Tôi sẽ thu được lợi lộc gì khi cho ra mắt thế giới lần tái bản mới này của tác phẩm ‘Siebenkæs’, một phiên bản đã được tô điểm và hoàn thiện với tất cả những bổ sung, chỉnh sửa và cải thiện nằm trong khả năng của tôi? Liệu tôi có thể kỳ vọng điều gì tốt đẹp hơn từ việc này chăng? Tôi dám chắc mọi người sẽ mua nó và đọc nó; nhưng họ sẽ chẳng dành mấy thời gian để nghiên cứu nó, cũng chẳng đưa ra những lời phê bình chi tiết hay thấu đáo về nó. Nữ đồng cốt của làng phê bình cho đến nay vẫn rất kiệm lời tiên tri với tôi, cũng như nàng Pythia xứ Hy Lạp từng đối với những kẻ dò hỏi khác; thay vì đội vòng nguyệt quế lên đầu tôi, nàng lại nhai nát chúng, và chẳng đưa ra lời tiên đoán nào hoặc chỉ vỏn vẹn đôi điều vô nghĩa. Tác giả còn nhớ rất rõ khi bắt tay vào thực hiện, chẳng hạn như, lần tái bản thứ hai của cuốn ‘Hesperus’, với chiếc cưa tỉa cành ở tay trái và con dao mổ cườm mắt ở tay phải, rồi áp dụng cả hai công cụ ấy vào công việc một cách hết sức triệt để; thế nhưng, thật hoài công khi tôi trông chờ bất kỳ một lời đánh giá mang tính trân trọng nào, dù là trên các ấn phẩm văn học hay phi văn học. Tương tự như vậy, trong tất cả các lần tái bản mới của ông (những cuốn ‘Fixlein’, ‘Trường dự bị’, và ‘Levana’ là những bằng chứng và nhân chứng), dù ông có tiến hành cách nào đi nữa — treo lên những bức tranh mới, quay mặt một vài bức tranh cũ vào tường — điều động một số ý tưởng đi nơi khác, thay thế chúng bằng những ý tưởng khác — khiến cho các nhân vật cư xử tốt hơn, hoặc tệ hơn, hoặc tình cờ nghĩ ra những ý tưởng hay hơn, hoặc tồi tệ hơn, tùy từng trường hợp — thì quái lạ thay, chẳng có một nhà phê bình nào thèm để ý dù chỉ chút ít, hay thốt lên lấy một lời với thế giới về vấn đề này. Nhưng qua cách này, tôi chẳng học hỏi được mấy, chẳng được ai chỉ bảo xem mình đã làm khá tốt ở đâu hay ngược lại, và thế là tôi đành chịu thiệt, có lẽ là mất đi một chút lời khen ngợi và khích lệ mà đáng ra mình xứng đáng nhận được.
Sự tình là thế, và dĩ nhiên một vài hệ quả tất yếu theo đó mà sinh ra: tầng lớp độc giả hời hợt thì cho rằng tác giả không có khả năng thực hiện bất kỳ sự cải biên mang tính phê bình nào, trong khi tầng lớp cuồng nhiệt lại nghĩ rằng chẳng có sự cải biên nào là cần thiết cả — điểm chung duy nhất giữa họ là giả định rằng tác giả hấp thụ và phát thích toàn bộ sự việc một cách tự nhiên, hiển nhiên, dễ dàng và chẳng chút nhọc sức y như loàiệp, tức rệp cây, hút thứ mật ngọt mà loài ong vô cùng săn đón, dẫu cho không giống như lũ ong kia, ông chẳng mấy khéo léo trong việc tạo ra sáp từ thứ mật ấy.
Rồi thì có khá nhiều người nghĩ rằng mọi dòng văn nên được giữ nguyên trong tình trạng mà nó vừa mới tuôn trào, hay bùng nổ, một cách tự phát từ trí tưởng tượng của tác giả — cứ như thể những chỉnh sửa tự thân chúng không phải là những đợt bùng nổ tự phát y như những thứ khác vậy. Những độc giả khác lại thích chẳng thuộc về phe phái nào kể trên và hệ quả là họ thuộc về tất cả, xét theo một mức độ nào đó. Nếu mục đích của tôi là diễn đạt vắn tắt, tôi lẽ ra chỉ cần làm như sau: — thứ nhất, họ bảo, sẽ tốt hơn nhiều nếu anh ta cứ đơn giản bộc bạch một cách tự nhiên bất cứ điều gì anh ta cảm thấy trong lòng! và (nếu đây chính xác là điều mà người ta vừa làm), thứ hai, hiệu quả từ những gì anh ta cảm thấy trong lòng ấy sẽ tốt hơn biết bao, và nó sẽ được cải thiện dường như thế nào, nếu việc đó được thực hiện theo các chuẩn mực về mỹ học và phê bình! Tôi cũng có thể diễn đạt những ý tưởng này theo một cách thức vòng vo hơn, như sau: — Nếu một nhà văn tự kiềm chế quá chặt chẽ, nếu anh ta ít nghĩ đến nhịp đập mạnh mẽ của con tim mình mà lại bận tâm nhiều hơn đến mạng lưới vi mạch máu và đám rối của gu thẩm mỹ, rồi bẻ gãy dòng chảy cuồn cuộn của nó thành những giọt sương li ti, nhỏ xíu từ hơi nước vô hình của ngòi bút phê bình — khi đó họ sẽ nói rằng — “thực tế là, dòng nước phun càng dày và càng mạnh bao nhiêu, thì nó càng bắn lên cao bấy nhiêu, xuyên thủng bầu khí quyển và vượt qua sức cản của nó; trong khi một tia nước mảnh mai hơn sẽ tan biến trước khi đi được nửa chặng đường.” Nhưng, khi tác giả làm điều hoàn toàn ngược lại với những điều trên; khi anh ta dốc kiệt toàn bộ trái tim đang tràn trề cảm xúc của mình trong một tràng tuôn trào duy nhất, và thả cho những dòng thác máu tuôn chảy bất cứ lúc nào và theo bất cứ cách nào chúng muốn, thì các nhà phê bình lại nêu lên bài học đạo đức sau đây — dù họ dùng một phép ẩn dụ khác hẳn với điều tôi dnah kỳ vọng ở họ — “Một tác phẩm nghệ thuật giống như con diều giấy, nó bay lên càng cao khi cậu bé càng kéo và giữ chặt sợi dây, nhưng sẽ rơi xuống ngay khoảnh khắc cậu ta thả lỏng nó.”
Cuối cùng, chúng ta quay trở lại với cuốn sách của mình. Những điểm cải biên quan trọng nhất được thực hiện trên tác phẩm có lẽ là về mặt lịch sử; bởi vì, kể từ khi lần xuất bản đầu tiên ra mắt, tôi đã có được may mắn — một phần vì tôi có cơ hội đến thăm và tận mắt chứng kiến Kuhschnappel, bối cảnh của câu chuyện (như đã từng được đề cập từ lâu trong những bức thư của Jean Paul), một phần từ chính mối quan hệ thư tín của tôi với nhân vật chính của câu chuyện — được làm quen với những hoàn cảnh và sự kiện gia đình mà có lẽ tôi chẳng thể nào tiếp cận được bằng bất kỳ cách nào khác, trừ khi tôi ngồi xuống và thản nhiên bịa ra chúng. Thậm chí tôi còn vớ được một số tư liệu mới về Leibgeber, mà giờ đây tôi rất đỗi vui mừng được truyền đạt lại cho công chúng.
Lần tái bản mới này cũng được cải thiện nhờ việc loại bỏ tất cả những từ ngữ ngoại lai vốn chiếm giữ những vị trí đáng lẽ phải do các từ ngữ bản xứ đảm nhận; đồng thời nhờ vào một cuộc thanh lọc mang tính phê bình đối với tất cả những chữ s ở cuối dạng sở hữu cách của các từ ghép. Nhưng quả thực, công sức quét dọn và gạch bỏ các chữ cái cũng như từ ngữ xuyên suốt bốn tập sách dày dặn chẳng thể được đánh giá quá cao bởi bất kỳ ai, ngay cả bởi Hậu thế, cho bằng chính người đã tự tay quét dọn và gạch xóa ấy.
Một trong những điểm cải thiện khác được thực hiện trong Lần tái bản thứ hai là tôi đã chuyển cả hai bài “Khúc tưởng niệm hoa” về cuối tập thứ hai[3] (vì trong phiên bản trước, cả hai đều nằm ở phần đầu của tập thứ nhất), và rằng không còn là tập thứ nhất nữa, mà là tập thứ hai — một cách thích hợp hơn nhiều — mới là tập khép lại với Khúc tưởng niệm quả đầu tiên.
Và cuối cùng, có lẽ người ta có thể xem như đó là một trong những cải tiến nhỏ, rằng trong hai bài Khúc tưởng niệm hoa — đặc biệt là bài về Chúa Kito chịu nạn — tôi đã không thực hiện bất kỳ sự cải thiện nào, mà để nguyên mọi thứ như cũ, không màng nạo vét đi bất kỳ hạt cát vàng óng nào mà tôi từng dùng để làm cho các con chữ trở nên hơi nhám và khó đọc.
Trên đây là những sửa đổi chính, mà về chúng, tôi rất đỗi mong mỏi nhận được ý kiến đánh giá từ những nhà phê bình tài năng, nhằm làm gia tăng sự hiểu biết của tôi, và có lẽ cả danh tiếng của tôi nữa. Nhưng, vì chẳng có công việc nào phiền toái hơn việc so sánh cuốn sách cũ với cuốn sách đã được cải thiện, có thể nói là từng trang một, nên tôi đã gửi gắm tại cửa hàng sách giáo khoa một bản in của ấn bản cũ, trong đó tất cả những chỗ sửa chữa bằng mực viết đè lên mực in, nghĩa là tất cả những chỗ đã được viết đè hoặc gạch ngang, đều có thể dễ dàng nhận thấy chỉ trong một cái nhìn thoáng qua, thường là nửa trang và cả trang bị giết chết đến mức thực sự sẽ khiến quý vị phải kinh ngạc. Những nhà phê bình không có mặt tại chỗ ắt hẳn phải đành lòng đặt các tập sách của mỗi phiên bản lên hai đĩa cân đối lập của một chiếc cân tạp hóa, rồi quan sát, khi ấy họ sẽ thấy ấn bản mới nặng vượt trội hơn ấn bản cũ đến nhường nào. Qua cách xử lý nghiêm ngặt và đầy âu lo của tôi đối với Lần tái bản thứ hai, các nhà phê bình có thể hình dung ra cách xử lý nghiêm ngặt và đầy âu lo của tôi đối với lần tái bản đầu tiên; họ cũng có thể mường tượng được tôi đã gạch bỏ bao nhiêu phần trong bản thảo của mình trước khi in, khi quan sát thấy tôi đã gạch bỏ biết bao nhiêu sau khi in.
Tiến sĩ Jean Paul Fr. Richter.
Bayreuth, Tháng Chín, năm 1817.