bảo rằng cuốn sách viết về cuộc đời đã được chấp thuận và sẽ được xuất bản vào mùa thu tới đây. Tôi cảm thấy phấn chấn hẳn lên khi nhận được tin đó. Nghĩ đến cảnh cuối cùng mình cũng được tận mắt đọc nó trên bản in.”

“Gã đàn ông đó hoàn toàn phát điên vì đề tài cuốn sách cuộc đời hắn rồi,” cô Cornelia đầy cảm thông thốt lên. “Còn phần tôi, tôi nghĩ trên thế giới này hiện nay có quá nhiều sách vở rồi thì có.”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.