Khúc hoa, quả và gai

Lượt đọc: 285 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3

❊ ❊ ❊

[TIÊU ĐỀ GỐC]: LENETTE’S HONEYMOON—BOOK BREWING—SCHULRATH STIEFEL—MR. EVERARD—A DAY BEFORE THE FAIR—THE RED COW—ST. MICHAEL’S FAIR—THE BEGGARS’ OPERA—DIABOLICAL TEMPTATION IN THE WILDERNESS, OR THE MANNIKIN OF FASHION—AUTUMN JOYS—A NEW LABYRINTH.

Thật là một sai lầm lớn nếu thế gian lại cho rằng vào ngày thứ Hai, người ta có thể thấy vị anh hùng bình dị của chúng ta đang ngồi trên một cỗ xe tang, khoácáo tang, đầu đội mũ viền đăng-ten đen đeo khăn tang, mang khuyên giày màu đen, đóng vai người chịu tang chính trong đám tang giả tạo của hạnh phúc và tài sản đời mình.

Hỡi trời! Sao thế gian lại có thể đoán mò một cách tồi tệ đến thế? Viên luật sư thậm chí còn chưa mặc tang phục một phần tư, nói gì đến một nửa; chàng đang có tâm trạng phấn chấn chẳng khác nào khi có chương thứ ba này trước mặt và vừa mới bắt đầu viết nó, giống như tôi lúc này.

Lý do là vì chàng đã soạn thảo một bản đơn kiện đầy sắc sảo chống lại người giám hộ của mình là Blaise (làm cho nó sinh động thêm bằng một vài nét châm biếm mà chẳng ai ngoài chàng có thể hiểu nổi), và nộp nó lên Sở Thừa kế. Khi chúng ta rơi vào hoàn cảnh khó khăn, việc làm được bất cứ điều gì dù nhỏ cũng là một sự an ủi lớn. Mặc dù vận mệnh có thổi vào mặt chúng ta ngọn gió thu lạnh lẽo và khắc nghiệt đến đâu đi nữa — chừng nào nó chưa làm gãy khớp cánh của chúng ta (như loài thiên nga) — thì sự vẫy vùng của chúng ta, dẫu không thể đưa ta đến một vùng khí hậu ấm áp hơn, ít nhất cũng có hiệu quả làm ta ấm lên đôi chút. Vì lòng tốt, Siebenkæs đã giấu vợ chuyện chậm trễ trong việc giải quyết các khoản tài sản thừa kế, cũng như câu chuyện cũ về việc đổi tên; chàng nghĩ rằng một người vợ của anh chàng luật sư nghèo túng thì chẳng đời nào có cơ hội nhìn qua vai một nhà quý tộc để thấy được ván bài gia đình của họ.

Và quả thực, một kẻ vừa bước ra khỏi tuần thánh độc thân để nhảy ùm vào tuần trăng mật ngập tràn hạnh phúc đôi lứa, còn mong ước gì hơn thế nữa? Mãi cho đến tận bây giờ chàng mới có thể ôm trọn Lenette vào vòng tay mình một cách trọn vẹn — trước đây, người bạn đời của chàng, cứ luôn nấn ná lừng chừng trong cuộc sống, chỉ được ôm chặt bằng tay trái; nhưng giờ đây, nàng đã có thể thoải mái vươn mình trong những ngăn sâu thẳm của trái tim chàng. Và người vợ thẹn thùng đã làm điều đó hết mức có thể. Nàng thú nhận với chàng, dẫu hãy còn rụt rè, rằng nàng gần như cảm thấy rất mừng vì không còn con chó dữ Saufinder cứ nằm lú hú dưới gầm bàn và trợn mắt nhìn lên một cách đáng sợ như thế nữa. Còn việc nàng có cảm thấy nhẹ nhõm tương tự khi vắng bóng người chủ hoang đàng của con chó hay không, thì không tài nào ép nàng nói ra được. Đối với viên luật sư, nàng cảm thấy gần gũi giống như một người con gái, và người cha cao lớn của nàng chẳng bao giờ thấy chán những cử chỉ ngô nghê đáng yêu của nàng. Việc nàng thường đứng nhìn theo mỗi khi chàng ra cửa cho đến khi khuất bóng chẳng thấm tháp gì so với cảnh nàng cầm chổi hớt hải chạy theo sau khi thấy từ cửa sổ vạt áo của chàng dính đầy bùn đất ngoài phố, nhất định bắt chàng quay lại nhà để chải lưng thật sạch, như thể chính quyền thành phố Kuhschnappel sẽ phạt thuế đường nếu trên người chàng còn vương chút bùn đất nào. Chàng sẽ cầm lấy cây chổi để ngăn nàng lại, hôn nàng và nói: “Bên trong anh còn khối thứ dính đát nữa kìa, nhưng chẳng ai thấy được ở đó đâu; khi nào anh về, chúng ta sẽ bắt tay vào cọ rửa bớt phần đó đi nhé.”

Sự vâng lời ngoan ngoãn của nàng trước mọi mong muốn và gợi ý của chàng, sự tuân thủ và làm tròn bổn phận như một người con gái của nàng, quả thực vượt quá cả mong đợi lẫn yêu cầu của chàng; nhưng lại không hề quá lớn so với tình yêu mà chàng dành để đáp lại. “Hỡi con gái của viên thư ký hội đồng,” chàng nói, “em không được quá ư vâng lời anh như thế; hãy nhớ rằng anh không phải là cha em, một thư ký hội đồng, mà chỉ là một luật sư nghèo của dân nghèo, người đã cưới em và tự ký tên mình là Siebenkæs, theo đúng những gì anh hằng tin tưởng.”

“Người cha quá cố đáng thương của em,” nàng đáp lại, “ngày trước ở nhà cũng thường tự mình sáng tác và viết ra mọi thứ bằng chính tay ông, rồi sau đó mới tự tay chép lại thật sạch sẽ và đẹp đẽ.” Nhưng chàng lại rất thích những câu trả lời ngây ngô lệch sóng mà nàng hay thốt lên. Và mặc dù vì lòng tôn kính tuyệt đối đối với chàng, nàng chẳng bao giờ hiểu được dù chỉ một lời nói đùa nào mà chàng cứ luôn trêu chọc về bản thân (bởi nàng thường cãi lại khi chàng châm biếm hạ thấp chính mình, và hoàn toàn đồng tình khi chàng mỉa mai ca ngợi bản thân), thế nhưng những nét tính cách mang màu sắc quê mùa ấy của nàng lại làm chàng vô cùng thích thú. Nàng hay dùng những từ như “fleuch” thay cho “fliehe,” “reuch” và “kreuch” thay cho “riehe” và “kriehe;” đó là những cổ ngữ tôn giáo trích từ cuốn Kinh thánh của Luther, vốn là những đóng góp quý giá và thú vị vào kho tàng dị biệt của nàng, cũng như vào hạnh phúc tuần trăng mật của chàng. Có lần, khi chàng cầm một chiếc mũ đội đầu rất xinh xắn mà nàng vừa thử qua với vẻ hài lòng trên cả ba khuôn gỗ đội mũ của mình, hết cái này đến cái khác (nàng thường hay dịu dàng hôn lên những khuôn gỗ ấy), rồi đội nó lên cái đầu nhỏ nhắn của chính mình trước gương và bảo: “Em hãy xem nó trông thế nào trên đầu mình kìa; có lẽ đây cũng là một chiếc khuôn tốt chẳng kém gì những cái khác chứ lỵ,” nàng liền cười phá lên đầy thích thú và thốt rằng: “Anh lúc nào cũng khéo nịnh người ta thế đấy!”

Xin hãy tin tôi, sự ngây ngô không nhận ra lời nói đùa của nàng đã làm chàng xúc động đến mức chàng thề ngầm rằng sẽ không bao giờ pha trò kiểu ấy nữa, trừ khi chỉ để nói một mình trong thâm tâm. Nhưng còn có một niềm vui trăng mật lớn lao hơn thế nữa. Đó là khi đến ngày ăn chay, Lenette tuyệt đối không cho phép chàng hôn nàng khi nàng bước vào phòng (đã sửa soạn sẵn sàng để đi dự lễ), với vẻ đẹp rạng rỡ của tuổi trẻ trắng ngần và hồng hào ánh lên gấp ba lần từ dưới lớp khăn trùm đầu bằng ren đen và chiếc váy sẫm màu.

“Những ý nghĩ trần tục kiểu đó,” nàng nói, “thật chẳng đúng phép chút nào trước giờ làm lễ, khi mọi người đang mặc trang phục ngày ăn chay; ai nấy phải biết chờ đợi chứ!”

“Vì trời đất!” Siebenkæs tự nhủ, “nếu ta lại bắt đầu tán tỉnh và ôm hôn người phụ nữ sùng đạo ấy một lần nữa khi nàng đang mặc váy đen và chuông nhà thờ đang đổ, thì nguyện xin cắm một chiếc thìa súp dài năm inch, rộng ba inch xuyên qua môi dưới hệt như một mụ da đỏ Bắc Mỹ, rồi cứ mang nó đi dong chơi khắp chốn.” Và mặc dù bản thân không phải là kẻ năng nổ đến nhà thờ cho cam, chàng vẫn giữ đúng lời hứa của mình. Hỡi các cô thiếu nữ trẻ tuổi, hãy nhìn xem cách chúng tôi cư xử trong đời sống hôn nhân thế nào kìa!

Từ tất cả những điều đó, người ta có thể dễ dàng thấy được viên luật sư đã hạnh phúc hoàn hảo dường nào trong tuần trăng mật, khi Lenette, bằng cách thức tuyệt vời nhất, làm thay cho chàng tất cả những công việc mà trước đây chàng phải tự lo lấy một cách vô cùng khốn khổ và miễn cưỡng, khiến cho chốn tu viện đầm ấm mang âm hưởng đi-tơ-ram của chàng, nhờ sự quét dọn và chải chuốt không mệt mỏi, trở nên sạch sẽ, phẳng phiu và láng mịn chẳng khác nào một chiếc bàn bida. Trong suốt tuần trăng mật, nàng vun xới biết bao "cây mật ngọt" đầy ắp bánh trái; cứ lượn lờ quanh chàng mỗi buổi sáng như một chú ong chăm chỉ, mang sáp về tổ (trong khi chàng vẫn điềm tĩnh tiếp tục làm việc với các giấy tờ pháp lý, xây đắp nên cái tổ tò vò tư pháp của mình), tự tay tạo ra các ngăn tổ, dọn dẹp sạch sẽ, tống khứ những dị vật ra ngoài và trám kín những khe hở; thỉnh thoảng chàng lại ngước lên từ cái tổ tò vò của mình để nhìn dáng hình nhỏ nhắn xinh xắn trong bộ trang phục gia định ngăn nắp nhất, và trước cảnh tượng ấy, chàng ngậm bút trong miệng, đưa tay qua lọ mực về phía nàng và nói: “Em cứ chờ đến buổi chiều khi em ngồi may vá nhé — lúc ấy, khi anh đi qua đi lại, anh sẽ trả công cho em bằng những nụ hôn thỏa lòng.” Nhưng để không một nữ độc giả khả ái nào của tôi phải cảm thấy bất an về việc vị ngọt của tuần trăng mật này có thể bị chua đi do hành xử của tên khốn nạn tước quyền thừa kế là Blaise, xin cho tôi được hỏi một câu thế này? Chẳng phải Siebenkæs đang nắm trong tay cả một mỏ bạc và một xưởng đúc tiền dưới hình thức bảy vụ kiện đang diễn ra, với đầy rẫy những mạch quặng quý giá hay sao? Và chẳng phải Leibgeber đã gửi cho cậu ấy một chiếc rương quân quỹ trên bốn bánh xe vận mệnh, bên trong chứa hai đồng đô la có hình mắt kiếng của Công tước Julius xứ Brunswick, một đồng ba rúp Nga năm 1679, một đồng ducat đuôi sam, một đồng đô la ruồi muỗi, năm đồng ducat tế lễ, cùng một đống tiền vàng Ephraimite đó sao? Cậu ấy hoàn toàn có thể đem nấu chảy và biến đổi toàn bộ số tiền xu này mà không mải may do dự, bởi vì người bạn của cậu chỉ đút túi chúng cốt để trêu chọc những kẻ sẵn sàng bỏ ra một trăm đô la để mua một đồng mà thôi. Cả hai người họ chia sẻ với nhau mọi thứ cả về thể xác lẫn tinh thần ở một mức độ mà ít ai có thể hiểu thấu. Họ đã đạt đến cái ngưỡng nơi chẳng còn ranh giới nào giữa người cho và kẻ nhận ân huệ, và họ bước qua những vực thẳm của cuộc đời trong sự gắn kết chặt chẽ với nhau, giống như những kẻ săn tìm đá quý trên dãy An-pơ tự buộc chặt mình vào nhau để tránh rơi vào các khe băng sâu thẳm.

Thế nhưng, vào một buổi chiều lễ Truyền Tin, chàng chợt nảy ra một ý tưởng có thể hoàn toàn trấn an tất cả những độc giả nữ yêu mến đang lo lắng cho số phận của chàng, đồng thời khiến chàng cảm thấy hạnh phúc hơn cả khi nhận được chiếc giỏ bánh mì lớn nhất đựng đầy những giỏ trái cây nhỏ hay một thùng rượu ngon. Chàng vẫn luôn tin chắc rằng thế nào mình cũng sẽ nảy ra một ý tưởng. Cứ mỗi lần rơi vào bất kỳ rắc rối nào, chàng thường tự nhủ: “Giờ đây, không biết lần này mình sẽ nghĩ ra cái gì nhỉ; vì thế nào ta cũng sẽ lóe lên được điều gì đó chắc chắn như việc trong não ta có bốn ngăn.” Ý tưởng tuyệt vời nói trên chính là việc chàng sẽ làm đúng như những gì tôi đang thực hiện vào khoảnh khắc này — viết một cuốn sách; chỉ có điều cuốn sách của chàng sẽ mang tính châm biếm.[22] Một dòng máu tuôn trào qua những cánh cống đang mở toang của trái tim chàng, tràn thẳng vào giữa các bánh xe và hệ thống máy móc nhà máy của những ý tưởng, khiến toàn bộ cơ chế tinh thần kêu lách cách, vù vù và leng keng chỉ trong nháy mắt — lập tức một hai bơ nguyên liệu cho cuốn sách đã được nghiền nát ra ngay tại chỗ.

Tôi không biết có sự náo động tinh thần nào lớn hơn — hầu như cũng chẳng có sự ngọt ngào nào hơn — có thể nảy sinh trong tâm hồn một chàng trai trẻ, ngoài cảm giác mà anh ta trải qua khi đang đi đi lại lại trong phòng, và đưa ra quyết định táo bạo rằng mình sẽ lấy một cuốn sổ trắng tinh để viết nên một bản thảo; quả thực, đây là một vấn đề có thể đem ra bàn cãi xem liệu Winckelmann hay danh tướng Hannibal đã sải bước dài hơn trong phòng của họ khi mỗi người đưa ra quyết định (táo bạo không kém) là họ sẽ tiến về Rome. Siebenkæs, sau khi đã hạ quyết tâm viết tập ‘Tuyển tập từ những giấy tờ của Quỷ vương,’ buộc phải chạy ra ngoài nhà và chạy ba vòng quanh quảng trường chợ, chỉ để thu xếp những ý tưởng đang bay bổng và cuồn cuộn của mình trở lại đúng quỹ đạo quen thuộc thông qua việc làm cho đôi chân mỏi nhừ. Chàng trở về trong niềm mệt mỏi vì ngọn lửa rực cháy bên trong — kiểm tra xem trong nhà có đủ giấy trắng cho bản thảo của mình không — rồi chạy ào đến bên Lenette đang điềm tĩnh cặm cụi may một chiếc mũ, và trao cho nàng một nụ hôn trước khi nàng kịp rút cây kim ra khỏi miệng — chiếc gai cuối cùng trên cành hồng! Ngay trong lúc hôn, nàng vẫn điềm tĩnh thực hiện mũi khâu kết thúc cho viền chiếc mũ (liếc mắt nhìn xuống một cách khéo léo nhất có thể mà không cần cử động đầu).

“Hãy vui mừng cùng anh nhé!” chàng kêu lên, “hãy đến đây và nhảy múa cùng anh! Ngày mai anh sẽ bắt đầu một công trình, một cuốn sách! Tối nay hãy nướng cái đầu bê đi em, dẫu cho đó có là sự phá vỡ mười điều răn của chúng ta đi nữa.” Bởi vì trước đó vào ngày thứ Tư, chàng và nàng đã tự lập ra một ủy ban quy định về thực phẩm, và trong số ba mươi chín điều khoản về kinh tế gia đình đã được thông qua và ký kết khi đó, có điều quy định rằng, họ sẽ sống như những tín đồ Bà-la-môn, tuyệt đối không ăn thịt vào bữa tối.

Nhưng chàng đã gặp muôn vàn khó khăn khi phải giải thích cho nàng hiểu làm thế nào mà chỉ với một trang giấy trong tập ‘Tuyển tập từ những giấy tờ của Quỷ vương,’ chàng lại có thể kiếm đủ tiền mua cho nàng một cái đầu bê khác, và rằng chàng hoàn toàn có lý khi ban hành lệnh miễn trừ buổi ăn chay tối hôm đó; bởi vì cũng giống như đám đông phàm tục ngoài kia, hay như những người thợ in, Lenette đinh ninh rằng một cuốn sách viết tay được trả nhuận bút theo cùng mức với một cuốn sách in, và rằng người thợ sắp chữ thậm chí còn nhận được nhiều hơn cả tác giả. Chưa bao giờ trong đời nàng có nổi dù chỉ một ý niệm mơ hồ về những khoản tiền khổng lồ mà các tác giả thời nay được trả; nàng giống như vợ của Racine, người chẳng hề biết một dòng thơ hay một vở bi kịch là gì, mặc dù bà sống nhờ vào chính những thứ đó. Về phần mình, nói cho đúng, tôi sẽ chẳng bao giờ chịu rước về làm vợ bất kỳ người phụ nữ nào không có khả năng hoàn thành ít nhất bất kỳ câu văn dở dang nào mà tử thần hất ngã tôi xuống giữa chừng bằng chiếc đồng hồ cát của hắn ta — hoặc người không cảm thấy vô cùng sung sướng khi tôi đọc cho nàng nghe những tờ báo uyên bác ở Göttingen, hay các tạp chí bách khoa Đức, trong đó tôi được ca ngợi hết lời, có lẽ còn hơn cả mức tôi xứng đáng.

Sự phấn khích của nghiệp cầm bút đã khiến tất cả các hạt máu trong người Siebenkæs chuyển động rào rạt và mọi ý tưởng cuồn cuộn thành một cơn lốc trong suốt buổi tối hôm ấy, đến nỗi trong trạng thái dạt dào cảm xúc và tưởng tượng đó (một trạng thái ở chàng thường mang vẻ ngoài của sự cáu kỉnh), chàng sẽ lập tức lồng lộn và nổ tung như thứ vàng nổ trước bất kỳ thứ gì có nhịp điệu chậm chạp mà chàng bắt gặp — chẳng hạn như bước chân lề mề nặng nề của cô hầu gái, hay chứng bệnh phù thũng mà giọng nói cô ta mắc phải; — nếu như chàng không kịp thời chộp lấy một thứ bột an thần quý giá dùng cho chứng sung sướng quá độ và uống ngay một liều. Thật dễ dàng hơn nhiều khi khơi gợi một động lực và dòng chảy xiết cho dòng máu đang lưu chuyển chậm chạp của một trái tim nặng trĩu muộn phiền, so với việc kìm hãm và dồn nén dòng chảy cuồn cuộn, sủi bọt đang ào ạt chạy qua các tĩnh mạch trong niềm hạnh phúc tột cùng; thế nhưng chàng luôn có thể tự trấn an bản thân, ngay cả trong niềm vui cuồng nhiệt nhất, bằng ý nghĩ về Bàn tay ban phát vô tận đã ban cho mình điều đó, và sự dịu dàng êm ái của trái tim khiến ánh mắt chúng ta cúi rạp xuống mặt đất khi nhớ đến Ân nhân vô hình, vĩnh cửu của muôn loài. Vào những lúc như thế, trái tim được làm dịu đi bởi lòng biết ơn và những giọt nước mắt hân hoan sẽ bày tỏ sự tri ân của mình bằng cách ít ra là trở nên tử tế hơn với toàn thể nhân loại, nếu không thể bằng cách nào khác. Niềm vui hoang dã, bất kham ấy, thứ mà Nữ thần Báo oán Nemesis luôn trừng phạt, chỉ có thể được giữ trong những giới hạn phải phép nhờ ý thức biết ơn này; và những kẻ chết vì quá vui sướng hẳn đã không phải bỏ mạng, hoặc đã chết vì một niềm vui đẹp đẽ và cao cả hơn, nếu như trái tim họ trước đó được làm cho dịu lại bởi một ánh nhìn biết ơn hướng về thiên đàng.

Lời tạ ơn đầu tiên và tuyệt vời nhất của chàng dành cho những bờ sông mới, mượt mà và xinh đẹp, nơi dòng đời chàng vừa được dẫn dắt đến, đã mang hình thức của một bản biện hộ được soạn thảo một cách tận tụy và cẩn thận mà chàng phải chuẩn bị cho một cô gái bị buộc tội giết con, nhằm cứu cô ta khỏi bị tra tấn trên giá bọc bánh xe. Vị bác sĩ ngụ tại thị trấn đã kết án cô ta bằng "phép thử phổi," một hình phạt chẳng thích hợp hơn cũng chẳng kém hơn so với "phép thử nước" (vốn từng được dùng để trừng phạt những kẻ phù thủy).

Những ngày xuân bình yên của đời sống hôn nhân, thanh bình và phẳng lặng, đã trải tấm thảm hoa của mình cho bước chân của đôi vợ chồng trẻ dạo bước. Chỉ có điều, đôi khi bên dưới khung cửa sổ, khi Lenette vươn mình và chìa cánh tay trắng ngần ra vào một buổi sáng để từ từ cài lại các cánh cửa chớp bên ngoài, lại xuất hiện một quý ông mặc trang phục lụa màu da người.

“Em thực sự cảm thấy vô cùng ngượng ngùng mỗi khi vươn vai,” nàng nói; “có một vị quý ông cứ đứng lì ngoài đường, ông ấy ngả mũ chào và ghi chép lại hệt như một tay thẩm định thịt vậy.”

Vào những ngày nghỉ học thứ Bảy, Schulrath Stiefel vẫn giữ đúng lời hứa trang trọng mà ông đã đưa ra vào ngày cưới là sẽ đến thăm họ thường xuyên, và dù thế nào đi nữa cũng nhất định phải ghé qua vào các ngày thứ Bảy. Tôi nghĩ mình sẽ gọi ông ấy là Peltzstiefel (Bốt Lông) để tạo sự biến đổi thú vị cho đôi tai người nghe — bởi vì toàn bộ thị trấn đã gọi ông bằng cái tên ấy do lớp lông chồn xám viền da thỏ mà ông mang quanh ống chân để làm chiếc lò sưởi di động tiết kiệm củi. Chà, Peltzstiefel, ngay khoảnh khắc vừa bước qua cửa, đã kết những bông hoa hân hoan lại thành một bó và giắt vào khuy áo của viên luật sư, khi ngay tại chỗ bổ nhiệm chàng làm cộng sự cho tờ ‘Chỉ nam Kuhschnappel, Sứ giả Thiên đàng và Tạp chí Điểm sách Học đường’ — một tác phẩm đáng lẽ phải được biết đến nhiều hơn để những tác phẩm do nó giới thiệu cũng được như vậy. Việc làm báo này của Siebenkæs đem lại cho tôi niềm vui lớn; ít ra nó cũng sẽ mang lại cho người hùng của tôi chừng sáu xu để đổi lấy một bữa tối lai rai thỉnh thoảng. Schulrath, người giữ vai trò biên tập viên của tờ báo này, có ý thức rất cao về quyền lực và trách nhiệm trong chức trách của mình; nhưng Siebenkæs giờ đây đã vươn lên tầm cao của một tác giả — sinh vật duy nhất trong mắt ông thậm chí còn vượt trội hơn cả một nhà phê bình — bởi vì Lenette đã thì thầm với ông trên đường đến nhà thờ rằng chồng nàng sắp sửa được in một cuốn sách dày cộp. Schulrath coi ‘Tạp chí Văn học Salzburg’ thời bấy giờ là kinh thánh ngụy thư, còn ‘Tạp chí Văn học Jena’ là kinh thánh chính thống: đối với đôi tai ông, tiếng nói đơn độc của một nhà phê bình được nhân lên qua tiếng vang trong tòa án phán quyết phê phán thành hàng ngàn giọng nói. Trí tưởng tượng lầm lạc của ông đã nhân hóa cái đầu của một nhà phê bình đơn lẻ thành nhiều cái đầu quái vật Lerna, giống như người ta từng tin tưởng thời xưa rằng ác ma thường bao quanh đầu những kẻ tội đồ bằng những chiếc đầu giả dối để đao phủ đánh trượt nhát chém của mình.

Việc một nhà phê bình viết bài ẩn danh mang lại cho ý kiến của một cá nhân trọng lượng và uy tín mà nó sẽ có được nếu được đưa ra bởi cả một hội đồng; nhưng ngặt một nỗi nếu tên của anh ta được đặt ở cuối bài, chẳng hạn như “X.Y.Z., Sinh viên Thần học,” thay vì “Thư viện Đức Phổ quát Mới,” thì nó sẽ làm suy giảm hiệu quả của những lời phán quyết uyên bác mang tính áp đặt luật lệ của anh sinh viên thần học xuống quá mức. Schulrath nịnh bợ người hùng của tôi vì tính châm biếm của chàng; bởi vì chính bản thân ông, một con người hiền lành như cún con trong đời sống thường ngày, lại tự biến mình thành một con sói ăn thịt người trong một bài điểm bình luận; đây là điều thường thấy ở những người tính tình ôn hòa khi họ viết lách, đặc biệt là về các môn nhân văn học và những chủ đề đại loại như thế. Quả thực, các bộ tộc du mục hiền hòa (theo như Gibbon) rất thích gây chiến và khơi mào chiến tranh, hoặc cũng giống như họa sĩ vẽ tranh phong cảnh đồng quê Gessner, bản thân lại là một tay biếm họa cay độc.

Và về phần mình, người hùng của chúng ta đã mang lại cho Stiefel một niềm vui lớn vào buổi tối hôm nay, đồng thời hứa hẹn với ông nhiều niềm vui tương tự nữa, khi chàng lấy ra từ bộ sưu tập tiền xu của Leibgeber một đồng đô la ruồi muỗi và đưa cho ông, không phải như một món tiền thưởng cho chức vụ trong cái tổ tò vò phê bình, mà để ông đổi ra tiền lẻ. Schulrath, bản thân vốn là một “Silberdiener” (quan quản lý trân bảo và khay chén bạc) tận tụy của một tủ tiền đô la thuộc về riêng mình, hẳn đã vô cùng sung sướng nếu tiền bạc chỉ tồn tại thuần túy vì lợi ích của những chiếc tủ sưu tập — (ý ông muốn nói đến tủ sưu tập tiền cổ numismatic, chứ không phải tủ hồ sơ chính trị) — ông rạng ngời và đỏ bừng mặt vì quá thích thú với đồng đô la, rồi tuyên bố với viên luật sư (người chỉ muốn giá trị thực tế của nó chứ không màng tới giá trị sưu tầm) rằng ông coi đây là một biểu hiện của tình bạn chân chính. “Không,” Siebenkæs đáp lại, “biểu hiện duy nhất của tình bạn chân chính trong chuyện này chính là việc Leibgeber đã tặng tôi đồng đô la đó.” “Nhưng tôi chắc chắn sẽ đổi cho anh tận ba đô la nếu anh thích đòi hỏi,” Stiefel nói. Lenette, vô cùng vui sướng trước niềm vui của Stiefel cùng cử chỉ thân thiện của ông, đồng thời lén lút huých tay chồng như một lời nhắc nhở đừng có nhượng bộ, bèn xen vào với một sự quyết đoán làm tôi phải kinh ngạc: “Nhưng chồng tôi sẽ không đời nào làm thế đâu, tôi xin đảm bảo với ông; một đô la vẫn cứ là một đô la.” “Nhưng,” Siebenkæs nói, “lẽ ra tôi nên đòi anh chỉ một phần ba giá trị nếu cứ lần lượt trao hết số tiền xu của mình cho anh thế này đấy chứ.” Ôi những tâm hồn đáng yêu! Phải chi những lời “vâng” trên đời này lúc nào cũng giống như những chữ “nhưng” của các bạn.

Stiefel, dẫu là một kẻ độc thân kiên định, nhưng trong một dịp tuyệt vời thế này thì nhất định không để bản thân tỏ ra thiếu phép lịch sự tối thiểu đối với phái đẹp, nhất là đối với một người phụ nữ mà ông đã bắt đầu quý mến ngay từ khi đưa nàng về rước dâu, và càng quý mến hơn gấp bội bây giờ khi nàng đã là vợ của một người bạn thân thiết, bản thân nàng cũng là một người bạn vô cùng thân thiết. Do đó, ông khéo léo dẫn dắt nàng tham gia vào câu chuyện (vốn trước đó quá uyên bác và chuyên môn đối với nàng) bằng cách dùng ba chiếc khuôn mũ làm những bước đệm để chuyển hướng sang tập san thời trang; chỉ có điều ông lại nhanh chóng quay trở lại với một tập san thời trang cổ xưa hơn, đó là tác phẩm của Rubenius bàn về ‘Trang phục của người Hy Lạp và La Mã cổ đại.’ Ông nói rằng ông rất sẵn lòng cho nàng mượn các bài giảng của mình vào mỗi Chủ nhật, vì các luật sư thường không bận tâm lắm đến thần học. Và khi nàng đang cúi nhìn xuống sàn nhà để tìm chiếc kéo gắp bấc đèn vừa rơi, ông liền cúi thấp ngọn nến xuống để nàng có thể nhìn thấy rõ.

Chủ nhật tuần tiếp theo là một ngày trọng đại đối với ngôi nhà (hoặc đúng hơn là căn hộ) của Siebenkæs, bởi vì nó chào đón sự xuất hiện của một nhân vật có vai vế hơn bất kỳ ai từng xuất hiện từ trước đến nay, đó chính là ngài Venner (Cố vấn Tài chính) — Everard Rosa von Meyern, một thành viên trẻ tuổi của giới quý tộc, kẻ ngày ngày ra vào dinh thự của Heimlicher von Blaise để “làm quen với lề lối công việc quan liêu;” anh ta đồng thời cũng đã đính ước kết hôn với một người cháu gái nghèo của ngài Heimlicher, người đang được nuôi dưỡng và giáo dục để thuộc về trái tim anh ta ở một vùng khác của nước Đức.

Do đó, ngài Venner là một nhân vật có trọng lượng tại thị trấn Kuhschnappel cũng như trong ‘Miếng gai’ của chúng ta, xét trên mọi phương diện chính trị. Xét về mặt thể chất thì anh ta kém hơn nhiều. Thân hình anh ta được nhét xuyên qua bộ trang phục thêu hoa trông chẳng khác nào một chiếc que cắm qua bó hoa đồng nội; bên dưới những chiếc vạt áo sáng loáng (bản thân nó đã là một bức tranh động vật hoàn chỉnh)[23] là một lồng ngực phẳng lì, nếu không muốn nói là lõm hẳn xuống, và đôi chân của anh ta, tính tổng cộng lại, cũng chỉ có lượng bắp chân tương đương với mấy cái chân gỗ mà những thợ làm tất hay trưng bày trong cửa sổ làm vật quảng cáo.

Ngài Venner ra hiệu cho viên luật sư hiểu, bằng một điệu bộ lạnh lùng và thô lỗ một cách lịch sự, rằng anh ta đến đơn thuần chỉ để giải nhiệm vụ bào chữa vụ án giết con cho anh, vì anh ta còn quá nhiều việc khác phải bận tâm. Nhưng Siebenkæs đã nhìn thấu cái cớ này một cách vô cùng dễ dàng. Ai cũng biết rõ một sự thật rằng cô gái bị buộc tội trong vụ án này đã nhận một tay du hành thương mại nào đó làm cha đứa con của mình (nay đã bay cao bay xa bay khỏi cõi đời này), một cái tên mà cả cô ta lẫn các tài liệu liên quan đến vụ án đều không thể nhắc đến; thế nhưng kẻ cha ruột thực sự — kẻ giống như một nhà văn trẻ, rất rụt rè trong việc đứng tên trên tác phẩm ngắn ngủi của mình — lại chẳng phải ai khác ngoài ngài Venner hốc hác, Everard Rosa von Meyern bằng xương bằng thịt. Có những sự việc mà cả một thị trấn sẽ cùng đồng lòng quyết định phớt lờ đi; và một trong số đó chính là tư cách tác giả của Rosa. Tuy nhiên, Heimlicher von Blaise thừa biết rằng Siebenkæs đã hay biết chuyện này, và hắn sợ rằng vì căm thù vụ thừa kế, chàng sẽ cố tình bào chữa tồi tệ cho cô gái để sự hổ thẹn và tai tiếng trong cái chết của cô ta trút lên đầu người họ hàng Meyern của hắn. Thật là một sự nghi kỵ tàn nhẫn và ti tiện làm sao!

Thế nhưng, đôi khi ngay cả những tâm hồn trong sáng nhất cũng bị đẩy vào tình thế phải nuôi dưỡng những mối nghi kỵ như thế. May mắn thay, Siebenkæs đã sớm rèn sẵn và dựng lên chiếc cột thu lôi cho người mẹ khốn khổ. Khi chàng cho tên vị hôn phu giả mạo của kẻ bị tình nghi giết con xem bản thiết kế ấy, y lập tức tuyên bố rằng y không thể tìm được vị thánh hộ mệnh nào tài năng hơn thế trong số toàn bộ các luật sư ở thị trấn; để rồi cả tác giả lẫn độc giả đều có thể đồng thanh bổ sung thêm rằng “cũng chẳng có ai được thúc đẩy bởi những động cơ cao cả hơn,” bởi chúng ta biết rằng chàng làm điều đó như một lời tạ ơn Thiên đường vì ý tưởng đầu tiên về tập ‘Giấy tờ của Quỷ vương.’

Vào lúc này, vợ của viên luật sư đột nhiên bước về từ căn phòng đóng sách bên cạnh, nơi nàng vừa ghé qua một thoáng. Ngài Venner liền lao tới đón nàng ở ngưỡng cửa với một mức độ lịch sự không thể đẩy đi xa hơn được nữa, bởi vì nàng đã phải tự mở cửa trước khi anh ta kịp với tới. Anh ta cầm lấy bàn tay nàng, mà vì sự kính trọng và e sợ đối với anh ta, nàng đành ngoan ngoãn để mặc anh ta nắm lấy, rồi cúi người hôn lên nhưng lại liếc ngược đôi mắt lên khuôn mặt nàng và cất lời:

“Meddem! Anh đã nắm chiếc bàn tay đẹp đẽ này trong tay mình suốt mấy ngày nay rồi đấy.”

Qua những lời anh ta thốt lên, giờ đây người ta mới vỡ lẽ ra rằng anh ta chính là vị quý ông mặc đồ màu da người từng dùng bút vẽ để “đánh cắp” bàn tay nàng khi nàng chìa ra ngoài cửa sổ; bởi vì anh ta đang khao khát tìm một bàn tay xinh đẹp theo phong cách họa sĩ Dolce để đưa vào bức chân dung ba phần tư của vị hôn thê, mà lại chẳng biết phải làm thế nào; còn khuôn mặt của vị hôn thê thì anh ta vẽ dựa vào trí nhớ. Sau đó, anh ta tháo đôi găng tay ra — thứ duy nhất mà từ trước đến nay anh ta dám dùng để chạm vào nàng (giống như nhiều tín đồ Cơ đốc giáo thời kỳ đầu chỉ dám chạm vào Bí tích Thánh thể bằng găng tay vì lòng kính ngưỡng) — để lộ ra những tia sáng lấp lánh từ các chiếu nhẫn và nước da trắng ngát như tuyết. Để giữ cho làn da trắng ngần ấy khỏi bị ánh nắng mặt trời làm tổn hại, anh ta hầu như chẳng bao giờ tháo găng tay, ngoại trừ vào mùa đông khi mặt trời gần như chẳng đủ sức để đốt cháy thứ gì.

Giới quý tộc Kuhschnappel, đặc biệt là tầng lớp trẻ tuổi, luôn tuân thủ một cách tự nguyện điều răn mà Chúa đã ban cho các tông đồ của Ngài, đó là “đừng chào hỏi bất cứ ai dọc đường,” và ngài Venner cũng tuân thủ đúng mức độ bất lịch sự cần thiết ấy đối với người chồng, nhưng tuyệt đối không hề như vậy đối với người vợ, người mà anh ta dành cho sự hạ mình vô biên. Bản tính bẩm sinh trong lối châm biếm của Siebenkæs là một khuyết điểm khiến chàng thường tỏ ra quá lịch sự và tử tế với tầng lớp hạ lưu, nhưng lại quá sỗ sàng và hách dịch với tầng lớp bề trên. Chàng vẫn chưa có đủ vốn sống xã hội để có thể xác định chính xác góc độ mà tấm lưng mình nên cúi xuống trước các vị quyền quý khác nhau trong vùng, vì thế chàng thỉnh thoảng chọn cách đi đứng thẳng băng như cột nhà, dù làm vậy đi ngược lại với những thúc giục từ trái tim nhân hậu của mình. Một nguyên nhân bổ sung nữa là vì nghề nghiệp mà chàng theo đuổi vốn mang bản chất hiếu chiến, có xu hướng làm cho những ai thuộc về nó trở nên táo bạo hơn; một luật sư có lợi thế là không bao giờ cần phải thuê người đại diện cho chính mình, và hậu quả là chàng thường có xu hướng đối xử với cả những nhân vật lớn lao nhất với một chút lạnh lùng, trừ khi họ đóng vai trò là thẩm phán hoặc khách hàng, những người mà mọi dịch vụ tốt nhất của chàng luôn sẵn sàng phục vụ. Mặc dù vậy, thông thường thì trong tấm lòng nhân hậu của Siebenkæs dành cho toàn thể nhân loại, chiếc cầu di động của chàng vẫn bị hạ xuống thấp đến mức những giai điệu phát ra từ dây đàn của nó trở nên vô cùng trầm bổng và dịu êm. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh hiện tại, việc giữ phép lịch sự với ngài Venner (kẻ mà những mưu đồ nhắm vào Lenette bị chàng buộc phải nhìn thấu) còn khó khăn hơn gấp vạn lần so với việc cư xử thô lỗ với y.

Hơn thế nữa, bản thân chàng từ bé đã căm ghét những gã đàn ông ăn diện bảnh tỏn — mặc dù — hoàn toàn ngược lại với cảm giác dành cho phụ nữ ăn diện — thế nên chàng thường ngồi đờ đẫn ngắm nhìn những con ma-nơ-canh thời trang nhỏ xíu trên các tạp chí mốt trong một khoảng thời gian dài, cốt để tự làm cho mình nổi giận thật sự với chúng; và chàng từng quả quyết với người dân Kuhschnappel rằng chẳng có ai khiến chàng thích thú khi giở trò nghịch ngợm thực tế hơn là mấy gã ma-nơ-canh kiểu này — phải, thích thú khi lăng mạ chúng, hoặc thậm chí gây tổn hại cho chúng (tới mức cho một trận đòn roi ra trò). Ngoài ra, một nguồn vui của chàng từ trước đến nay là việc Socrates và Cato từng đi chân trần dạo bước giữa chốn công trường; còn việc đi đầu trần (chapeau bas), thì chàng lại chẳng thích bằng nửa phần.

Thế nhưng, trước khi chàng có thể thốt lên điều gì khác ngoài việc làm những điệu bộ nhăn nhó, cái đầu gỗ của ngài Venner lại vuốt ve bộ râu đang mọc lún phún của mình, và một cách đầy xa cách, nhã nhặn đề nghị đảm nhận vai trò bảo hộ hoặc người trung gian trong vụ tranh chấp thừa kế của dòng họ Blaise đối với viên luật sư; anh ta làm điều này, tất nhiên, một mặt để che mắt viên luật sư, mặt khác để nhấn mạnh cho chàng thấy địa vị thấp kém đến nhường nào của mình. Mặc dù vậy, chàng luật sư với nỗi kinh hoàng khi nghĩ đến việc dùng một cỗ máy lùn lợn loại này làm thiên thần hộ mệnh hay sứ giả cho gia đình, liền đáp lại hắn ta (bằng tiếng Latinh)—

“Trước hết tôi phải kiên quyết yêu cầu rằng vợ tôi không được hay biết dù chỉ một âm tiết về cái vụ cãi vã khoai tây không đâu vào đâu đó. Hơn nữa, trong bất kỳ vấn đề pháp lý nào, tôi khinh miệt và hắt hủi sự trợ giúp của bất kỳ ai ngoại trừ một người bạn am hiểu luật pháp, và trong trường hợp này, chính tôi là người bạn luật pháp của tôi. Tôi đang nắm giữ một chức vụ chính thức tại đây ở Kuhschnappel; đúng vậy, chức vụ chính thức ấy hoàn toàn chẳng lấp đầy nổi con người tôi.” Cách chơi chữ phía sau được chàng thể hiện bằng một từ tiếng Latinh, bày tỏ năng lực ngôn ngữ xuất chúng đến mức tôi suýt muốn trích dẫn nó ra đây. Tuy nhiên, ngài Venner, kẻ chẳng thể nào dịch nổi trò chơi chữ lẫn phần còn lại của bài phát biểu với sự dễ dàng như chúng ta vừa đọc ở đây, lập tức đáp lại (để thoát thân mà không làm lộ sự dốt nát của mình) cũng bằng ngôn ngữ ấy, “Imo, immo,” mà ý anh ta muốn nói là vâng. Firmian liền tiếp tục bằng tiếng Đức, nói rằng: “Giám hộ và người được giám hộ, mối quan hệ của họ dù có thân thiết đến đâu đi chăng nữa, trong trường hợp này lại va chạm với nhau đến mức gần như quá đà để có thể xem là dễ chịu; dẫu cho, không có gì nghi ngờ khi trước đó từng có những trường hợp người họ hàng này lừa gạt người họ hàng khác:[24] dẫu sao đi nữa, ngay cả các thành viên trong các hội đồng giáo hội cũng từng lao vào đấm đá nhau từ thuở nào rồi, ví dụ như tại Ephesus vào thế kỷ thứ mười lăm. Quả thực, Viện phụ Barsumas và Dioscurus, Giám mục thành Alexandria, những nhân vật có địa vị, từng đấm đá vị Flavian đáng kính ngay trong dịp đó cho đến khi ông ta chết cứng như cá trích.[25] Và việc này lại diễn ra đúng vào ngày Chủ nhật nữa chứ, một ngày mà trong những thời kỳ cổ xưa ngớ ngẩn ấy, một lệnh hưu chiến linh thiêng được áp dụng cho mọi loại tranh chấp và bất hòa; thế nhưng giờ đây, các ngày Chủ nhật và ngày lễ lại chính là những ngày mà hòa bình bị phá vỡ; tiếng chuông quán rượu và tiếng lanh canh của ly chén gióng lên hồi kết cho lệnh hưu chiến, và người ta đấm đá nhau túi bụi để rồi luật pháp phải nhúng tay vào cuộc. Thuở xưa, người ta nhân số ngày lễ các thánh lên cốt để ngăn chặn những vụ ẩu đả, nhưng thực tế là bất kỳ ai liên quan đến nghề luật sư, thưa ngài von Meyern (kẻ chắc chắn phải có gì đó để mưu sinh), đều nên thỉnh cầu bãi bỏ bớt một hoặc hai ngày làm việc bình thường để số lượng các cuộc hỗn chiến nhờ đó mà gia tăng, và cùng với chúng, các khoản tiền phạt lẫn phí tổn cũng tăng theo tỷ lệ thuận. Thế nhưng ai lại đi nghĩ đến chuyện đó cơ chứ, ngài Venner?”

Chàng hoàn toàn có thể an toàn khi tuôn ra phần lớn những lời này trước mặt Lenette; nàng từ lâu đã quen với việc chỉ hiểu được một nửa, một phần tư hoặc một phần tám những gì chàng nói; còn về phần ngài Venner, nàng chẳng buồn bận tâm lấy một chút. Khi Meyern đã cáo lui với vẻ lịch sự lạnh lùng, Siebenkæs, với ý định giúp anh ta ghi điểm trong mắt vợ mình, bèn ca ngợi tình yêu trọn vẹn và không chia sẻ của anh ta dành cho toàn thể phái đẹp (dù đã đính hôn), và đặc biệt là sự gắn bó của anh ta dành cho cô dâu dự bị hiện đang bị giam trong xà lim tử tù của nhà tù; thế nhưng điều này dường như lại phản tác dụng, khiến anh ta càng mất điểm hơn trong mắt nàng.

“Hỡi tâm hồn thiện lương, tốt bụng của anh, mong rằng em sẽ mãi luôn trung thủy với chính mình và với anh như thế nhé!” chàng nói, ôm chầm lấy nàng vào lòng. Nhưng nàng chẳng hề biết rằng mình đã trung thủy, và liền thưa rằng: “Em biết không trung thủy với ai cơ chứ?”

Kể từ ngày này cho đến ngày lễ Thánh Michael, tức là ngày hội chợ của thị trấn, vận mệnh dường như dẫn dắt con đường của chúng ta, ý tôi là của độc giả và của tôi, đi qua chẳng mấy thảm hoa đặc sắc nào để mà nhắc tới, mà chỉ đơn thuần dọc theo bãi cỏ xanh mượt của một bãi cỏ Anh quốc, ai nấy đều ngỡ rằng cốt để hội chợ vào ngày lễ Thánh Michael có thể bất ngờ hiện ra trước tầm mắt chúng ta giống như một thị trấn lấp lánh chói lọi đột ngột nhô lên từ một thung lũng. Cho đến lúc đó chẳng có mấy chuyện xảy ra; ít nhất thì ngòi bút của tôi, vốn chỉ tự cho là có bổn phận ghi lại những biến cố có tầm quan trọng nhất định, cũng không mấy mặn mà gì trong việc bận tâm nhắc đến chuyện ngài Venner Meyern thỉnh thoảng lại tạt vào tiệm đóng sách (nơi ở cùng một mái nhà với gia đình Siebenkæs) — anh ta đơn thuần chỉ ghé qua để xem cuốn ‘Mối tình nguy hiểm’ đã được đóng gáy xong chưa.

Nhưng ngày hội chợ thánh Michael đó! Quả thực thế gian sẽ nhớ mãi không quên. Và trên thực tế, ngay cả đêm trước ngày hội ấy cũng là một khoảng thời gian mang phẩm chất lộng lẫy và tuyệt diệu đến mức chúng ta hoàn thế có thể mạo muội kể cho thế gian nghe đôi điều về nó.

Mong rằng thế gian hãy đọc bản tường thuật về đêm chuẩn bị này bằng mọi giá, rồi sau đó hãy đưa ra lá phiếu của mình.

Vào đêm trước ngày hội chợ ấy, toàn bộ Kuhschnappel (giống như mọi nơi khác vào những thời điểm như thế) đã biến thành một nhà xưởng và công xưởng lao động dành cho phụ nữ; bạn sẽ không thể tìm thấy một người phụ nữ nào trong toàn bộ thị trấn chịu ngồi yên một chỗ, hoặc được nghỉ ngơi yên bình, hay ăn vận chỉnh tề cả. Ngay cả những thiếu nữ hay đọc sách nhất cũng không mở bất kỳ cuốn sách nào ngoài cuốn đựng kim để rút kim ra, và những trang duy nhất họ lật qua chỉ là những tấm bột nhão dùng để làm bánh nướng. Hầu như không có người phụ nữ nào chịu ăn trưa; những chiếc bánh ngọt ngày lễ Michael và niềm vui sắp được thưởng thức chúng chính là động lực duy nhất của cỗ máy phái đẹp.

Vào những dịp này, người ta có thể coi phụ nữ như đang tổ chức các buổi triển lãm tranh của họ, với những chiếc bánh ngọt đóng vai trò là các bức họa trên bàn thờ. Ai nấy đều nhấm nháp và săm soi tỉ mỉ những chiếc huy hiệu bánh nướng được nướng chín của tầng lớp quý tộc nhà hàng xóm; và mỗi người đều có chiếc bánh của mình đính kèm theo người, giống như một tấm huy chương vậy, hoặc những chiếc thẻ chì trên các kiện vải, nhằm biểu thị giá trị của nàng. Quả thực, họ hầu như chẳng ăn uống gì mấy, cà phê đặc quánh chính là thứ rượu thánh được ban phép của họ, và những chiếc bánh ngọt mỏng tang trong suốt đóng vai trò như những chiếc bánh thánh; chỉ có điều loại thứ hai (khi ở trong nhà của bạn bè và chủ nhà) có hương vị ngon nhất và được ăn gần như với sự say sưa khi chúng bị cứng như đá, trúng đạn và dao găm không thủng — hoặc bị nướng cháy thành than — hoặc nói tóm lại là dở tệ vì một nguyên nhân nào đó; họ vui vẻ thừa nhận mọi sự thất bại của những người bạn thân yêu nhất, rồi tìm cách an ủi họ bằng cách đưa họ về nhà mình và đãi họ một món gì đó hoàn toàn khác biệt.

Còn về phần Lenette của chúng ta, cô độc giả quý mến ạ, nàng từ trước đến nay vẫn luôn là một thợ làm bánh theo kiểu mà những người sành ăn phái nam luôn ưu ái phần vỏ giòn của nàng, còn những người sành ăn phái nữ lại chuộng phần ruột mềm của nàng, cả hai tầng lớp đều khẳng định rằng chẳng có ai ngoài nàng (và chính bạn đây, người yêu quý nhất) có thể nướng ra được những thứ tương tự như thế. Ngọn lửa nhà bếp chính là nguyên tố thứ hai của nữ thủy quái này, bởi vì nguyên tố đầu tiên và nguyên tố bản ngã của nàng chính là nước. Công việc cọ rửa bằng cát, rồi bơi lội tung tóe và bắn tung tóe trong làn nước tại một cơ ngơi lớn như nhà Siebenkæs (nơi đã dành toàn bộ số tiền vàng Ephraimite của Leibgeber để chi cho việc tổ chức ngày lễ này) chính là thiên bẩm của nàng. Chẳng một nụ hôn nào có thể đặt lên khuôn mặt đang bừng sáng của nàng vào một ngày như thế — và quả thực nàng có bận tất bật với cả đống việc, bởi vì vào lúc mười giờ, người hàng thịt lại mang thêm chiến lợi phẩm tới.

Thế gian chắc hẳn sẽ rất vui mừng (tôi hoàn toàn chắc chắn trong thâm tâm mình) nếu tôi tường thuật lại cho họ một cách cực kỳ ngắn gọn về vụ việc này — nói cho cùng thì còn ai có thể làm tốt hơn cơ chứ? Sự tình cụ thể là thế này: vào đầu mùa hè, bốn người bạn cùng thuê chung một căn nhà đã hùn tiền mua một con bò đang trong tình trạng ốm yếu rồi đem về vỗ béo. Người thợ đóng sách, người thợ giày, luật sư của người nghèo và người thợ hớt tóc — giữa anh ta và những người thuê nhà có một điểm khác biệt thế này, đó là họ nợ tiền thuê nhà anh ta, trong khi anh ta lại nợ tiền các chủ nợ của mình — đã yêu cầu soạn thảo và trả trước thù lao qua một bàn tay khéo léo (thuộc về cánh tay của Siebenkæs) một văn bản đích thực (tại đây nhà thuần ngữ học KOLBE sẽ lại càu nhàu với tôi, kẻ ngây thơ tội nghiệp, theo cách quen thuộc của ông ta vì tội dùng từ nước ngoài trong một văn bản dựa trên luật La Mã) liên quan đến sự sống và cái chết của con bò; trong văn bản đó, bốn bên ký kết vừa nêu — tất cả đều đứng vây quanh văn bản một cách chăm chú, ngoại trừ người đang ngồi cầm bút viết — đã ràng buộc và cam kết với nhau theo điều khoản sau đây, nghĩa là:—

Thứ nhất. Mỗi bên trong số bốn bên có quyền lợi, như đã nêu trên, đối với con bò được phép và phải có đặc quyền vắt sữa nó luân phiên nhau.

Thứ ba. Hội đồng Nấu nướng hay Vỗ béo này được phép và phải trang trải từ quỹ chung giá cả của con bò, chi phí vận chuyển dụng cụ và lương thực, cũng như chi phí duy trì nói chung của nó; và

Thứ ba. Các thế lực đồng minh như đã nêu trên không chỉ vào ngày trước lễ Michael, ngày 28 tháng 9 năm 1785, sẽ giết mổ con bò đó, mà hơn thế nữa, mỗi phần tư của nó khi đó và tại đó sẽ được chia tiếp thành bốn phần tư, phù hợp với đạo luật ruộng đất lex agraria, để phân chia giữa các bên tham gia hợp đồng nói trên.

Siebenkæs đã chuẩn bị bốn bản sao được chứng thực hợp lệ của hiệp ước này, mỗi người một bản; chưa bao giờ chàng viết bất cứ điều gì với niềm vui sướng lớn lao hơn thế. Tất cả những gì còn lại phải thực hiện của hợp đồng đối với hiệp hội gia đình gồm bốn vị tông đồ của chúng ta — những kẻ đã tập thể chọn lấy một biểu tượng gia huy hoặc loài vật biểu trưng duy nhất là một con thú chung vốn, cụ thể là con cái của con vật thuộc về Thánh Luke — chính là điều khoản thứ ba của nó.

Tuy nhiên, tôi biết các bậc học giả đang thở hổn hển chờ đợi hội chợ của tôi, thế nên tôi sẽ chỉ vạch ra một phác thảo vội vã về bức tranh Người-và-Thú của mình (Kolbe tất nhiên vẫn tiếp tục chỉ trích tôi).

Tên đồ tể khét tiếng thời cách mạng ấy đã hoàn thành phần việc của mình khá tốt, dẫu đó là vào thời điểm kết thúc tháng Fructidor — bốn người bạn cùng bàn ăn đứng quan sát toàn bộ quá trình phẫu thuật, cũng như mụ Sabine già, người đã đóng góp rất nhiều và cũng nhận được một ít thù lao từ đó. Liên minh bốn nước đã mở tiệc ăn mừng trên thân xác con vật bị giết thịt trong một buổi dã ngoại chung, nơi mỗi người đóng góp một phần để tên đồ tể được tham gia miễn phí; và không thể chối cãi rằng có một thành viên trong liên minh, người mà tôi sẽ nêu tên sau đây, đã tham gia buổi dã ngoại này với một tâm trạng và một bộ trang phục hầu như không đủ vẻ trang nghiêm cho dịp đó. Sau đó, liên minh giết mổ tiến hành bài toán chia chéo của mình, tùy theo số lượng thành viên, và con bê vàng quanh điệu nhảy của họ được xẻ thịt với những nhát cắt mang đậm tính chất phù hiệu. Thế rồi toàn bộ sự việc cũng chấm dứt. Tôi nghĩ mình chẳng thể nói gì ca ngợi hơn về cách thức mà toàn bộ quá trình phân chia động vật học được thực hiện ngoài những gì chính Siebenkæs, một bên có quyền lợi liên quan, đã tự nói, đó là: “Thật đáng ao ước biết bao nếu mười hai chi tộc Y-sơ-ra-ên, cũng như vào thời kỳ sau này là đế quốc La Mã, được chia thành nhiều phần và công bằng như con bò và đất nước Ba Lan của chúng ta.”

Tôi sẽ làm sáng tỏ đầy đủ độ béo tốt của con bò nếu tôi chỉ nhắc đến việc thợ giày Fecht đã thốt lên một bài điếu văn bắt đầu bằng những lời thề thốt sống động và mạnh mẽ nhất cùng tuyên bố rằng nó là một cái túi da bọc xương (dùng tính từ), và kết thúc bằng một sự quả quyết được thốt lên bằng giọng điệu ôn hòa và sùng đạo rằng Thiên đường quả thực đã ban phước cho con vật tội nghiệp, và “ban ơn cho chúng ta, những kẻ tội nhân bất xứng, vượt qua mọi mức độ.” Là một kẻ có bản tính ham chơi đùa, anh ta đã bị trói buộc vào cỗ xe ngựa nặng nề của chủ nghĩa sùng đạo và do đó buộc phải liên tục làm dịu bớt “ngôn từ mạnh mẽ” vốn xuất phát từ bản năng của mình thành những tiếng thở dài sùng đạo thích hợp với “trạng thái đã cải đạo” của mình. Và chính tâm trạng lẫn trang phục của chính cái gã FECHT này là điều mà tôi đã ám chỉ ở trên là hầu như không phù hợp với hoàn cảnh, bởi vì tôi rất tiếc phải nói rằng suốt cả ngày giết mổ lớn đó, y chẳng thèm mặc quần đái gì cả, mà cứ chạy ngược chạy xuôi trong lò mổ với chiếc áo choàng bằng vải thô màu trắng của vợ, tạo nên một hiệu ứng tổng thể kỳ lạ trông giống hệt như một nửa tốt đẹp hơn của chính mình. Tuy nhiên, các thành viên trong hội chẳng mảy mai lấy làm phật ý; anh ta không thể làm khác được, bởi vì trong lúc đang đi dạo với bộ trang phục nửa kín nửa hở kiểu nữ chiến binh Amazon này và mang vẻ ngoài ái nam ái nữ ấy, thì đôi ống bọc chân bằng da màu đen của chính anh ta đang nằm trong vạc thuốc nhuộm để chuẩn bị cho một đợt phát hành mới.

Viên luật sư của người nghèo đã nài nỉ Lenette (vào khoảng bốn giờ rưỡi chiều) đừng có tiếp tục làm việc đến mức kiệt sức như thế, và đừng bận tâm lo lắng về bất kỳ bữa tối nào nữa, vì hôm nay chàng sẽ keo kiệt một lần, tự tiết kiệm bữa tối cho mình và chỉ ăn chừng mười tám xu bánh ngọt: nhưng người vợ chăm chỉ cứ chạy đi chạy lại quét dọn chùi rửa, và đến sáu giờ thì cả hai đã nằm nghỉ ngơi trong đôi tay bọc da của — một chiếc ghế bành lớn (bởi vì chàng chẳng có lấy chút thịt còn nàng chẳng có lấy một cái xương nào), và nhìn xung quanh với biểu cảm hạnh phúc bình yên mà bạn có thể bắt gặp ở trẻ em đang ăn uống, nhìn căn phòng trong trạng thái trật tự toán học, nhìn cách mọi thứ trong đó đang tỏa sáng, nhìn những chiếc bánh ngọt hình trăng lưỡi liềm non trên tay họ, và nhìn thứ ánh sáng vàng rực rỡ lấp lánh (hoặc đúng hơn là vàng lá mỏng[26]) của ánh mặt trời buổi chiều tà đang bò dần lên trên những chiếc đĩa thiếc lấp lánh. Ở đó họ nằm nghỉ ngơi và thư giãn hệt như những đứa trẻ trong nôi, với tiếng la hét, khua khoảng của mười hai kỳ công Hercules của những người còn lại trong nhà vang lên khắp xung quanh họ; và sự quang đảng của bầu trời cùng những khung cửa sổ vừa được lau chùi sạch sẽ đã cộng thêm hẳn nửa tiếng đồng hồ vào độ dài của ngày; chiếc búa chuông hoặc búa điều chỉnh của tiếng chuông giới nghiêm nhẹ nhàng hạ thấp cao độ những ước nguyện du dương của họ cho đến khi chúng chìm dần vào những giấc mơ.

Vào lúc mười giờ, họ tỉnh dậy và đi ngủ...!

Bản thân tôi rất thích bức tranh đêm đầy sao nhỏ bé này; mặc dù đầu óc tôi đã phản chiếu nó một cách mờ ảo và lạc tiêu cự, hệt như mặt bán cầu bằng vàng trên chiếc đồng hồ của tôi phản chiếu ánh nắng chiều khi tôi giơ nó lên hướng về phía mặt trời. Hoàng hôn là thời điểm mà những con người mệt mỏi, bị săn đuổi chúng ta khao khát được nghỉ ngơi; chính vì buổi chiều của ngày, vì buổi chiều của năm (mùa thu), và vì buổi chiều của cuộc đời, mà chúng ta tích lũy những mùa gặt hái nhọc nhằn của mình, với những niềm hy vọng sục sôi biết bao! Nhưng bạn đã bao giờ nhìn thấy trên những cánh đồng, khi hoa màu đã được thu gom, một hình ảnh và biểu tượng của chính mình — ý tôi là cúc dại mùa thu, loài hoa của mùa gặt; nó trì hoãn việc nở hoa cho đến khi mùa hè đã qua đi và kết thúc, những bông tuyết mùa đông phủ kín lấy nó trước khi quả của nó xuất hiện, và phải đến tận mùa xuân tới thì quả ấy mới chín muồi!

Nhưng hãy nhìn xem những con sóng gầm rú, cuồn cuộn của buổi sáng ngày hội chợ đang đập vào các cột giường của người hùng chúng ta như thế nào! Chàng bước vào căn phòng trắng tinh, lấp lánh, nơi Lenette đã lén lút trốn khỏi giường như một tên trộm trước nửa đêm để cọ rửa trong lúc chàng đang say giấc nồng, và rắc cát khắp nơi hệt như ở xứ Ả Rập; bằng cách đó nàng có được ý của mình trong khi chàng có được ý của chàng. Vào buổi sáng ngày hội chợ, tôi khuyên mọi người hãy mở cửa sổ và nhoài người ra ngoài, giống như Siebenkæs đã làm, để theo dõi quá trình dựng lên và thuê mướn nhanh chóng những chiếc quầy gỗ ở quảng trường chợ, cùng những giọt đầu tiên của cơn hồng thủy người sắp đổ bộ tới, chỉ có điều xin độc giả hãy lưu ý rằng đó không phải là lời khuyên của tôi khi người hùng của tôi, trong sự kiêu ngạo của sự giàu có (bởi vì có các mẫu của đủ mọi loại bánh ngọt mà ngôi nhà chứa đựng trên một chiếc bàn phía sau chàng), đã cất giọng gọi với xuống rất nhiều sâu bướm quý tộc màu xanh nhỏ bé mà chàng thấy đang di chuyển dọc theo con đường với sự kiêu ngạo thậm chí còn lớn hơn cả của chính chàng, và lịch sử tự nhiên của chúng là điều mà chàng cảm thấy có hứng thú muốn tìm hiểu qua một cái nhìn vào khuôn mặt chúng.

“Này anh bạn, anh có phiền không khi nhìn vào ngôi nhà kia, cái ngôi nhà ở đằng ấy — anh có nhận thấy điều gì đặc biệt không?”

Nếu con sâu bướm ngước bộ mặt của nó lên, chàng có thể quan sát và nghiên cứu nó một cách thoải mái — đó tất nhiên là mục đích của chàng.

“Anh không nhận thấy điều gì đặc biệt ư?” chàng sẽ hỏi.

Khi con côn trùng lắc đầu, chàng liền đồng tình với nó, và làm điều tương tự ở cửa sổ, nói rằng:

“Không, tất nhiên là không rồi! Bản thân tôi đã ngắm nghía nó suốt mười hai tháng qua và chẳng thấy có gì đặc biệt về nó cả; nhưng tôi đã không muốn tin vào đôi mắt của chính mình.”

Firmian đầu óc bã đậu! Bọt hưng phấn đang sủi sục của bạn có thể sẽ sớm sụt xuống và biến mất — giống như vào thứ Bảy tuần đó khi những tấm danh thiếp được để lại. Tuy nhiên, hiện tại, giọt nước nho ép mà chàng vừa vắt ra từ những giờ buổi sáng vẫn đang sủi bọt và lấp lánh một cách sôi nổi. Chủ nhà di chuyển với tốc độ phi nước đại, gieo rắc (bằng cỗ máy gieo bột phấn của mình) hạt giống vào một mảnh đất màu mỡ. Người thợ đóng sách vận chuyển hàng hóa của mình (bao gồm một phần là sổ tay trống, một phần là sách hát còn trống hơn, một phần là “những món mới lạ” trong các cuốn lịch) đến hội chợ bằng xe đẩy tay, anh ta phải đi hai chuyến khi đi, nhưng chỉ một chuyến khi trở về vào buổi tối, bởi vì lúc đó anh ta đã tống khứ hết số lịch của mình cho người mua và người bán (lịch chính là món mới lạ vĩ đại nhất trong số mọi món mới lạ, hay những mẩu tin tức — bởi vì chẳng có gì trong suốt dòng chảy dài đằng đẵng của thời gian lại mới mẻ bằng năm mới). Mụ Sabel già đã dựng lên cửa hàng Đông Ấn, kho vựa trái cây và tủ trưng bày vòng nhẫn thiếc của mụ ngay tại cổng thị trấn; mụ đời nào chịu nhượng lại cái kho hàng ấy cho ruột thịt của mình với mức giá thấp hơn nửa đồng vàng sovereign. Người thợ giày chẳng thề đụng một mũi kim vào bất kỳ đôi giày nào trong ngày lễ Thánh Michael này ngoại trừ đôi của vợ mình.

Hãy cứ mút lấy, hỡi người hùng của tôi, miếng đường tinh luyện tuyệt ngon của cuộc đời, và hãy cạn sạch chiếc thìa đồ ngọt buổi sáng của bạn, đừng có bận tâm đầu óc đến quỷ vương và bà nội hắn, dẫu cho đôi gã đó có đang mưu tính (theo bản chất của chúng) việc chuẩn bị sẵn một liều thuốc đắng, thậm chí là một chén độc dược, rồi trao tận tay cho bạn.

Nhưng niềm vui lớn nhất của chàng vẫn còn ở phía trước, đó chính là vô số những kẻ ăn mày. Tôi sẽ miêu tả niềm vui này, và phân phối nó ra.

Một phiên hội chợ chính là thánh lễ trọng mà những kẻ ăn mày đủ mọi thành phần và giai cấp tham gia; khi nó còn cách đó một hoặc hai ngày, tất cả những gan bàn chân chẳng có gì để cất bước ngoài những trái tim trắc ẩn đều đang hội tụ về một điểm giống như rất nhiều bán kính hình tròn, nhưng vào chính buổi sáng ngày hội chợ, toàn bộ đại hội thường niên của giới ăn mày cùng đoàn quân tàn tật đã chính thức xuất quân. Bất kỳ ai từng nhìn thấy Fürth, hoặc từng đến Elwangen dưới thời cai trị của P. Gassner, đều có thể xé vài trang này ra khỏi bản sao của mình; nhưng bất kỳ ai khác đều chẳng thể có nổi một khái niệm nào cho đến khi tôi tiến bước và dẫn anh ta qua cổng thị trấn Kuhschnappel.

Dịch vụ hợp xướng đường phố và các bản serenade bằng giọng hát lúc bấy giờ chính thức bắt đầu. Những kẻ mù hát hò như những chú chim sơn ca bị chọc mù — hay hơn, nhưng lớn tiếng hơn; những kẻ què bước đi; người nghèo tự mình rao giảng phúc âm; kẻ điếc kẻ câm tạo ra thứ âm thanh khủng khiếp, và gióng lên ngày hội bằng những chiếc chuông nhỏ — ai nấy đều hát giai điệu của riêng mình giữa muôn vàn giai điệu của người khác — một kinh lạy cha đang lăng xăng khua vang trước cửa mỗi ngôi nhà, và ở những căn phòng bên trong chẳng ai có thể nghe rõ tiếng chính mình đang chửi thề. Toàn bộ những chiếc hộp đựng tiền đồng lẻ được vung vãi bên này, rồi đút túi bên kia. Đám lính một chân điểm xuyết những lời cầu nguyện thỉnh cầu của chúng bằng những lời nguyền rủa, và nguyền rủa một cách kinh hoàng, bởi vì người ta không cho chúng đủ tiền — tóm lại, cái thị trấn vốn đã quyết tâm tận hưởng một ngày vui chơi nay đang bị xâm chiếm và gần như bị đánh chiếm bởi đám đông khấn khứa ăn mày.

Và giờ đây, những kẻ tật nguyền và đau bệnh bắt đầu xuất hiện. Bất kỳ ai mang bên dưới mình một chiếc chân giả bằng gỗ hội đồng liền đặt nó cùng với chiếc chân thứ ba dài dỏng và là cộng sự đắc lực của nó là chiếc nạng, chuyển động hướng về phía Kuhschnappel, rồi đâm thẳng và cắm phập ngón chân gỗ nhọn hoắt của mình xuống lớp đất ẩm ướt ở đó vùng lân cận cổng thị trấn, với hy vọng nó sẽ đâm chồi nảy lộc. Bất cứ kẻ nào không còn cánh tay hay đôi bàn tay nào nữa liền dang rộng cả hai để xin bố thí. Những kẻ mà Thiên đường đã trao phó cho "tài năng" ăn mày, bệnh tật, trên hết là chứng tê liệt, chứng hơi hám của kẻ ăn mày — buôn bán bằng tài năng của mình và cái thân xác đi kèm với nó, thu thuế bằng thứ đó từ những kẻ lành lặn và mạnh khỏe. Những người có thể đứng làm trang bìa cho các tác phẩm phẫu thuật và y học, hoàn toàn thích hợp chẳng kém gì ở các cổng thành, liền chiếm lấy vị trí của mình gần đó và thông báo những gì họ còn thiếu, mà trước hết và quan trọng nhất chính là tiền mặt của người khác. Có rất nhiều chân, mũi và tay ở Kuhschnappel, nhưng số người còn đông hơn thế rất nhiều. Có một gã kỳ lạ vô cùng — (đáng để chiêm ngưỡng từ xa, dù không thể nào sánh kịp — được nhìn với ánh mắt ganh tị, dẫu thực chất chỉ bởi những tâm hồn thấm đẫm giấy thấm kiểu chẳng bao giờ có thể chứng kiến sự xuất sắc tối cao mà không khao khát sở hữu nó); chỉ có một nửa con người hắn ở đó, bởi vì nửa kia đã nằm sẵn trong mồ, toàn bộ những thứ có thể gọi là chân đã bị bắn nát bét hoàn toàn; và những phát đạn đó đã đẩy hắn vào vị thế vừa độc quyền vừa tự nhận lấy chức vị thủ lĩnh kiêm tướng quân tối cao của đám tàn tật, để rồi được kéo đi trên một chiếc xe khải hoàn như một dạng á thần, kẻ mà thay cho chiếc áo khoác bằng da thịt, linh hồn lại chỉ khoác hờ một thứ áo choàng ngắn và áo chẽn. “Một người lính,” Siebenkæs nói, “vẫn còn mang một chiếc chân bị tật nguyền, và vì lý do đó mà lớn tiếng trách móc vận mệnh, thắc mắc với nàng rằng: ‘Tại sao ta không bị bắn nát bét như gã tàn tật kia, để ta có thể kiếm được nhiều tiền trong ngày như hắn?’ dường như quên mất rằng ở phía bên kia vấn đề còn có hàng ngàn chiến binh khác ngoài hắn, những kẻ thậm chí còn chẳng có lấy nổi một chiếc chân gỗ (chứ đừng nói đến nhiều hơn), mà hoàn toàn không được trang bị dù chỉ là một chứng nhận cứu hỏa và ăn mày tối thiểu nào; hơn thế nữa, dù hắn có thể bị tước đoạt bao nhiêu bộ phận cơ thể đi nữa bởi đạn pháo, hắn vẫn có thể tiếp tục chất vấn rằng: ‘Tại sao lại không nhiều hơn nữa chứ?’”

Siebenkæs cảm thấy vui vẻ trước những người nghèo bởi vì họ vui vẻ với chính bản thân họ; và chàng không bao giờ chịu gây ra một cuộc cãi vã kinh tế chính trị nào về việc thỉnh thoảng họ chè chén say sưa và nốc ao một chút — khi, chẳng hạn, một chiếc xe cứu thương hay xe nhà thương dã chiến chở đầy họ, dừng lại ở túp lều của một người chăn cừu nào đó, họ bước xuống, đi vào, và những miếng cao dán, những chiếc mão tử đạo, những chiếc đai gai và áo tế thần của họ rơi ra, chẳng để lại gì ngoài một con người sống động, lanh lợi vừa ngừng thở dài chỉ trong chốc lát; — hoặc — vì mục đích mà mọi người lao động hướng tới không chỉ là để sống, mà là để sống tốt hơn một chút thỉnh thoảng — khi kẻ ăn mày cũng có được một thứ gì đó ngon hơn bữa ăn thường ngày của mình, và khi kẻ tàn tật kéo nữ thần hân hoan vào trong nhà kho khiêu vũ lát ván của mình để nhảy múa cùng hắn như một bạn nhảy và chiếc mặt nạ nóng bỏng của nàng rơi ra trong điệu nhảy waltz (còn đối với các phòng khiêu vũ của chúng ta, nó chẳng bao giờ rơi ra nổi ở đó cả).

Vào khoảng mười một giờ, ác ma, như tôi đã hé lộ một nửa từ trước, bèn thả một nắm ruồi xanh vào bát súp cưới của Firmian — cụ thể là ngài Rosa von Meyern, kẻ đến để ngầm thông báo ý định quý tộc của mình là sẽ ghé qua thăm vào buổi chiều hôm đó, “bởi vì từ đó có tầm nhìn rất đẹp ra quảng trường chợ.” Những kẻ quý tộc nghèo túng, những kẻ chẳng thể ban hành mệnh lệnh ở bất kỳ ngôi nhà nào khác ngoài nhà của chính mình, thường tự thiết kế trong ngôi nhà của mình, với sự dễ dàng lớn lao, những khe châu mai từ đó chúng có thể nả pháo vào kẻ thù đang phát động cuộc tấn công từ — bên trong. Viên luật sư có sẵn một hành vi thô lỗ đối với ngài Venner để đặt lên bất kỳ đĩa cân công lý nào của mình, nhằm xác định đâu là điều nhẹ hơn trong hai điều. Một là, nhắn lại rằng hắn có thể ở yên chỗ cũ; hai là, cho phép hắn bước vào, rồi cư xử hệt như thể cái tên ngốc nghếch đó đang ở trên mặt trăng. Siebenkæs chọn cách thứ hai vì nó nhỏ hơn.

Phụ nữ, những tâm hồn thiện lương, lúc nào cũng phải gánh vác và nâng đỡ chiếc thang Jacob mà qua đó phái nam trèo lên bầu trời xanh thẳm và chốn hoàng hôn rực rỡ; chuyến ghé thăm này của ngài Venner giáng xuống như một khối hàng hóa quá tải đè nặng lên hai cây đòn gánh đôi tay của Lenette. Công cuộc cọ rửa mọi tài sản di động, cùng việc phun nước lên mọi thứ bất động, lại được tái khởi động. Meyern, kẻ tình nhân giả dối của cô gái tội nghiệp bị buộc tội giết con, bị Lenette căm ghét bằng cả trái tim; đồng thời, toàn bộ cỗ máy đánh bóng của nàng lập tức được khởi động trên căn phòng, quả thực, tôi nghĩ phụ nữ ăn diện và tốn nhiều công sức cho những kẻ thù nữ của họ hơn là cho những người bạn nữ.

Viên luật sư đi qua đi lại, người khoác đầy những chuỗi lập luận dài dằng dặc hệt như một bóng ma, và suýt chút nữa đã thành công trong việc tiêm nhiễm vào đầu nàng ý nghĩ rằng nàng chẳng cần phải bận tâm dù chỉ một chút xíu xiu nào đến tên ngốc nghếch đó cả. “Chẳng ích gì đâu,” nàng nói, “ông ta sẽ nghĩ về em thế nào đây?” Mãi cho đến khi nàng chuẩn bị đụng tay vào hòm thánh tích đó — chiếc bàn làm việc của chàng — sau khi đã dọn sạch khỏi phòng như một món đồ thô kệch là lọ mực cũ của chàng, nơi mà chỉ phút trước đó chàng vừa cho bột mực vào để hòa tan tạo thành mực cho tập ‘Tuyển tập từ những giấy tờ của Quỷ vương’ — chủ nhà mới lồng lộn dựng đứng trên hai chân sau, dùng chân trước chỉ thẳng về phía vạch ranh giới.

Rosa xuất hiện! Chẳng một ai có chút mềm lòng nào trong tim lại thực sự có thể nguyền rủa tên ranh con này hay nện cho hắn một trận nhừ tử; người ta ngược lại còn đâm ra có thiện cảm với hắn giữa những trò quỷ quái của hắn. Hắn có mái tóc trắng trên đầu và trên cằm, và mềm nhũn từ trong ra ngoài; và có thứ chất lỏng giống như sữa thay vì máu trong các tĩnh mạch, hệt như loài côn trùng, giống như các loài thực vật độc thường có chất dịch trắng như sữa. Hắn là một kẻ có bản tính rất dễ tha thứ, đặc biệt là đối với phụ nữ, và bản thân hắn thường rơi nhiều nước mắt hơn trong một buổi chiều ở nhà hát so với số nước mắt mà hắn từng gây ra cho bao kẻ bị hắn hủy hoại cuộc đời. Trái tim hắn thực sự không được làm bằng đá, hay đá ngầm infernalis, và nếu hắn cầu nguyện trong một khoảng thời gian nhất định, hắn sẽ trở nên sùng đạo trong suốt quá trình đó và tìm kiếm những công thức tôn giáo lâu đời nhất để bày tỏ sự quy thuận của mình ngay tại chỗ đó. Tiếng sấm đối với hắn giống như chiếc lẫy của người canh gác đêm, đánh thức hắn dậy khỏi giấc ngủ tội lỗi. Hắn thích cầm lấy bàn tay của những kẻ túng thiếu, đặc biệt là nếu bàn tay đó xinh đẹp. Xét cho cùng, có lẽ hắn sẽ sớm muộn gì cũng được lên thiên đàng; bởi vì, giống như nhiều con nợ trong giới thượng lưu xã hội, hắn không trả những khoản nợ cờ bạc, và trong trái tim hắn cũng có sẵn một lệnh cấm đấu súng và chém giết mang tính bẩm sinh. Cho đến nay hắn vẫn chưa phải là một kẻ giữ lời hứa; và nếu hắn nghèo hơn, hắn sẽ ăn trộm mà chẳng mải mớ do dự dù chỉ một giây. Giống như một con chó cảnh, hắn nằm bẹp xuống vẫy đuôi dưới chân của những kẻ có thế lực, nhưng lại giật váy phụ nữ, hoặc nhe răng gầm gừ với họ.

Những cọng rong nước mềm oặt kiểu này trượt đi trước ngay cả cái chạm châm biếm nhẹ nhàng nhất, và bạn không tài nào đánh trúng chúng được bằng một lời châm biếm, dẫu chúng xứng đáng được hưởng biết bao nhiêu, bởi vì hiệu quả của nó chỉ tương xứng với sức kháng cự mà nó gặp phải. Siebenkæs hẳn đã cảm thấy hài lòng hơn biết bao nếu von Meyern chịu thô lỗ và cộc cằn thêm một chút nữa, bởi vì chính những sinh vật dễ uốn, đáng thương, vô tích sự, thiếu sức sống kiểu này mới là kẻ cuỗm đi vận may, tiền mặt, danh dự phái đẹp, những chức vụ béo bở cùng danh thơm tiếng tốt, và chúng hoàn toàn giống như bả chuột hay thạch tín, thứ mà khi tốt và nguyên chất, phải thật trắng, lóng lánh và trong suốt.

Rosa đã xuất hiện, như tôi đã nói, nhưng ôi trời ơi, thật đáng yêu quá đỗi vượt qua mọi sự dung dưỡng của từ ngữ! Khăn tay của hắn là một cõi Molucca vĩ đại tỏa hương thơm ngào ngạt; hai lọn tóc mai hai bên là hai lọn nhỏ xíu. Trên chiếc áo ghi-lê của hắn vẽ hoàn chỉnh cả một vương quốc động vật (theo mốt thời bấy giờ), hoặc Tập bản đồ Động vật học của Zimmermann. Cái quần đùi nhỏ xíu và chiếc áo khoác nhỏ xíu của hắn, cùng mọi thứ trên người hắn, đã ướp muối những người phụ nữ trong nhà thành những cột muối kiểu Lotte, chỉ đơn thuần bằng cách lướt ngang qua họ trên đường đi lên lầu. Tôi phải nói rằng, thứ khiến cá nhân tôi lóa mắt chính là những chiếc nhẫn đính trên sáu ngón tay của hắn — có cả chân dung chạm nổi, phong cảnh, đá quý, thậm chí cả vỏ cánh bọ cánh cứng đều được tận dụng trong công cuộc bọc vàng cho những ngón tay ấy.

Chúng ta hoàn toàn có thể áp dụng một cách chính xác cho bàn tay con người biểu cảm “nó được đóng móng bằng nhẫn hệt như móng guốc của ngựa,” biểu cảm này từ lâu đã được áp dụng cho chính móng guốc của ngựa, và Daubenton đã chứng minh, thông qua các cuộc mổ xẻ, rằng móng guốc chứa đựng tất cả các phần khác nhau của bàn tay con người. Việc sử dụng những chiếc cùm tay hay cùm ngón tay này là hoàn toàn đúng đắn và được cho phép; quả thực nhẫn là thứ không thể thiếu đối với những ngón tay của những kẻ theo lẽ phải nên bị xỏ mũi. Theo quan điểm được thừa nhận, những khối u xương kim loại hoặc dị tật móng tay này chỉ được phát minh ra để làm cho những bàn tay đẹp trở nên xấu xí, như một dạng xiềng xích và khuyên mũi để kìm hãm sự kiêu ngạo; nhờ đó những nắm đấm vốn dĩ xấu xí theo tự nhiên có thể dễ dàng bỏ qua những sự biến dạng này. Tôi rất muốn biết liệu có điều gì trong một ý tưởng khác của tôi xoay quanh chủ đề này hay không. Đó là thế này. Pascal từng đeo một chiếc vòng sắt lớn có những chiếc gai nhọn quấn quanh cơ thể trần trụi của mình, để ông có thể luôn sẵn sàng trừng phạt bản thân vì bất kỳ ý nghĩ kiêu ngạo nào có thể xuất hiện bằng cách siết nhẹ chiếc vòng này lại; vậy thì liệu có phải những chiếc nhẫn nhỏ hơn và đẹp hơn này theo một cách tương tự trừng phạt bất kỳ ý nghĩ kiêu ngạo nào có thể xuất hiện, bằng cách gây đau nhẹ nhưng thường xuyên hay không? Ít nhất chúng dường như được đeo với một mục đích nào đó tương tự, bởi vì chính xác là những kẻ khốn khổ vì sự kiêu ngạo nhất lại là những kẻ đeo nhiều nhẫn nhất và cử động đôi bàn tay đầy nhẫn của chúng nhiều nhất.

Những chuyến viếng thăm không được chào đón thường diễn ra suôn sẻ hơn những chuyến khác; trong dịp này mọi thứ đều diễn ra khá thoải mái. Siebenkæs tất nhiên đang ở trong ngôi nhà của chính mình — và cư xử cho phù hợp. Cả y và ngài Venner cùng nhìn ra ngoài cửa sổ ngắm nhìn dòng người ở quảng trường chợ. Lenette, tuân theo sự giáo dục cùng phong tục tập quán của tầng lớp trung lưu ở các thị trấn nhỏ, không dám tỏ ra bất cứ điều gì ngoài sự im lặng, hoặc tối đa là đảm nhận một vai trò đệm lót, tòng phạm thứ yếu trong buổi hòa nhạc của một cuộc trò chuyện giữa những người đàn ông; nàng chạy đi chạy lại bưng bê, và thực tế là ngồi phần lớn thời gian ở tầng dưới cùng với những người phụ nữ khác. Mọi nỗ lực của chàng Rosa Everard nhã nhặn, hào hoa nhằm áp dụng lên nàng những bùa phép phù thủy quen thuộc của hắn nhằm khiến phụ nữ chết chân tại chỗ đều trở thành vô ích. Với chồng nàng, hắn ta phàn nàn rằng ở Kuhschnappel có rất ít sự tinh tế thực sự, và chẳng có lấy một nhà hát nghiệp dư nào để người ta có thể diễn xuất, như ở Ulm. Hắn ta phải đặt mua sách mới và mốt thời trang mới nhất từ nước ngoài.

Để đáp lại, Siebenkæs chỉ bày tỏ với hắn niềm vui của mình trước — đám ăn mày ở quảng trường chợ. Chàng bắt hắn chú ý đến những cậu bé đang thổi kèn gỗ màu đỏ, kêu to điếc cả tai, nếu không muốn nói là làm sập cả tường thành Jericho. Nhưng chàng bổ sung thêm, với sự suy nghĩ chu đáo đúng mực, rằng hắn không nên bỏ qua những kẻ khốn khổ khác đang thu gom những mảnh gỗ xẻ vụn trong mũ của chúng để làm củi đốt. Chàng hỏi hắn xem, liệu giống như các thành viên khác trong phòng họp, hắn có phản đối các trò chơi xổ số và lotto hay không, và liệu hắn có nghĩ rằng việc đám đông dân thường Kuhschnappel tụ tập quanh một cái thùng cũ lật úp, với một chiếc kim chỉ nam gắn ở đáy quay tròn trên một mặt đồng hồ làm bằng bánh gừng và các loại hạt, nơi những người hóp vốn, với cái giá cược nhỏ bé, rinh về từ chủ ngân hàng của cơ sở, một mụ mụ già tham lam, một hạt dẻ hay một cái bánh gừng là điều rất tồi tệ đối với đạo đức của họ hay không. Siebenkæs tìm thấy niềm vui trong những điều nhỏ nhặt bởi vì trong mắt chàng, đó là chiếc gương cầu lồi châm biếm, biếm họa thu nhỏ của mọi thứ mang hình hài của sự phô trương tư sản. Ngài Venner chẳng nhìn thấy chút giải trí nào trong những ẩn dụ mang ý nghĩa kép kiểu như vậy; nhưng thực ra viên luật sư chưa bao giờ mơ tưởng đến việc giải trí cho bất kỳ ai ngoài chính bản thân mình với chúng. “Tôi hoàn toàn có quyền thốt lên bất cứ điều gì tôi thích với chính mình,” chàng từng nói; “tôi quan tâm gì đến việc người ta chọn lắng nghe sau lưng tôi, hay thậm chí ngay trước mặt tôi chứ?”

Cuối cùng chàng cũng đi xuống giữa đám đông ở quảng trường chợ, không quên sự đồng tình hoàn toàn của ngài Venner, kẻ hy vọng cuối cùng cũng có thể có được một cuộc trò chuyện hợp lý với người vợ. Giờ đây khi Firmian đã đi vắng, Everard bắt đầu cảm thấy mình ở đúng môi trường, tựa như con cá đuối đang bơi lội trong cái ao nuôi cá chép của chính mình. Như một bước đi mở màn, hắn dựng lên cho Lenette một mô hình thu nhỏ về thị trấn quê hương nàng; hắn biết khá nhiều con đường và con người ở Augspurg, từng cưỡi ngựa qua khu Fuggery, và có cảm giác như mới ngày hôm qua thôi, hắn nói, khi hắn thấy nàng ở đó đang làm việc trên chiếc mũ của một quý cô, bên cạnh một bà cụ đáng kính, có lẽ là mẹ nàng. Hắn cầm lấy bàn tay phải của nàng (một cách vô tình), nàng ngoan ngoãn để mặc hắn làm thế vì lòng biết ơn khi hắn gợi lại những ký ức dễ chịu đó — hắn siết nhẹ — rồi đột nhiên buông ra để xem liệu nàng có vừa siết lại dù chỉ một chút xíu xiu nào hay không, hệt như trong sự bối rối của các ngón tay — hoặc tìm cách lấy lại cái siết tay đã mất. Nhưng hắn thà siết chặt bàn tay bằng sắt của Götz von Berlichingen bằng ngón cái đạo tặc của mình còn hơn là bàn tay ấm áp của nàng. Tiếp đó hắn chuyển sang chủ đề công việc làm mũ của nàng, và bàn về mốt mũ nón hệt như một kẻ rành rỏi về lĩnh vực đó; trong khi đó khi Siebenkæs tự nhúng tay vào những câu hỏi này, chàng chẳng hề thể hiện chút kiến thức thực tế nào về chủ đề này cả. Hắn hứa sẽ mang đến cho nàng hai đơn hàng, gồm các mẫu từ Ulm và các khách hàng từ Kuhschnappel. “Tôi quen biết vài quý cô buộc phải làm theo những gì tôi yêu cầu,” hắn nói, đồng thời chìa ra danh sách các lịch hẹn tham dự các buổi vũ hội mùa đông sắp tới trong cuốn sổ tay của mình; “tôi sẽ không nhảy cùng họ nếu họ không đặt hàng ở chỗ cô.” “Em hy vọng chuyện đó sẽ không xảy ra,” Lenette nói (mang nhiều ẩn ý). Cuối cùng, hắn đành phải nài nỉ nàng cho hắn xem nàng làm việc trong chốc lát, mục đích của hắn ở đây là làm suy yếu kẻ thù bằng cách tạo ra một sự đánh lạc hướng các lực lượng của nàng — đôi mắt bận rộn với cây kim, nàng sẽ chỉ có thể rảnh rỗi đôi tai để quan sát hắn mà thôi. Nàng đỏ bừng mặt khi cầm lấy hai chiếc ghim băng và cắm một chiếc vào chiếc gối cắm ghim tròn vo đỏ chót ở — miệng mình; điều này vượt quá giới hạn mà hắn có thể cho phép, nó quá ư nguy hiểm — nó tạo ra một hàng rào chống lại chính hắn — và nàng có thể nuốt chửng chiếc dao găm đang nhắc tới, hoặc ít nhất là một phần chất đồng xanh độc hại bám trên đó. Thế nên hắn đã tự tay rút thứ vũ khí chí mạng này ra khỏi cái vỏ bao là đôi môi nàng, làm xước nhẹ cái miệng hình quả anh đào hoặc không hề xước chút nào — như hắn lớn tiếng than vãn — trong quá trình đó. Một gã venner đúng điệu tự cho bản thân có trách nhiệm trong một trường hợp kiểu này đối với các khoản phí tổn và chi phí phát sinh từ tai nạn; bằng sự hào phóng của mình, Everard liền lấy ra loại pomade bằng sáng chế của Anh, bôi một ít lên ngón trỏ trái của mình, rồi thoa lớp thuốc mỡ lên vết thương vô hình bằng ngón tay như một chiếc bay thợ hồ — trong lúc làm việc đó hắn buộc phải nắm lấy toàn bộ bàn tay nàng làm cán cho chiếc bay, và thường xuyên vô tình siết chặt nó lại. Hắn cắm cái ghim băng xui xẻo đó lên ngực áo của mình, đổi lại bằng cách tặng chiếc trâm cài ngực của chính hắn cho nàng, đồng thời phơi bày phần ngực trắng ngần mềm mại của chính hắn trước — cái lạnh. Tôi đặc biệt thỉnh cầu những cá nhân có kinh nghiệm trong thể loại dịch vụ này hãy đưa ra ý kiến với sự vô tư kiên quyết về hành vi của người hùng tôi, và khi ngồi ghế hội đồng quân thẩm phán xét xử hắn, hãy chỉ ra những cử động và tâm trạng nào của hắn mà họ cho là kém khôn ngoan.

Giờ đây khi nàng đã bị thương, tội nghiệp chưa, hắn không đời nào cho nàng tiếp tục làm việc nữa, mà bắt nàng chỉ cho hắn xem những sản phẩm đã hoàn thành của nàng. Hắn đặt làm một bản sao của một trong số chúng cho Madame von Blaise. Hắn nài nỉ nàng đội thử nó lên và cho hắn xem khi nó ngự trị trên đầu nàng — và chính hắn là người chỉnh sửa nó hệt như cách mà Madame von Blaise sẽ đội. Có trời mới biết! Nó thậm chí còn đẹp hơn cả những gì hắn từng tưởng tượng; hắn thề rằng nó sẽ hợp với Madame von Blaise chẳng kém gì, vì bà ấy có chiều cao y hệt như Lenette. Đây toàn là những lời nhảm nhí vớ vẩn, thực ra người này cao hơn người kia hẳn nửa cái mũi. Chính Lenette đã nói thế, nàng từng nhìn thấy Madame von Blaise ở nhà thờ. Rosa vẫn giữ nguyên quan điểm của mình, và thề trên linh hồn cùng sự cứu rỗi của mình (bởi trong những trường hợp kiểu này hắn rất hay dùng những ngôn từ báng bổ), và trên cả bí tích, rằng hắn đã tự mình đo đạc với bà ấy hàng trăm lần, và rằng bà ấy cao hơn hắn nửa inch. “Vì trời đất!” hắn nói, đột ngột chồm dậy, “tất nhiên là tôi mang theo số đo của bà ấy bên mình rồi, hệt như thợ may của bà ấy vậy; tất cả những gì cần làm là cô và tôi đứng cạnh nhau để đo đạc.”

Tôi sẽ không giấu giếm các cô gái nhỏ một quy tắc chiến tranh vàng ngọc do chính tôi đúc kết ở đây, “Đừng tranh luận lâu với đàn ông, bất kể đó là vấn đề gì — sự ấm áp lúc nào cũng là sự ấm áp, ngay cả khi nó chỉ là sự ấm áp của tranh luận — người ta sẽ quên mất bản thân mình, và cuối cùng sẽ chuyển sang chứng minh bằng các hình thức tam đoạn luận, và đây chính là điều mà kẻ thù muốn — hắn biến những hình thức này thành các hình thức thi ca — cuối cùng thậm chí thành các hình thức điêu khắc.”

Lenette, hơi choáng váng trước cơn lốc sự kiện diễn ra dồn dập, ngoan ngoãn đứng dậy để làm tiêu chuẩn tuyển quân cho tên lính mới Rosa của nàng; hắn áp lưng mình vào lưng nàng. “Thế này thì không ổn rồi,” hắn nói, “tôi chẳng thể nhìn thấy gì,” và đan các ngón tay vốn đang bện chặt vào nhau của mình ra phía sau, vắt qua vùng tim nàng. Hắn quay phắt lại, đứng đối diện với nàng, và ôm lấy nàng một cách nhẹ nhàng, nhằm xác định, thông qua việc so sánh các mức độ của đôi mắt họ, xem vầng trán của họ có nằm ở một độ cao chính xác hay không. Đôi mắt của hắn trợn ngược cao hơn nàng hẳn một inch; hắn ôm siết lấy nàng và nói, mặt đỏ bừng lên, “em thấy đấy, em đã đúng; nhưng sai lầm của tôi là tôi đã cộng cả vẻ đẹp của em vào chiều cao của em,” và trong khoảng cách cận kề đó, hắn áp đôi môi đỏ chót như sáp niêm phong của mình lên môi nàng, những nguồn cội thực sự của sự thật.

Nàng cảm thấy xấu hổ, bực bội và lúng túng, giận dữ và chực khóc, nhưng lại chẳng có đủ dũng khí để trút cơn phẫn nộ lên một gã quý tộc. Sau đó nàng chẳng thốt thêm một lời nào nữa. Hắn kéo nàng và chính mình đến bên cửa sổ, nói rằng hắn sẽ đọc cho nàng nghe vài bài thơ, hy vọng là loại có đôi chút khác biệt so với những thứ đang bị rao bán dọc ngoài đường phố. Bởi vì hắn là một trong những nhà thơ lớn nhất ở Kuhschnappel, mặc dù cho đến nay không phải các vần thơ của hắn làm cho hắn được biết đến nhiều, mà là chính việc hắn làm cho các vần thơ của mình được biết đến. Những bài thơ của hắn, giống như rất nhiều bài thơ khác thời nay, giống như chính các nàng thơ, là những đứa con của trí nhớ. Mỗi thị trấn cổ mang phong cách Frankish ít nhất cũng có cho mình một tên fop thời thượng, một kẻ chuyên lo việc xã giao; và mỗi thị trấn, dù cổ kính, thực dụng, được ban phát tư pháp đế quốc đến đâu chăng nữa, đều sở hữu thiên tài, nhà thơ và nhà văn lãng mạn của riêng mình; thường thì cả hai chức vụ này đều do cùng một cá nhân đảm nhận — như trường hợp ở Kuhschnappel. Cả hội đồng lớn lẫn hội đồng nhỏ đều nhìn nhận Rosa như một thiên tài vĩ đại, đang mắc phải cơn sốt dịch bệnh thiên tài. Căn bệnh này giống như chứng lòi voi, thứ mà Troil trong chuyến du hành đến Iceland đã miêu tả một cách cực kỳ chính xác trong hai mươi bốn bức thư, và những đặc điểm chính của nó là bệnh nhân trông y hệt như một con voi về lông men, các vết nứt, màu sắc và những khối u trên da, nhưng lại không có được sức mạnh của một con voi, và sống trong một khí hậu lạnh giá.

Everard rút ra một khúc ca sầu thảm cảm động từ một trong các túi áo của mình, chiếc túi bên trái, nơi mà (ý tôi là trong khúc ca sầu thảm) một nhà quý tộc cao quý, mang tương tư, đã ngâm thơ cho đến chết; và hắn nói với nàng rằng hắn rất muốn đọc nó cho nàng nghe, nếu cảm xúc của hắn cho phép hắn vượt qua nó mà không ngậm ngùi đứt quãng. Tuy nhiên, bài thơ chẳng mấy chốc đã rút ra nhiều hơn một giọt nước mắt cùng niềm xúc động từ chính chủ nhân của nó, và để giữ gìn danh dự, hắn buộc phải cung cấp thêm một bằng chứng nữa về sự thật rằng dẫu cho hắn và những nhà thơ mang phong cách của hắn có thể nam tính và lạnh lùng đến đâu trước những nỗi đau khổ nặng nề nhất của nhân loại, họ thực sự không thể kiềm chế bản thân nổi trước những nỗi đau của tình yêu, mà buộc phải rơi lệ vì chúng. Trong khi đó Rosa, kẻ giống như những tay bịp bợm chơi bài, lúc nào cũng dán một con mắt vào một bề mặt phản chiếu nào đó — nước, mặt kính cửa sổ, hoặc thép được đánh bóng chẳng hạn, để có thể chớp lấy một thoáng lướt qua của khuôn mặt phái đẹp từ thời điểm này sang thời điểm khác — liền nhìn thấy thông qua một chiếc gương nhỏ gắn trên một trong những chiếc nhẫn ở tay trái của hắn, cái tay đang cầm khúc ca sầu thảm, một vài dấu vết vương vấn trong đôi mắt của Lenette để lại bởi lớp sương mù bi tráng từ bài thơ của hắn. Thế là hắn lôi ra từ chiếc túi thứ hai một bản ballad (chắc chắn nó đã được in từ lâu rồi) trong đó một cô gái ngây thơ bị buộc tội giết con, với lời từ biệt đẫm nước mắt dành cho người yêu, tự lao mình vào một thanh gươm. Bản ballad này (rất khác với những đứa con tinh thần thơ ca khác của hắn) mang giá trị thi ca thực sự, bởi vì may mắn thay (ít nhất là cho bài thơ) bản thân hắn cũng là một kẻ si tình theo kiểu đó, nhờ thế hắn có thể cất lên từ tận đáy lòng để chạm đến trái tim. Thật chẳng dễ gì miêu tả nổi sự xúc động cùng những giọt nước mắt xót xa tan chảy trên khuôn mặt Lenette; toàn bộ trái tim nàng trào dâng lên đôi mắt ngấn lệ.

Đó là một trải nghiệm hoàn toàn mới mẻ đối với nàng khi bị dao động mạnh mẽ đến thế bởi sự kết hợp giữa hư cấu và hiện thực.

Ngài Venner ném bản ballad vào đống lửa, lao mình vào vòng tay Lenette và kêu lên:—

“Ôi! Hỡi sinh vật đầy đồng cảm, cao quý và thánh thiện!”

Tôi không thể vẽ lại nổi sự ngỡ ngàng khi hoàn toàn không chuẩn bị trước và chẳng thể hiểu nổi quá trình chuyển đổi từ khóc sang hôn này, nàng đã đẩy hắn ra. Điều này chẳng tạo mấy ấn tượng với hắn; hắn đang cưỡi trên con ngựa cao ngạo của mình và tuyên bố rằng hắn phải có một kỷ vật nào đó của “khoảnh khắc thiêng liêng đầy mê hoặc” này — chỉ là một lọn tóc nhỏ của nàng mà thôi. Địa vị hèn mạt của nàng, ngôn từ hoa mỹ của hắn, cùng thực tế rằng nàng hoàn toàn không thể hình dung nổi dù chỉ một chút xíu về việc tóc của mình sẽ có ích gì cho hắn, ngay cả khi nàng cho đủ để nhồi một chiếc gối — tất cả những điều đó đã đưa vào đầu nàng ý nghĩ ngớ ngẩn rằng hắn muốn dùng nó để thực hiện một nghi lễ ma thuật nào đó, chẳng hạn như yểm bùa yêu nàng, hoặc đại loại thế.

Hắn có thể đâm chết mình ngay tại chỗ trước mặt nàng, băm vằm thân xác mình ra thành từng mảnh, tự xiên mình sống đời, nàng cũng chẳng thèm can thiệp; nàng có lẽ sẵn sàng đổ máu để cứu hắn, nhưng tuyệt đối không chịu mất dù chỉ một sợi tóc trên đầu.

Hắn vẫn còn một con bài tẩy trong tay áo — thực sự chưa bao giờ hắn gặp phải một trường hợp nào thế này trước đây; hắn giơ tay lên và thề rằng hắn sẽ thuyết phục ngài von Blaise công nhận chồng nàng là cháu trai của lão ta và trao lại phần tài sản thừa kế — và điều đó vô cùng dễ dàng, bởi vì hắn sẽ đe dọa hủy hôn với cô cháu gái của lão nếu lão không làm thế — nếu nàng chịu cầm chiếc kéo và cắt một lọn tóc làm kỷ niệm, thậm chí chẳng lớn bằng một phần tư bộ râu mép.

Nàng chẳng biết gì về vụ việc thừa kế đó, và do đó hắn buộc phải, trước sự tổn hại lớn cho trạng thái cuồng nhiệt của mình, đưa ra một bản tường thuật chi tiết, mang tính văn xuôi về sự kiện thực tế của toàn bộ vụ kiện tụng đó. Nhờ một may mắn lớn, hắn vẫn còn giữ trong túi số báo của tờ ‘Tạp chí’ trong đó cuộc điều tra của phòng thừa kế về sự tồn tại của viên luật sư xuất hiện trên bản in, và hắn đã có thể trao nó vào tay nàng. Và thế là người vợ bị tước đoạt này bắt đầu khóc nức nở, không phải vì mất tiền, mà bởi vì chồng nàng đã chẳng hé lộ cho nàng biết bất cứ điều gì về toàn bộ chuyện đó suốt từng ấy thời gian, và tệ hơn nữa là vì nàng chẳng thể hiểu nổi tên thực sự của mình rốt cuộc là gì, hay liệu nàng đã kết hôn với một Siebenkæs hay với một Leibgeber. Những giọt nước mắt của nàng tuôn rơi ngày một nhiều hơn, và trong cơn đau đớn tột cùng, nàng hẳn đã để cho kẻ lừa bịp trước mặt gom hết toàn bộ mái tóc đẹp đẽ trên đầu mình, nếu không có một tình huống ngẫu nhiên cắt đứt toàn bộ chuỗi sự kiện, ngay lúc hắn đang quỳ gối và nài nỉ nàng xin một lọn tóc nhỏ.

Nhưng trước tiên chúng ta phải để mắt đến người chồng của nàng một chút, xem chàng đang xoay xở thế nào và sải bước đi đâu. Ban đầu là giữa những gian hàng chợ; bởi vì tiếng gầm rú đa thanh, cùng món hỗn hợp Olla Podrida của những niềm vui giá rẻ, cùng những tấm thẻ mẫu được trưng bày của tất cả những giẻ rách xuất phát từ và trên đó những con sâu bướm quần áo chúng ta xây dựng nên vỏ bọc và chốn ở — tất cả những thứ đó khiến tâm trí chàng chìm sâu vào một biển suy ngẫm u sầu mang màu sắc hài hước về bức tranh khảm của một cuộc đời chúng ta, được cấu thành từ vô số mảnh nhỏ, những khoảnh khắc muôn màu, hạt bụi, nguyên tử, giọt nước, bụi bặm, hơi sương. Chàng bật cười, và lắng nghe với một cảm xúc mà nhiều độc giả của tôi không thể hiểu nổi, một kẻ hát rong đang gào thét, với cây gậy kể chuyện trong tay phải chỉ vào bức tranh khổng lồ trợn trừng về một vụ giết người rợn người, còn tay trái cầm đầy những bức tranh nhỏ hơn được in ra để bán, trong đó tội ác và kẻ thủ ác được phơi bày trước công chúng Đức với những màu sắc chẳng sáng sủa gì hơn những vần thơ. Siebenkæs mua hai bản, và nhét chúng vào túi để đọc vào buổi tối.

Bức tranh giết người bi tráng này khơi dậy ở hậu cảnh trí tưởng tượng của chàng hình ảnh về cô gái tội nghiệp mà chàng từng bào chữa, cùng cái giá treo cổ, nơi những giọt nước mắt nóng bỏng rơi xuống từ trái tim bị tổn thương của chàng — trái tim mà chẳng một ai trên đời, ngoại trừ một người, thấu hiểu — khi nó bị xé rách lần cuối cùng. Chàng rời khỏi quảng trường chợ ồn ào, và tìm kiếm chốn thiên nhiên tĩnh lặng tuyệt đối, cùng cái nhà tù biệt lập, định mệnh dành cho cả tình bạn lẫn tội lỗi, chính là giá treo cổ. Khi chúng ta bước từ sự hỗn loạn bão bùng của một phiên hội chợ vào không gian tĩnh mịch rộng lớn của tạo hóa, bước vào những gian điện u tối của thánh đường tĩnh mịch thiên nhiên, sự bình yên đột ngột kỳ lạ ấy mang lại cho tâm hồn cảm giác như cái chạm âu yếm của một bàn tay thân yêu.

Với một trái tim buồn bã, chàng trèo lên địa điểm quen thuộc, cái nơi mang cái tên xấu xí mà tôi xin phép được lược bỏ, và từ những đống đổ nát này, chàng phóng tầm mắt nhìn quanh tạo hóa, hệt như thể mình là sinh vật sống cuối cùng sót lại. Cả trên bầu trời xanh thẳm lẫn trên mặt đất rộng lớn, chẳng có lấy một tiếng động hay âm thanh nào; không có gì ngoài một chú dế cô đơn, đang kêu rả rí với những âm tiết đơn chiếc, giữa những luống cày trọc lóc, nơi mùa màng đã được thu gom sạch sẽ. Đàn chim tụ tập lại với những tiếng kêu lạc điệu bay về những chiếc lưới xanh căng trên mặt đất — chứ không phải để đón mùa xuân xanh ngút ngàn ở tận đằng xa. Phía trên những thảm cỏ, nơi mọi bông hoa đã héo úa và tàn lụi, phía trên những cánh đồng, nơi những bông lúa không còn sóng sánh nữa, trôi bồng bềnh những bóng hình ma ảo mờ nhạt, nhợt nhạt và xanh xao, những bức tranh mờ nhạt của quá khứ. Phía trên những cánh rừng và ngọn đồi vĩnh cửu hùng vĩ, một lớp sương mù cay đắng đang khoác lên những nếp gấp bám chặt, như thể toàn bộ thiên nhiên, run rẩy hóa thành bụi bặm, phải tan biến trong những vòng xoáy của nó. Thế nhưng một ý nghĩ tươi sáng xuyên thủng qua màn sương mù đen tối của thiên nhiên và tâm hồn, biến chúng thành một lớp sương trắng lấp lánh, một làn sương đính đầy màu sắc cầu vồng, và nhẹ nhàng đậu xuống những đóa hoa. Chàng quay mặt về hướng đông bắc, hướng về những ngọn đồi nằm giữa chàng và trái tim còn lại của mình, và nhô lên từ phía sau chúng, giống như mặt trăng sớm mùa gặt, là hình ảnh mờ ảo của người bạn thân. Mùa xuân, khi chàng sẽ đến gặp hắn và nhìn thấy hắn một lần nữa, đã bắt đầu chuẩn bị sẵn cho chàng một con đường rộng rãi, tươi đẹp dẫn tới đó, ngập tràn cỏ xanh và hoa lá. A! Chúng ta đùa giỡn với thế giới xung quanh biết bao, khi nhanh chóng khoác lên cho nó tất cả những tấm màng do chính tinh thần chúng ta dệt nên.

Bầu trời không mây dường như chìm sát hơn xuống mặt đất mờ sẫm, rực rỡ với sắc xanh dịu dàng hơn. Và mặc dù cả một mùa đông dài dằng dặc nằm ở khoảng giữa, âm thanh của mùa xuân sắp tới đã vang lên, mờ ảo và xa xăm, trong tai chàng; nó ở đó trong tiếng chuông chiều của đàn gia súc tít dưới thảm cỏ, trong tiếng hót hoang dã của loài chim trong lùm cây, và trong dòng suối tự do đang tuôn chảy xiết giữa những tấm thảm hoa hãy còn chưa hé nở.

Một chiếc nhộng đang đập thình thịch vẫn còn đang treo lơ lửng gần đó trong chiếc vỏ sâu bướm đã nửa khô héo của nó, ngủ yên qua quãng thời gian cho đến khi những chiếc cốc hoa đồng loạt hé nở; trí tưởng tượng, con mắt của tâm hồn, nhìn thấy vượt qua và bên trên những bó lúa mùa gặt là vinh quang của một đêm tháng Sáu; mọi cái cây nhuốm màu thu dường như nở hoa một lần nữa; những tán lá rực rỡ sắc màu của chúng, giống như những đóa uất kim hương phóng đại, tô điểm lớp sương mù mùa thu bằng những sắc thái cầu vồng; những làn gió nhẹ đầu tháng Năm dường như đang rượt đuổi nhau qua những chiếc lá tươi non, đang phấp phới; chúng thổi vào người bạn của chúng ta, nâng bổng chàng lên, bay cao cùng chàng lên trên mùa gặt và lên trên những ngọn đồi, cho đến khi chàng có thể nhìn xa hơn những ngọn đồi và vùng đất ấy — và kìa! Những mùa xuân trong toàn bộ cuộc đời sắp tới của chàng, hiện diện ở đó hãy còn khép nép trong nụ, trải rộng trước tầm mắt chàng như những khu vườn nằm cạnh nhau — và ở đó, trong mọi mùa xuân, chính là người bạn của chàng.

Chàng rời khỏi nơi đó, nhưng lang thang một thời gian dài dọc theo các thảm cỏ, nơi vào thời điểm này trong năm chẳng có nhu cầu phải dò dẫm cẩn thận các lối mòn — chủ yếu để đôi mắt mình không tố cáo nơi mà tâm trí vừa đặt chân tới trước tất cả những người đi chợ có thể gặp phải. Chẳng ích gì — bởi vì trong một số tâm trạng nhất định, trái tim bị xé rách và tổn thương, giống như những cái cây bị thương, cứ rớm máu mãi không thôi và chỉ chực trào trước cái chạm nhẹ nhất.

Chàng tránh né những nhân chứng tận mắt, nhất là Rosa, vì lý do là chàng đang (tôi rất tiếc phải nói điều này) ở đúng vào tâm trạng mà, dù vì khiêm tốn hay vì cảm xúc dâng trào, chàng lại dễ dàng che giấu cảm xúc của mình dưới lớp vỏ bọc cáu kỉnh nhất. Cuối cùng một vũ khí chiến thắng cũng lọt vào tay chàng, đó là ý nghĩ rằng mình phải xin lỗi và bù đắp cho vị khách vì sự vắng mặt quá lâu và kém lịch sự vừa qua.

Khi chàng về đến nhà thì ôi chao một khung cảnh thật kỳ lạ! Vị khách cũ đã đi mất — một kẻ khác đang đứng thay chỗ hắn — và gần kẻ sau chính là người vợ đang đẫm nước mắt của mình. Khi chàng bước vào phòng, Lenette liền đi đến một trong những khung cửa sổ, và một dòng thác nước mắt mới lại tuân trào. “Thưa bà Siebenkæs,” Schulrath cất lời, tiếp tục hướng sự chú ý về phía nàng và nắm lấy bàn tay nàng, “xin hãy cúi đầu trước ý muốn của Chúa, tôi khẩn khoản van xin bà; chẳng có chuyện gì xảy ra ngoài những điều có thể được giải quyết ổn thỏa mà không gặp khó khăn nào. Tôi sẵn sàng dung túng cho bà một nỗi buồn trong tim — nhưng nó phải là một nỗi buồn được kìm nén và chế ngự.”

Lenette nhìn ra ngoài cửa sổ, không nhìn chồng mình.

Schulrath kể lại, trước hết, toàn bộ những gì tôi vừa tường thuật (Firmian, vừa lắng nghe ông vừa nhìn ông, liền nắm lấy bàn tay đang bừng sáng của Lenette, người vẫn đang quay mặt đi), rồi tiếp tục nói:—

“Khi tôi bước vào, lạy Chúa nhân từ, ngài huân tước ấy đang quỳ gối trước bà Siebenkæs, với những giọt nước mắt trần tục, và — tôi buộc phải nuôi dưỡng những mối nghi kỵ nghiêm trọng nhất — một mưu đồ nhắm vào danh dự quý giá của bà ấy! Tuy nhiên, tôi đã kéo đứng y dậy, chẳng mảy mai khách sáo chút nào, và tôi nói với y, bằng sự táo bạo của chính thánh Phao-lô — điều mà tôi sẵn sàng chịu trách nhiệm trước Chúa và trước con người — ‘Thưa ngài Huân tước, đây có phải là những học thuyết mà tôi từng nhồi sọ vào đầu ngài khi tôi còn làm gia sư riêng cho ngài hay không; có phải là hành vi mang tính Cơ đốc giáo khi quỳ sụp xuống theo cái cách như vậy không? Thật xấu hổ làm sao, hỡi ngài von Meyern. Thật xấu hổ làm sao, hỡi ngài von Meyern!’”

Đến đây Schulrath lại nổi cơn lôi đình dữ dội, bước đi đi lại lại trong phòng với hai tay đút vào túi chiếc áo khoác bằng vải nhung sang trọng.

Firmian cất lời: “Thật đơn giản biết bao khi dựng lên một con bù nhìn và cắm hàng rào để xua đuổi một con thỏ như hắn; nhưng điều gì làm em đau khổ thế, tình yêu của anh,” chàng nói, “và tại sao em lại khóc lóc thảm thiết đến vậy?”

Nàng càng khóc nức nở thảm thiết hơn; lúc đó Schulrath chống hai tay lên hông, quát lên với nàng đầy thị nộ: “Thật vậy sao, thưa bà Siebenkæs, mọi chuyện là thế này phải không? Đây là tất cả những ấn tượng mà những lời khuyên nhủ và an ủi tốt đẹp của tôi đã tạo ra trong tâm trí bà sao? Tôi chưa bao giờ dám tin điều đó ở bà đấy!”

“Thế hóa ra tất cả đều vô nghĩa (như tôi buộc phải kết luận) khi, vào lúc tôi có vinh dự đưa bà đến đây từ Augspurg bằng xe ngựa, tôi đã miêu tả cho bà nghe bằng tất cả sự hùng biện trong tầm kiểm soát của mình, về sự phước hạnh của đời sống hôn nhân, trước khi bà có cơ hội tự mình trải nghiệm nó; có vẻ như tôi hoàn toàn có thể cất lời nói với những cơn gió trời còn hơn. Liệu có thực sự là sự thật khi tất cả những gì tôi nói với bà trong cỗ xe ngựa chỉ đơn giản là lọt tai này rồi xì ra tai kia hay không? khi tôi kể cho bà nghe một người vợ hạnh phúc biết bao trong và thông qua chồng mình, cách mà nàng ấy thường chẳng thể kìm nổi việc rơi nước mắt vì sung sướng khi sở hữu anh ta — cách mà hai người họ chỉ có chung một trái tim và một thể xác, và chia sẻ mọi thứ với nhau, niềm vui và nỗi buồn, từng miếng ăn, từng mong ước và khát khao, ôi chao và cả những bí mật nhỏ nhặt nhất nữa. Thôi được, thôi được, thưa bà Siebenkæs, tôi thấy Schulrath tốt hơn nên giữ lại hơi sức của mình để thổi cháo nguội thì hơn.”

Nghe đến đây, nàng liền vội vã lau khô mắt hai lần, cố gắng tỏ ra rất tử tế với ông ta, kèm theo vẻ bề ngoài gượng gạo là hoàn toàn vui vẻ trở lại, rồi cất lời với một tiếng thở dài sâu thẳm, nhưng dịu dàng và không mang giọng điệu đau đớn: “Trời ơi là trời!”

Schulrath chạm vào bàn tay đang buông thõng của nàng bằng các đầu ngón tay của mình theo cách thức của một linh mục, rồi cất lời:—

“Nhưng nguyện xin Chúa là vị lương y và đấng cứu giúp của bà trong mọi hoạn nạn” (ông suýt không nói nổi, vì nước mắt đang chực trào), “Amen,— có nghĩa là, ‘Phải, quả thực, xin hãy cứ như thế.’” Đến đây ông ôm chầm lấy và hôn người chồng, và điều này với rất nhiều sự nồng nhiệt, nói rằng: “Hãy cho gọi tôi tới, nếu vợ đồng chí không thể tìm thấy sự an ủi nào — và nguyện xin Chúa ban cho cả hai đồng chí sức mạnh. Ồ, nhân tiện đây — đúng cái việc mà tôi đến đây để bàn — bài điểm đánh giá về chương trình lễ Phục sinh phải được hoàn thành trước ngày thứ Tư — và tôi đang nợ đồng chí tám dòng hoặc hơn những gì đồng chí đã viết về cái mớ đồ bỏ đi mấy hôm trước, thứ mà đồng chí đã tẩm quất cho một trận ra ra trò.”

Tuy nhiên, khi ông đã đi rồi, Lenette trông chẳng có vẻ gì là được an ủi trọn vẹn như người ta có thể mong đợi: nàng tựa người vào khung cửa sổ chìm đắm trong sự kinh ngạc và suy ngẫm sâu sắc, tuyệt vọng. Những nỗ lực của Firmian nhằm chỉ ra rằng tất nhiên chàng không đời nào thay đổi tên hiện tại của mình và của nàng nữa, và rằng danh dự, hôn nhân và tình yêu của nàng không hề phụ thuộc vào một cái tên khốn khổ nào đó cao lên hay thấp xuống, mà phụ thuộc vào chính chàng và trái tim chàng, đều trở thành vô ích. Nàng kìm nén nước mắt, nhưng tiếp tục phiền muộn và im lặng trong suốt buổi tối hôm đó.

Giờ đây xin đừng ai gọi Firmian thân yêu của chúng ta là quá ư ghen tuông hay nghi kỵ khi vừa mới tống khứ xong một tên cướp bóc phạm thượng tồi tệ đối với danh dự hôn nhân là ngài Venner, thì ý nghĩ về một vụ phun trào núi lửa có thể hất văng đá và tro tàn khắp một vùng lớn trong cuộc đời chàng lại bất ngờ xuất hiện trong đầu; điều gì sẽ xảy ra nếu người bạn Stiefel của chàng thực sự (như có vẻ hầu như là thế) đang đem lòng yêu vợ mình, trong tất cả sự ngây thơ, chính anh ta cũng không nhận ra? Toàn bộ hành vi của anh ta từ ngay từ khởi đầu — sự quan tâm của anh ta trong ngày cưới, những chuyến viếng thăm liên miên, và thậm chí cả sự phẫn nộ của anh ta với ngài Venner vào chính ngày hôm đó cùng cảm xúc ấm áp và sự đồng cảm của anh ta trong toàn bộ sự việc, tất cả những điều đó là những phần riêng biệt của một tổng thể khá mạch lạc, và dường như ám chỉ một tình cảm sâu sắc và đang lớn dần, hoàn toàn đáng kính, không có gì nghi ngờ và bản thân anh ta cũng không hề nhận thức được. Cho dù có hay không một tia lửa trong số đó đã nhảy sang trái tim Lenette và đang âm ỉ cháy ở đó, vẫn là điều không thể xác định được vào lúc này; nhưng dẫu biết vợ mình và bạn mình là những người tốt và chân thật, những hy vọng và nỗi sợ hãi của chàng không thể nào tránh khỏi việc nằm ở mức cân bằng khá tương đương.

Người hùng thân yêu! Xin hãy tiếp tục là chính mình nhé! Định mệnh, như tôi ngày càng thấy rõ hơn khi thời gian trôi qua, dường như đã quyết định từng bước gắn kết các mảnh ghép riêng biệt của một cỗ máy khoan lại với nhau nhằm xuyên thủng qua viên kim cương mang bản chất khắc kỷ của bạn; hoặc nếu không thì từng bước chậm rãi xây dựng và tạo ra các cỗ máy cạo và đốt lông kiểu Anh (được cấu thành từ đói nghèo, lo toan gia đình, kiện tụng và ghen tuông) để cạo và đốt sạch khỏi người bạn mọi sợi tơ thô ráp và đặt lệch chỗ, hệt như bạn là một tấm vải dệt từ loại vải Anh tinh xảo nhất. Nếu sự việc đúng là như thế, xin hãy bước ra khỏi cỗ máy xay ấy với tư cách là một tấm vải Anh lộng lẫy nhất từng được đem đến hội chợ vải vóc và sách vở Leipzig, và khi ấy bạn sẽ thực sự vinh quang làm sao.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.