Hồi Giáo Tham Nhũng

Lượt đọc: 462 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 4
Cabesang Tales

❊ ❊ ❊

Những ai đã đọc phần đầu của câu chuyện này có lẽ vẫn còn nhớ đến lão tiều phu sống ở tận sâu trong rừng. Tandang Selo vẫn còn sống, và dẫu tóc lão đã bạc phơ, sức khỏe của lão vẫn rất tráng kiện. Lão không còn đi săn hay đốn củi nữa, bởi hoàn cảnh đã khá giả hơn và lão chỉ làm công việc đan chổi.

Con trai lão là Tales (tên đầy đủ là Telesforo) ban đầu làm rẽ trên đất của một điền chủ, nhưng sau khi sở hữu hai con trâu và vài trăm peso, anh quyết định tự canh tác với sự giúp đỡ của cha, vợ và ba đứa con. Do đó, họ đã phát quang một khu rừng rậm nằm ở vùng rìa thị trấn mà họ đinh ninh là đất vô chủ. Trong quá trình khai hoang và canh tác mảnh đất mới ấy, cả nhà đều mắc bệnh sốt rét; người vợ cùng cô con gái lớn là Lucia đã qua đời khi tuổi đời còn xanh. Họ cho rằng đó là sự trừng phạt của thần rừng do động chạm đến lớp đất hoang sơ vốn chứa đầy mầm bệnh, nên đành nhẫn nhục chịu đựng và tiếp tục công việc với niềm tin rằng vị thần đã nguôi giận.

Thế nhưng, khi họ chuẩn bị thu hoạch vụ mùa đầu tiên thì một dòng tu tôn giáo vốn sở hữu đất đai ở thị trấn lân cận lại đến tranh chấp, cho rằng mảnh đất ấy nằm trong ranh giới của họ, và để chứng minh, họ liền tiến hành cắm mốc. Mặc dù vậy, vì lòng nhân đạo, quản gia của dòng tu vẫn cho họ tiếp tục hưởng hoa lợi với điều kiện phải nộp một khoản tiền nhỏ hàng năm—chỉ là chuyện nhỏ, khoảng hai mươi hay ba mươi peso. Tales, một con người hiền lành bậc nhất, vốn căm ghét kiện tụng hơn ai hết và lại càng kính nhường các thầy tu hơn người thường; thế nên, để tránh việc lấy hòn đất nọ đập vào nồi gang (như anh thường nói, bởi đối với anh các thầy tu là nồi sắt còn anh chỉ là chiếc hũ sành), anh đã yếu đuối nhượng bộ, nhớ ra rằng mình không biết tiếng Tây Ban Nha và cũng chẳng có tiền thuê luật sư.

Thêm vào đó, Tandang Selo bảo anh rằng: "Hãy kiên nhẫn! Con tốn tiền kiện tụng trong một năm còn hơn là mười năm nộp tiền theo yêu cầu của mấy vị cha cố da trắng. Và biết đâu họ lại chẳng cúng lễ cầu siêu bù lại cho con! Cứ coi như mất ba mươi peso vì bài bạc hoặc bị rơi xuống nước cho cá sấu nuốt mất đi."

Vụ mùa bội thu và bán được giá, nên Tales dự định sẽ dựng một ngôi nhà gỗ ở làng Sagpang, thuộc thị trấn Tiani giáp ranh với San Diego.

Một năm nữa trôi qua với một vụ mùa bội thu khác, và vì thế các thầy tu liền nâng mức tiền thuê đất lên năm mươi peso; Tales vẫn ngậm đắng nuốt cay trả để tránh điều tiếng tranh chấp và vì anh hy vọng bán được đường với giá cao.

Tandang Selo an ủi anh: "Kiên nhẫn nào! Cứ coi như con cá sấu đã lớn thêm một chút."

Năm đó, cuối cùng anh cũng thấy giấc mơ của mình thành hiện thực: được sống trong một ngôi nhà gỗ tại làng Sagpang. Cha và ông nội lúc ấy bèn nghĩ đến chuyện cho hai đứa con đi học, nhất là cô con gái Juliana, hay gọi là Juli, bởi con bé tỏ ra là một thiếu nữ tài sắc vẹn toàn. Có một chàng trai là bạn của gia đình tên là Basilio đang theo học ở Manila, xuất thân cũng nghèo khó như họ.

Nhưng giấc mơ ấy dường như chẳng có duyên thành hiện thực. Việc đầu tiên mà cộng đồng làm khi thấy gia đình họ phất lên là chỉ định người thành viên siêng năng nhất làm cabeza de barangay, khiến cho trong nhà chỉ còn lại Tano, đứa con trai mới mọc cào cào mười bốn tuổi. Do đó, người cha bắt buộc phải mang danh hiệu Cabesang Tales, phải đặt may áo khoác dài, mua mũ nỉ và chuẩn bị tiền tiêu pha. Để tránh mọi điều xích mích với cha sở hay chính quyền, anh phải tự bỏ tiền túi ra bù vào những khoản thiếu hụt trong sổ thuế, đóng thay cho những kẻ đã chết hoặc bỏ xứ mà đi, đồng thời mất biết bao thời gian cho việc đi thu thuế và những chuyến đi về tỉnh lỵ.

Tandang Selo mỉm cười hiền từ khuyên nhủ: "Kiên nhẫn nào! Cứ coi như họ hàng nhà cá sấu đã kéo đến nhập bọn với nó rồi."

Mỗi lần nghe con gái nhắc đến chuyện tiến bộ của Basilio, Cabesang Tales lại bảo con: "Năm tới con sẽ được mặc váy dài và lên Manila học hành như mấy tiểu thư thành thị."

Nhưng năm tới ấy chẳng bao giờ đến, thay vào đó lại là một đợt tăng tiền thuê đất mới. Cabesang Tales đâm ra đăm chiêu và gãi đầu. Chiếc hũ sành đang phải dốc sạch từng hạt gạo cho cái nồi sắt rồi đây.

Khi tiền thuê đất đã leo lên tới hai mươi peso, Tales không còn chỉ biết gãi đầu và thở dài nữa; anh bắt đầu lẩm bẩm và phản đối. Vị quản gia người dòng tu liền nói với anh rằng nếu không trả được thì sẽ giao mảnh đất ấy cho kẻ khác canh tác—rất nhiều người đang thèm thuồng đã ngỏ ý xin rồi.

Ban đầu anh tưởng thầy tu đang đùa, nhưng hắn nói rất nghiêm turc và chỉ định một tên đầy tớ của mình ra tiếp quản mảnh đất. Tội nghiệp Tales tái mặt, tai anh ù đi, trước mắt anh phủ một làn sương đỏ rực trong đó hiện lên hình ảnh vợ và con gái xanh xao, gầy mòn, chết mòn vì những cơn sốt rét—rồi anh thấy khu rừng rậm đã biến thành những thửa ruộng phì nhiêu, thấy dòng mồ hôi tưới đẫm những luống cày, thấy chính mình đang cày bừa dưới cái nắng như thiêu như đốt, đôi chân bầm dập vì đá và rễ cây, trong khi tên thầy tu này thì ngồi xe ngựa dạo chơi còn kẻ khốn nạn sắp được nhận đất thì lẽo đẽo đi sau hắn như một tên nô lệ. Không, ngàn lần không! Thà để ruộng đồng chìm sâu vào lòng đất và chôn vùi tất cả bọn chúng còn hơn! Kẻ xâm nhập này là ai mà dám đòi quyền lợi trên mảnh đất của anh? Hắn có tha từ quê hương hắn đến dù chỉ một vốc đất? Hắn có nhọc công cong dù chỉ một ngón tay để nhổ đi những chiếc rễ cây đan cài trong đó không?

Bị kích động bởi những lời đe dọa của tên thầy tu—kẻ đang cố y bảo vệ quyền uy bằng mọi giá trước mặt những người tá đắp khác—Cabesang Tales nổi giận phản kháng và kiên quyết không nộp dù chỉ một đồng cuarto, trong đầu mãi văng vẳng làn sương đỏ rực ấy, tuyên bố rằng anh thà giao ruộng đất cho kẻ nào biết tưới đẫm nó bằng máu rút ra từ chính tĩnh mạch mình.

Lão Selo nhìn nét mặt con trai thì không dám nhắc đến chuyện con cá sấu nữa, mà cố tìm cách xoa dịu bằng cách nhắc lại chuyện cái hũ sành, nhắc nhở rằng kẻ thắng kiện cuối cùng cũng chẳng còn mảnh áo che lưng.

Câu trả lời là: "Chúng ta rồi cũng trở thành đất thôi thưa cha, và khi sinh ra nào ai đã có áo mặc."

Thế là anh kiên quyết từ chối nộp tiền hoặc nhượng lại dù chỉ một tấc đất trừ khi các thầy tu chịu chứng minh tính hợp pháp của yêu sách bằng cách trưng ra giấy tờ sở hữu nào đó. Vì họ chẳng có gì trong tay, một vụ kiện tụng bùng nổ, và Cabesang Tales dấn thân vào đó với niềm tin rằng ít ra vẫn có những người, dù không phải tất cả, biết trân trọng công lý và tôn trọng luật pháp.

Anh nói với những ai can ngăn mình rằng: "Tôi vẫn đang và đã từng phục vụ nhà vua bằng tiền bạc và công sức của mình. Tôi đòi công lý và ngài có nghĩa vụ phải ban cho tôi điều đó."

Bị cuốn theo vòng xoáy định mệnh, cứ như thể anh đang đặt cược toàn bộ tương lai của bản thân và các con vào vụ kiện này, anh tiếp tục tiêu sạch số tiền dành dụm để thuê luật sư, chưởng lý và cố vấn pháp lý, chưa kể đến đám quan lại và thư ký sẵn sàng bóc lột sự dốt nát cùng hoàn cảnh khốn khó của anh. Anh ngược xuôi giữa làng và tỉnh lỵ, trải qua những ngày không cơm ăn và những đêm không chợp mắt, miệng lúc nào cũng nhao nhác chuyện đơn từ, chứng cứ và kháng án. Khi ấy người ta chứng kiến một cuộc đấu tranh chưa từng có dưới bầu trời Philippines: một gã nông dân nghèo khổ, dốt nát và cô độc, đặt trọn niềm tin vào lẽ phải và công lý của vụ án, chiến đấu chống lại một tập đoàn hùng mạnh—nơi mà Công lý phải cúi đầu còn các thẩm phán thì buông lơi cân tiểu và trao đi thanh gươm chân lý. Anh chiến đấu ngoan cường như chú kiến cắn lại khi biết mình sắp bị giày xéo, như con ruồi chỉ nhìn thấy thế giới qua một ô cửa kính. Thế nhưng, hình ảnh chiếc hũ sành dám thách thức nồi sắt để rồi vỡ nát thành hàng ngàn mảnh ấy ẩn chứa một điều gì đó thật lớn lao—nó mang vẻ đẹp hùng vĩ của sự tuyệt vọng!

Vào những ngày rảnh rỗi sau các chuyến đi, anh mang theo súng săn tuần tra khắp ruộng đồng, miệng bảo rằng bọn cướp rừng đang rình rập xung quanh và anh cần phải tự vệ để không rơi vào tay chúng rồi làm hỏng vụ kiện. Cứ như để luyện tay súng, anh bắn chim chóc, hoa quả, thậm chí cả những con bướm với độ chính xác cao đến mức viên quản gia người dòng tu không dám đặt chân đến Sagpang nếu không có lính canh hộ vệ, trong khi tên sai vặt của hắn—kẻ đứng từ xa nhìn cái bóng đầy đe dọa của Tales lang thang trên đồng ruộng như một người lính canh trên tường thành—thì sợ hãi đến mất mật và từ chối việc tước đoạt tài sản của anh.

Nhưng các thẩm phán ở địa phương lẫn tỉnh lỵ, rút kinh nghiệm từ số phận của một đồng nghiệp vừa bị sa thải cách chức không thương tiếc, không dám đưa ra phán quyết có lợi cho anh vì sợ mất ghế. Dù vậy, họ không phải là những kẻ tồi tệ; họ là những con người ngay thẳng và có lương tâm, những công dân tốt, những người cha mẫu mực, những người con hiếu thảo—và họ thấu hiểu hoàn cảnh của tội nghiệp Tales hơn chính bản thân anh. Nhiều người trong số họ am hiểu nền tảng khoa học và lịch sử của quyền sở hữu, họ thừa biết rằng theo chính quy chế của mình, các dòng tu không được phép sở hữu tài sản, nhưng họ cũng hiểu rằng việc từ vùng biển xa xôi vượt đại dương sang đây với một chức vụ kiếm được đầy khó khăn, mang lòng tốt đến nhận nhiệm vụ để rồi mất việc chỉ vì một gã nhà quê nông nổi tưởng rằng công lý trên đời cũng giống như ở thiên đàng—quả là một ý nghĩ ngây thơ! Họ còn gia đình và những nhu cầu lớn lao hơn gã nhà quê ấy: người thì phải phụng dưỡng mẹ già, mà còn nghĩa vụ nào thiêng liêng hơn việc chăm sóc mẹ? Người khác thì có những người em gái đều đã đến tuổi cập kê; kẻ khác nữa thì có đàn con nhỏ đang ngóng chờ từng hạt cơm mỗi ngày và chúng sẽ chết đói như những chú chim non trong tổ ngay ngày bố chúng thất nghiệp; thậm chí ngay cả kẻ thấp kém nhất cũng có một người vợ ở quê nhà đang khổ sở trông chờ khoản tiền trợ cấp hàng tháng không về. Tất cả những vị thẩm phán đầy lương tâm và đạo đức ấy đã dùng đủ mọi cách khuyên nhủ, khuyên Cabesang Tales hãy nộp khoản tiền thuê đất bị đòi hỏi. Nhưng Tales, giống như bao tâm hồn chất phác khác, một khi đã nhìn thấy lẽ phải thì cứ thế thẳng đường mà tiến. Anh đòi bằng chứng, chứng từ, giấy tờ, văn tự sở hữu, nhưng các thầy tu chẳng có lấy một thứ gì, chỉ bấu víu vào những nhượng bộ của anh trong quá khứ.

Câu trả lời cửa miệng của Cabesang Tales là: "Nếu ngày nào tôi cũng bố thí cho một kẻ ăn mày để tránh phiền toái, thì ai có quyền bắt tôi phải tiếp tục bố thí nếu hắn dám lạm dụng lòng tốt của tôi?"

Chẳng ai lay chuyển được lập trường ấy của anh, và cũng chẳng lời đe dọa nào có thể khuất phục nổi anh. Viên Toàn quyền M—— đã cất công thực hiện một chuyến đi chỉ để gặp và dọa dẫm anh, nhưng tất cả những gì hắn nhận được chỉ là câu trả lời: "Ngài muốn làm gì thì tùy, thưa Ngài Toàn quyền, tôi chỉ là kẻ dốt nát và bất lực. Nhưng tôi đã khai hoang những mảnh đất ấy, vợ và con gái tôi đã ngã xuống khi phụ giúp tôi dọn dẹp nó, và tôi sẽ không giao nó cho bất kỳ ai ngoại trừ kẻ nào có thể làm được nhiều hơn những gì tôi đã làm trên mảnh đất đó. Hãy để kẻ ấy trước tiên dùng máu của chính mình tưới đẫm nó và chôn vùi vợ con hắn ở đó!"

Hậu quả của sự bướng bỉnh ấy là các vị thẩm phán đáng kính đã phán quyết phần thắng thuộc về các thầy tu, và mọi người cười chế giễu anh, bảo rằng kiện tụng không thể thắng bằng công lý. Nhưng Cabesang Tales kháng án, nạp đạn vào súng săn và thản nhiên tuần tra những thửa ruộng của mình.

Khoảng thời gian này cuộc sống của anh tựa như một giấc mơ hoang dại. Con trai anh, Tano, một thiếu niên cao lớn như cha và hiền lành như chị, bị bắt đi lính, nhưng anh thà để con đi chứ không chịu mua lính thay.

Anh nói với đứa con gái đang đẫm lệ: "Ta phải để dành tiền thuê luật sư. Nếu thắng kiện, ta sẽ tìm cách đưa nó về, còn nếu thua thì ta cũng chẳng cần con cái làm gì nữa."

Thế là đứa con trai đi mãi và chẳng còn tin tức gì về nó nữa ngoài việc tóc nó đã bị cạo trọc và nó phải ngủ dưới gầm xe bò. Sáu tháng sau có tin đồn rằng người ta thấy nó lên tàu đi quần đảo Caroline; lại có lời xì xào rằng nó mặc quân phục của Hiến binh.

Nhiều người chắp tay kêu lên: "Tano mà vào Hiến binh á! 'Susmariosep! Tano hiền lành chất phác thế cơ mà! Requiem aeternam!"

Người ông giận dỗi không thèm nói chuyện với con trai suốt nhiều ngày, Juliổ thì đổ bệnh, thế nhưng Cabesang Tales không rơi một giọt nước mắt nào, dẫu cho suốt hai ngày anh chẳng thèm bước chân ra khỏi nhà, như thể sợ hãi những ánh mắt quở trách của cả làng hay sợ bị gọi là kẻ hành quyết con trai mình. Nhưng đến ngày thứ ba, anh lại xách súng bước ra ngoài.

Người ta gán cho anh những ý đồ giết người, và có những người tốt bụng rỉ tai nhau rằng họ nghe thấy anh đe dọa sẽ chôn sống viên quản gia dòng tu ngay giữa luống cày của mình, khiến cho vị tu sĩ thực sự hoảng sợ. Hậu quả là một sắc lệnh từ Toàn quyền ban hành cấm sử dụng vũ khí hỏa mai và ra lệnh thu hồi tất cả. Cabesang Tales buộc phải nộp lại khẩu súng săn nhưng anh vẫn tiếp tục những vòng tuần tra với một con dao rựa dài bên sông.

Lão Selo hỏi anh: "Con định dùng con dao rựa đó làm gì khi bọn cướp rừng có cả súng đạn?"

Câu trả lời là: "Con phải canh chừng mùa màng của mình. Mỗi gốc mía mọc lên ở đó chính là một khúc xương của vợ con con."

Con dao rựa bị tịch thu với cái cớ là nó quá dài. Anh liền lấy chiếc rìu cũ của cha, vác lên vai và tiếp tục những vòng tuần tra trong im lặng u ám.

Mỗi lần anh bước chân ra khỏi nhà là Tandang Selo cùng Juli lại run rẩy lo cho tính mạng của anh. Cô con gái sẽ đứng dậy khỏi khung cửi, chạy ra cửa sổ, cầu nguyện, khấn vái các thánh thần và đọc kinh tuần cửu nhật. Người ông có khi làm chẳng xong cái cán chổi và lại nhắc đến chuyện quay lại rừng sâu—cuộc sống trong ngôi nhà ấy giờ đây đã vượt quá sức chịu đựng.

Cuối cùng thì nỗi sợ hãi của họ cũng thành hiện thực. Do các thửa ruộng cách khá xa làng, Cabesang Tales, bất chấp chiếc rìu trên tay, vẫn rơi vào tay bọn cướp rừng được trang bị súng ngắn và súng trường. Chúng bảo anh rằng vì có tiền thuê thẩm phán và luật sư thì chắc chắn anh cũng có tiền cho những kẻ cùng đường trốn chạy. Do đó chúng đòi khoản tiền chuộc năm trăm peso thông qua một gã nhà quê, kèm theo lời cảnh báo rằng nếu có chuyện gì xảy ra với kẻ đưa tin thì con tin sẽ phải trả giá bằng mạng sống. Hạn chót là hai ngày.

Tin tức này đẩy gia đình nghèo khổ vào nỗi kinh hoàng tột độ, và nó càng nhân lên gấp bội khi họ hay tin đội Hiến binh chuẩn bị ra quân truy lùng băng cướp. Nếu xảy ra đụng độ, nạn nhân đầu tiên chắc chắn sẽ là con tin—điều đó ai nấy đều rõ. Người ông chết trân như tượng phó mặc, trong khi cô con gái mặt cắt không còn giọt máu, hoảng loạn định nói gì đó mà chẳng nên lời. Tuy nhiên, một ý nghĩ còn khủng bố hơn, một ý kiến tàn nhẫn hơn lại kéo họ ra khỏi cơn mê sảng. Gã nhà quê được bọn cướp phái đến cho hay băng cướp có lẽ sắp phải di chuyển đi nơi khác, và nếu họ chậm trễ gửi tiền chuộc thì hạn hai ngày sẽ trôi qua và Cabesang Tales sẽ bị cắt cổ.

Điều này đẩy hai con người yếu đuối và bất lực ấy đến bờ vực điên dại. Tandang Selo lúc đứng lúc ngồi, chạy ra rồi lại chạy vào, chẳng biết phải đi đâu, tìm kiếm sự giúp đỡ ở nơi nào. Juli cầu khẩn trước những bức tượng thánh, đếm đi đếm lại số tiền của mình, nhưng hai trăm peso trong tay chẳng thể tự sinh sôi nảy nở. Chẳng mấy chốc cô thay đồ, gom hết số trang sức lại và xin ý kiến ông nội xem có nên đến gặp gỡ tiểu trấn trưởng, quan tòa, chưởng lý, hay viên đội hiến binh hay không. Người ông gật đầu với mọi thứ, hoặc khi cô bảo không thì ông cũng lắc đầu theo. Chẳng mấy chốc hàng xóm láng giềng, họ hàng thân thích kéo đến, người thì nghèo khó hơn kẻ khác, trong sự ngây ngô lại càng phóng đại thêm nỗi sợ hãi. Hăng hái nhất trong số đó là Sơ Bali, một tay bài panguinguera cự phách, từng đến Manila để làm lễ tĩnh tâm trong tu viện của hội ái hữu.

Juli sẵn sàng bán hết số trang sức của mình, trừ chiếc mặt dây chuyền cẩn kim cương và ngọc lục bảo mà Basilio đã tặng, bởi món quà ấy có một câu chuyện riêng: một nữ tu sĩ, con gái của Capitan Tiago, từng tặng nó cho một bệnh nhân phong, và người này để trả ơn chữa bệnh đã đem tặng lại cho Basilio. Thế nên cô không thể đem bán nó nếu chưa hỏi ý kiến anh.

Chẳng mấy chốc lược đồi mồi và hoa tai cùng chuỗi hạt mân côi của Juli đều được bán sạch cho người hàng xóm giàu có nhất, nhờ vậy mà có thêm được năm mươi peso, nhưng vẫn còn thiếu tới hai mươi lăm peso nữa. Chiếc mặt dây chuyền có thể đem cầm cố, nhưng Juli lắc đầu từ chối. Một người hàng xóm gợi ý nên bán luôn ngôi nhà và Tandang Selo tỏ ra đồng tình với ý kiến ấy, sẵn sàng quay về rừng sâu đốn củi như xưa, nhưng Sơ Bali liền chen vào rằng không thể làm thế được vì chủ nhà không có mặt.

"Vợ quan tòa ngày xưa từng bán cho tôi một cái tapis giá một peso, thế nhưng chồng bà ấy lại bảo giao dịch không có giá trị vì chưa được sự đồng ý của ông ta. Chà! Thế là lão ta đòi lại chiếc tapis mà mụ vợ thì vẫn chưa trả lại đồng peso nào cho tôi, nhưng bù lại khi nào mụ thua bài panguingui là tôi cứ thế trừ nợ, chà! Cứ thế mà tôi đã đòi lại được mười hai đồng cuarto rồi đấy, và chỉ vì chuyện đó mà tôi sắp tới sẽ tiếp tục sát phạt với mụ ta cho bõ ghét. Tôi ghét nhất cái kiểu người mượn nợ mà cứ lờ đi không trả, chà!"

Một người hàng xóm suýt nữa đã hỏi Sơ Bali thế sao bà ta không thanh toán luôn mấy khoản nợ lặt vặt của chính mình đi, nhưng mụ panguinguera tinh ranh đã đoán trước được ý định liền nói ngay: "Cô biết mình có thể làm gì không, Juli? Hãy mượn hai trăm năm mươi peso thế chấp bằng ngôi nhà, khi nào thắng kiện thì trả."

Đây có vẻ là kế sách hay nhất, thế là họ quyết định hành động ngay trong ngày hôm đó. Sơ Bali ngỏ ý đi cùng cô, và cả hai đã gõ cửa mọi gia đình giàu có ở Tiani, nhưng chẳng ai chịu nhận lời đề nghị ấy. Họ bảo rằng vụ kiện đã cầm chắc phần thua, và việc tỏ lòng giúp đỡ kẻ thù của đám thầy tu chẳng khác nào tự chuốc lấy sự trả thù của bọn chúng. Cuối cùng, một người phụ nữ đạo đức giả động lòng thương tình đã đồng ý cho vay số tiền ấy với điều kiện Juli phải ở lại làm tôi tớ cho bà ta cho đến khi trả hết nợ. Công việc của Juli cũng chẳng có gì quá nặng nhọc: may vá, cầu nguyện, đi lễ cùng bà ta và thỉnh thoảng ăn chay hộ bà ta. Cô thiếu nữ đẫm lệ gật đầu đồng ý, nhận tiền và hứa sẽ chính thức vào hầu hạ từ ngày hôm sau, đúng vào ngày lễ Giáng sinh.

Khi người ông nghe tin về vụ mua bán ấy, ông oà khóc như một đứa trẻ. Gì chứ, đứa cháu gái mà ông từng nâng niu chẳng dám cho đi ngoài nắng sợ cháy da, con bé Juli với những ngón tay ngọc ngà và đôi bàn chân hồng hào ấy ư? Gì chứ, cô gái xinh đẹp nhất làng và có lẽ là cả thị trấn, người mà biết bao chàng trai từng đứng dưới cửa sổ ngâm thơ ca hát suốt đêm thâu trong vô vọng ấy ư? Gì chứ, đứa cháu gái duy nhất, niềm vui cuối cùng le lói trong đôi mắt mờ đục của ông, người mà ông từng mơ ước được thấy mặc váy dài, nói tiếng Tây Ban Nha, ngẩng cao đầu quạt chiếc quạt vẽ như mấy tiểu thư nhà giàu—nay lại phải đi làm đầy tớ, chịu đựng những lời la mắng quở trách, làm hỏng đôi bàn tay, ngủ bất cứ xó xỉnh nào, và thức dậy bất cứ lúc nào người ta sai bảo!

Thế là ông lão khóc nức nở và đòi treo cổ hoặc tuyệt thực cho đến chết. Ông tuyên bố: "Nếu con đi, ta sẽ quay lại rừng sâu và chẳng bao giờ đặt chân về thị trấn này nữa."

Juli dỗ dành ông rằng cha cô cần phải trở về, rằng vụ kiện rồi sẽ thắng, và khi ấy họ sẽ chuộc cô khỏi kiếp tôi đòi.

Đêm hôm ấy trôi qua thật đượm buồn. Cả hai chẳng buồn nuốt lấy một miếng và ông lão thì nhất quyết không chịu nằm xuống giường, cứ ngồi lì trong góc nhà suốt cả đêm dài trong im lặng và bất động. Về phần Juli, cô cố chợp mắt nhưng suốt một thời gian dài chẳng tài nào nhắm nổi mi. Phần nào nguôi ngoai nỗi lo về số phận của cha, giờ đây cô quay sang nghĩ ngợi cho bản thân và bật khóc, nhưng phải nén chặt những tiếng nấc để ông lão không nghe thấy. Ngày mai cô sẽ chính thức là một đứa ở, và đó lại đúng là ngày mà Basilio thường ghé qua từ Manila mang theo quà cho cô. Từ nay về sau cô buộc phải từ bỏ mối tình ấy; một kẻ mai sau sẽ làm bác sĩ như Basilio thì làm sao có thể cưới một kẻ bần cùng. Trong trí tưởng tượng, cô thấy anh đang rảo bước đến nhà thờ tay trong tay với cô gái xinh đẹp và giàu có nhất thị trấn, cả hai đều ăn vận tề chỉnh, hạnh phúc nở nụ cười rạng rỡ, trong khi cô, Juli, thì lủi thủi đi sau bà chủ, xách theo nào kinh tuần cửu nhật, trầu cau và ống nhổ. Đến đây cô cảm thấy cổ họng nghẹn đắng, lồng ngực thắt lại, và khẩn cầu Đức Mẹ hãy cho cô chết đi còn hơn.

Nhưng—lương tâm cô thì thầm—anh ít ra cũng sẽ biết rằng tôi thà đem bán thân mình chứ nhất định không chịu nhượng lại chiếc mặt dây chuyền mà anh đã tặng.

Suy nghĩ ấy an ủi cô phần nào và đưa cô chìm vào những giấc mơ hão huyền. Biết đâu một phép màu sẽ xảy ra thì sao? Cô có thể tìm thấy hai trăm năm mươi peso giấu dưới bức tượng Đức Mẹ—cô từng đọc được rất nhiều phép màu tương tự thế. Trời có thể sẽ không sáng hoặc ngày mai sẽ chẳng bao giờ đến, và trong lúc đó vụ kiện đã được định đoạt. Cha cô có thể trở về, hoặc Basilio xuất hiện, hoặc cô tình cờ nhặt được một túi vàng trong vườn, rồi bọn cướp sẽ gửi trả túi vàng, và cha sở, cha Camorra—kẻ lúc nào cũng trêu chọc cô—sẽ xuất hiện cùng bọn cướp rừng. Những ý nghĩ cứ thế rối bời trong đầu, cho đến khi mệt mỏi và đau khổ vắt kiệt sức lực, cô chìm vào giấc ngủ với những giấc mơ về tuổi thơ tận sâu trong rừng già: cô đang tắm suối cùng hai người anh trai, ở đó có những chú cá nhỏ đủ màu sắc sẵn sàng lao vào lưới như những kẻ ngốc, và cô phát bực vì chẳng tìm thấy chút thú vị nào khi bắt những con cá ngốc nghếch như thế! Basilio đang ở dưới làn nước, nhưng vì lý do gì đó khuôn mặt Basilio lại giống hệt người anh trai Tano. Mụ chủ mới đang đứng trên bờ lạnh lùng quan sát họ.

1 Lời chú dẫn hướng đến tiểu thuyết Noli Me Tangere (Đất Nước Tan Nát), tác phẩm đầu tay của tác giả, mà cuốn sách này có thể coi như phần tiếp theo.—Nd.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.