Vào tối thứ Bảy hôm đó, Quiroga, thương gia người Hoa từng nuôi mộng lập một lãnh sự quán cho đất nước mình, đã tổ chức một bữa tiệc tại dãy phòng phía trên cửa hiệu của ông ở khu Escolta. Buổi tiệc có rất đông khách tham dự: các tu sĩ, nhân viên chính quyền, binh lính và thương gia—tất cả đều là khách hàng, đối tác hoặc những vị bảo trợ của ông. Cửa hàng của ông cung cấp mọi nhu yếu phẩm cho các tu viện và nhà xứ, ông sẵn sàng chấp nhận những tờ giấy ghi nợ của mọi công chức, lại có những tên đầy tớ kín đáo, nhanh nhẹn và chiều lòng người. Bản thân các vị tu sĩ cũng chẳng ngại ngần dành cả hàng giờ liền trong cửa hàng của ông, lúc thì ở nơi công cộng, lúc lại quây quần trong các căn phòng riêng với bầu bạn tri âm.
Đêm hôm ấy, phòng khách bỗng mang một vẻ kỳ lạ. Nơi đây chật kín các thầy tu và viên chức ngồi trên ghế Vienna, ghế đẩu gỗ mun và ghế băng đá cẩm thạch gốc Quảng Đông, quây quần trước những chiếc bàn vuông nhỏ để chơi bài hoặc trò chuyện. Dưới ánh hào quang rực rỡ của những chùm đèn mạ vàng hoặc ánh sáng dịu nhẹ từ chiếc đèn lồng Trung Hoa được trang trí lộng lẫy với tua lụa dài, bức tường hiện lên như một sự pha trộn hỗn độn đáng buồn: những bức tranh phong cảnh mang gam màu mờ ảo, lòe loẹt vẽ tại Quảng Đông hay Hồng Kông, đặt cạnh những tấm tranh in màu rẻ tiền vẽ các cô vũ nữ Ba Tư, những người phụ nữ bán khỏa thân, cùng các bức tranh thạch bản ẻo lả vẽ Chúa Kitô, hay cảnh tượng cái chết của người công chính và kẻ tội đồ—do các nhà in Do Thái tại Đức sản xuất nhằm tiêu thụ ở các xứ sở Công giáo. Cũng không thiếu những bức tranh in Trung Hoa trên giấy đỏ khắc họa hình ảnh một người đàn ông ngồi với dáng vẻ đáng kính, gương mặt bình thản, mỉm cười; đứng phía sau ông ta là một tên đầy tớ trông thật xấu xí, gớm ghiếc, ma quái, đầy đe dọa, tay lăm lăm ngọn giáo với lưỡi sắc bén, rộng bản. Giữa cộng đồng người bản xứ, có người gọi nhân vật này là Mohammed, có người gọi là Santiago, chẳng rõ vì lý do gì, và ngay cả bản thân người Trung Hoa cũng không đưa ra được lời giải thích rõ ràng nào cho cặp đôi nổi tiếng này. Tiếng nổ bốp của những nút chai sâm-panh, tiếng lách cách của ly chén, tiếng cười nói, khói xì gà, cùng thứ mùi đặc trưng của một chốn ở người Hoa—hòa quyện giữa nhang trầm, thuốc phiện và trái cây khô—đã làm hoàn chỉnh khung cảnh hỗn độn ấy.
Khoác lên mình bộ trang phục quan chức Trung Hoa với chiếc mũ gắn tua rua xanh, Quiroga đi từ phòng này sang phòng khác, dáng đi cứng nhắc, thẳng thớm nhưng đôi mắt lại láo liên quan sát khắp nơi như thể muốn đảm bảo chẳng có thứ gì bị tha mất. Thế nhưng, bất chấp bản tính đa nghi vốn có ấy, ông ta vẫn bắt tay từng vị khách, người thì chào bằng nụ cười vừa khôn ngoan vừa nhún nhường, kẻ thì với điệu bộ kẻ cả, người khác nữa lại mang nét mặt ranh mãnh như muốn nói: "Ta thừa biết! Các người đâu phải đến vì ta, các người đến vì bữa tiệc này đấy chứ!"
Và Quiroga đã đoán không sai! Viên quý ông mập mạp đang hết lời ca ngợi ông và bàn về sự cần thiết phải thiết lập một lãnh sự quán Trung Hoa tại Manila—đồng thời ám chỉ rằng để quản lý nó thì chẳng có ai thích hợp hơn Quiroga—chính là ngài Gonzalez, kẻ vẫn thường nấp sau bút danh Pitilí mỗi khi viết bài đả kích làn sóng nhập cư của người Hoa trên các cột báo. Người tiếp theo, một cụ già đang săm soi từng chiếc đèn, bức tranh cùng đồ đạc trong phòng với vẻ mặt nhăn nhó và những lời chê bai cay đắng, là Don Timoteo Pelaez, cha của Juanito, một thương gia luôn lớn tiếng chỉ trích sự cạnh tranh từ người Trung Hoa đang làm lụi tàn việc làm ăn của mình. Kẻ ở đằng kia, gã đàn ông gầy gò, da ngăm đen với ánh nhìn sắc lạnh và nụ cười nhạt nhẽo, chính là nhân vật nổi tiếng khơi mào cho vụ tranh chấp đồng peso Mexico từng gây bao rắc rối cho một trong những kẻ được Quiroga bảo bọc; viên thư ký chính quyền ấy được người ta ở Manila đánh giá là cực kỳ khôn ngoan. Xa hơn chút nữa, gã với bộ mặt cau có cùng hàng ria mép bờm xờm, là một viên chức nhà nước nổi tiếng là người có công trạng lớn bởi hắn dám dũng cảm nói xấu về việc kinh doanh vé số diễn ra giữa Quiroga và một vị phu nhân quyền quý trong giới thượng lưu Manila. Thực tế là hai phần ba số vé số đó được đưa thẳng sang Trung Hoa, và số ít ỏi còn lại ở Manila thì được bán với mức chênh lệch nửa real. Vị quan chức khả kính ấy vẫn nuôi hy vọng rằng có ngày mình sẽ trúng giải độc đắc, và hắn đang nổi đóa khi thấy bản thân vướng vào những trò bịp bợm quỷ quái như thế.
Trong khi đó, bữa tiệc đã dần đi đến hồi kết. Từ phòng ăn, từng tràng pháo tay, tiếng ngắt lời, những tiếng cười vang dội và khúc khích lọt vào phòng khách. Cái tên Quiroga vang lên liên tục, đan xen cùng những từ ngữ như "lãnh sự", "bình đẳng", "công lý". Bản thân người chủ tiệc không dùng các món ăn châu Âu, nên ông chỉ thỉnh thoảng nhấp một ngụm rượu cùng các vị khách, đồng thời hứa sẽ sang dùng bữa với những ai chưa được xếp ngồi ở bàn tiệc đầu tiên.
Simoun cũng có mặt; dùng bữa xong từ trước, anh đang đứng trong phòng khách trò chuyện với một nhóm thương gia đang than thở về tình hình kinh doanh: mọi thứ đều đình trệ, thương mại tê liệt, tỷ giá hối đoái châu Âu thì cao cắt cổ. Họ tìm kiếm thông tin từ vị thợ kim hoàn hoặc khéo léo gợi ý vài kế sách, với hy vọng chúng sẽ được chuyển đến tai Toàn quyền. Trước mọi giải pháp được đưa ra, Simoun chỉ đáp lại bằng những lời châm chọc vô cảm rằng đó chỉ là những chuyện vớ vẩn, cho đến khi một người trong số họ quá bực bội bèn hỏi thẳng ý kiến của anh.
"Ý kiến của tôi ư?" anh đáp lại. "Hãy nghiên cứu xem các quốc gia khác thịnh vượng bằng cách nào, rồi làm theo họ."
"Và tại sao họ lại thịnh vượng, thưa ngài Simoun?"
Simoun chỉ nhún vai đáp.
"Những công trình cảng biển đang đè nặng lên thương mại, thế mà cảng vẫn chưa hoàn thành!" Don Timoteo Pelaez thở dài. "Đúng là tấm vải của Penelope như con trai tôi thường nói, cứ dệt rồi lại tháo ra. Lại thêm cả thuế má..."
"Ông mà cũng dám than phiền ư!" một người khác thốt lên. "Trong khi Toàn quyền vừa ra sắc lệnh phá dỡ những ngôi nhà làm bằng vật liệu nhẹ! Còn ông thì đang ôm cả một lô hàng tôn mạ kẽm!"
"Phải," Don Timoteo đáp lời, "nhưng hãy nhìn xem sắc lệnh đó ngốn của tôi bao nhiêu tiền! Hơn nữa, việc phá dỡ sẽ không được tiến hành trong suốt một tháng, cho đến khi Mùa Chay bắt đầu, và những lô hàng khác có thể sẽ cập cảng. Tôi vốn mong chúng bị dỡ bỏ ngay lập tức cơ, nhưng... Mặt khác, nếu tất cả chủ nhân của những ngôi nhà đó đều nghèo túng, đều thành kẻ ăn mày cả thì họ lấy gì mà mua hàng của tôi?"
"Ông luôn có thể mua lại những túp lều rách nát của họ với giá rẻ mạt cơ mà."
"Rồi sau đó đợi sắc lệnh bị thu hồi để bán lại với giá gấp đôi—kinh doanh là thế đấy!"
Simoun mỉm cười lạnh lùng. Thấy Quiroga đang bước tới, anh bời nhóm thương gia đang càu nhàu để chào đón vị lãnh sự tương lai. Vừa trông thấy Simoun, nét mặt mãn nguyện của Quiroga liền biến mất, thay vào đó là vẻ mặt cam chịu giống hệt đám thương gia, đồng thời gã cúi gập cả người.
Quiroga vô cùng kính trọng vị thợ kim hoàn, không chỉ vì biết rõ anh rất giàu có, mà còn bởi lời đồn đại về tầm ảnh hưởng của anh với Toàn quyền. Người ta đồn rằng Simoun ủng hộ tham vọng của Quiroga, rằng anh là người vận động cho việc thành lập lãnh sự quán, và một tờ báo nọ vốn có thành kiến với người Hoa từng ám chỉ anh qua nhiều lối ẩn dụ, bóng gió xa xôi cùng những dấu chấm lửng trong cuộc tranh cãi đình đám với một tờ báo khác đứng về phía những kẻ để tóc đuôi sam. Một số người thận trọng còn nháy mắt và thì thầm rằng Eminence Noir (nhân vật quyền lực bóng tối) đang cố mưu sách khuyên Toàn quyền tận dụng người Trung Hoa để hạ nhục niềm kiêu hãnh bướng bỉnh của người bản xứ.
"Để trị an dân chúng," anh ta được cho là đã nói, "không gì hiệu quả bằng việc làm nhục họ ngay trước mắt họ."
Để đạt được mục đích đó, một cơ hội đã sớm xuất hiện. Các hội đoàn người lai và người bản xứ liên tục dè chừng lẫn nhau, trút bầu hiếu chiến cùng sự ganh đua vào mối nghi kỵ và ghen ghét. Trong một buổi lễ tại nhà thờ, viên gobernadorcillo của người bản xứ được xếp ngồi trên chiếc ghế băng phía bên phải; vốn dĩ rất gầy gò, hắn vô tình vắt chéo chân này lên chân kia, tạo ra một tư thế dửng dưng cốt để khoe cặp đùi và đôi giày đẹp của mình. Viên gobernadorcillo của hội đoàn người lai ngồi ở băng ghế đối diện, vì bị bệnh thống phong và quá béo phì nên không thể vắt chéo chân được, bèn dang rộng hai chân để khoe chiếc áo ghi-lê giản dị nhưng đính một sợi dây chuyền vàng tuyệt đẹp nạm kim cương. Cả hai phe đều hiểu rõ những tính toán ấy và lập tức bước vào trận chiến. Vào chủ nhật tuần sau, toàn bộ người lai, kể cả những kẻ gầy gò nhất, đều cố ưỡn bụng ra và dang rộng hai chân như thể đang cưỡi ngựa; trong khi đó, người bản xứ lại vắt chéo chân này lên chân kia, kể cả những kẻ béo mập nhất, thậm chí có một tên cabeza de barangay còn nhào lộn cả một vòng. Chứng kiến những cử động kỳ quặc đó, toàn bộ người Trung Hoa liền áp dụng tư thế đặc trưng của riêng họ: ngồi xổm như cách họ vẫn ngồi trong các cửa hàng, một chân co gập lên phía trên, chân kia thả lỏng đung đưa. Kết quả là những lời khiếu nại và đơn từ bay đi khắp nơi, cảnh sát xách gậy gốm sẵn sàng châm ngòi cho một cuộc nội chiến, các tu sĩ thì vô cùng thích thú, còn người Tây Ban Nha thì vừa cười đùa vừa vơ vét tiền bạc từ tất cả mọi người, cho đến khi Toàn quyền dẹp yên vụ việc bằng cách ra sắc lệnh: bắt tất cả mọi người phải ngồi theo kiểu của người Trung Hoa, vì họ là những người đóng góp thuế nhiều nhất, dẫu họ không phải là những tín đồ Công giáo tốt nhất. Khó khăn cho người lai và người bản xứ lúc bấy giờ là chiếc quần của họ quá chật để có thể bắt chước tư thế đó của người Trung Hoa. Nhưng để ý định hạ nhục họ càng thêm rõ ràng, biện pháp này đã được thực hiện với nghi thức vô cùng long trọng, nhà thờ bị một đội kỵ binh vây quanh trong khi tất cả những người bên trong đều mướt mồ hôi giàn giụa. Vụ việc đã được đưa lên tận triều đình Tây Ban Nha (Cortes), nhưng người ta vẫn lặp lại rằng người Trung Hoa, với tư cách là những kẻ đóng thuế, phải được quyền làm theo ý mình trong các nghi lễ tôn giáo, dẫu cho ngay sau đó họ có bỏ đạo hay chế giễu Cơ Đốc giáo đi nữa. Người bản xứ và người lai đành phải ngậm ngùi chấp nhận, qua đó rút ra bài học là đừng bao giờ phí thời gian cho những trò ngớ ngẩn như thế.
Quiroga, với cái lưỡi dẻo quánh và nụ cười khúm núm, đang bày tỏ sự quan tâm ngon ngọt và đầy nịnh nọt dành cho Simoun. Giọng hắn ngọt ngào và những cái cúi đầu xuất hiện liên tiếp, nhưng vị thợ kim hoàn đã cắt ngang những lời đường mật ấy bằng một câu hỏi cụ thể:
"Mấy chiếc vòng tay có vừa ý cô ta không?"
Ngay trước câu hỏi này, toàn bộ sự hoạt bát của Quiroga biến mất như một giấc mơ. Giọng điệu ngọt ngào của hắn trở nên thảm thiết; hắn cúi thấp người hơn nữa, thực hiện kiểu chào của người Trung Hoa bằng cách đưa đôi bàn tay chắp lại ngang mặt và rên rỉ: "Ôi, ngài Simoun! Tôi tiêu rồi, tôi khánh kiệt rồi!"
"Sao lại thế, Quiroga, sao lại tiêu đời và khánh kiệt khi trong tay anh có ngần ấy chai sâm-panh và ngần ấy khách khứa?"
Quiroga nhắm nghiền mắt lại và nhăn mặt. Phải, câu chuyện chiều nay, câu chuyện về những chiếc vòng tay ấy đã hại đời hắn. Simoun mỉm cười, bởi khi một thương gia người Hoa than khóc có nghĩa là mọi chuyện vẫn đang tiến triển tốt đẹp, còn khi hắn ra vẻ mọi chuyện đang phất lên thì chắc chắn hắn đang lên kế hoạch tuyên bố phá sản hoặc cao chạy xa bay về nước.
"Ngài không biết rằng tôi đã tiêu đời, đã khánh kiệt rồi sao? Ồ, ngài Simoun, tôi sạt nghiệp rồi!" Để làm rõ tình cảnh của mình, hắn minh họa bằng một động tác ngả rạp người xuống như thể sắp sụp đổ.
Simoun muốn phì cười nhưng kìm lại được, anh đáp rằng mình chẳng hay biết gì sất, đúng lúc Quiroga kéo anh vào một căn phòng rồi khép chặt cửa lại. Hắn bèn bắt đầu giãi bày nguyên nhân tai họa của mình.
Ba chiếc vòng kim cương mà hắn nhận từ tay Simoun với lý do mang về cho vợ xem thực chất không phải dành cho mụ vợ—một người đàn bà bản xứ nghèo khổ chỉ biết giam mình trong phòng như đàn bà Trung Hoa—mà là dành cho một ả nhân tình xinh đẹp, kiều diễm của một nhân vật có thế lực; kẻ mà hắn đang rất cần sự hậu thuẫn trong một vụ mưu sự có thể giúp hắn kiếm lời chừng sáu nghìn peso. Vốn chẳng rành gu thẩm mỹ của phụ nữ lại muốn tỏ ra ga-lăng, tên nhà buôn Trung Hoa đã xin ba chiếc vòng đẹp nhất của vị thợ kim hoàn, mỗi chiếc trị giá từ ba đến bốn nghìn peso. Với vẻ ngây thơ giả tạo cùng nụ cười ngọt ngào nhất, Quiroga đã nài nỉ vị phu nhân chọn lấy chiếc nào cô ta thích nhất, và người đẹp ấy, còn ngây thơ và ngọt ngào hơn thế, đã tuyên bố rằng cô ta thích cả ba và giữ lại tất cả.
Simoun bật cười ha hả.
"Ôi trời ơi, tôi tiêu đời rồi, tôi khánh kiệt rồi!" Tên người Hoa kêu lên, khẽ đập tay vào ngực; nhưng vị thợ kim hoàn vẫn tiếp tục cười.
"Uầy, đúng là hạng người tồi tệ, chắc chắn chẳng phải quý bà gì sất," gã người Hoa tiếp tục lắc đầu vẻ ghê tởm. "Sao cơ chứ! Ả chẳng có lấy một chút liêm sỉ, trong khi tôi, một người Hoa, lúc nào cũng lịch sự! Ồ, chắc chắn ả không phải quý bà thật sự đâu—một nữ công nhân nhà máy thuốc lá còn có liêm sỉ hơn nhiều!"
"Chúng bẫy được anh rồi, chúng bẫy được anh rồi!" Simoun thốt lên, khẽ huých vào ngực hắn.
"Rồi còn chuyện ai nấy đều đến hỏi vay tiền mà chẳng bao giờ trả thì sao? Nào công chức, viên chức, trung úy, binh lính..." hắn đếm từng đối tượng trên những ngón tay dài để móng của mình. "Ôi, ngài Simoun, tôi tiêu đời rồi, tôi sạt nghiệp mất thôi!"
"Thôi ngay cái giọng than vãn ấy đi," Simoun nói. "Tôi đã cứu anh khỏi biết bao nhiêu gã quan chức muốn vòi tiền anh đấy. Tôi đã cho chúng vay để chúng thôi làm phiền anh, dẫu tôi thừa biết chúng chẳng đời nào trả nổi."
"Nhưng ngài Simoun ơi, ngài cho quan chức vay; còn tôi, tôi cho phụ nữ, thủy thủ, đủ mọi thành phần vay cơ mà."
"Tôi cá là anh vẫn thu hồi được tiền của mình."
"Tôi á, thu hồi được tiền á? Ồ, chắc chắn ngài không hiểu rồi! Tiền đã nướng vào cờ bạc thì chúng có bao giờ trả đâu. Hơn nữa, ngài có lãnh sự bảo hộ nên ngài mới ép chúng được, chứ tôi thì làm gì có."
Simoun trầm ngâm suy nghĩ. "Nghe này, Quiroga," anh nói với giọng có chút lơ đễnh, "tôi sẽ đứng ra thu hồi số tiền mà lũ sĩ quan và thủy thủ đang nợ anh. Đưa danh sách những khoản nợ của chúng cho tôi."
Quiroga lại bắt đầu rên rỉ: chúng có bao giờ chịu viết giấy nhận nợ đâu.
"Khi nào chúng đến hỏi vay tiền, hãy bảo chúng tìm tôi. Tôi muốn giúp anh."
Quiroga mang ơn rối rít cảm ơn anh, nhưng chẳng mấy chốc lại quay sang than khóc về vụ ba chiếc vòng tay. "Đến một ả công nhân làm thuốc lá cũng chẳng đến nỗi trơ trẽn như thế!" hắn lặp lại.
"Khỉ thật!" Simoun thốt lên, liếc xéo gã người Hoa như thể đang dò xét hắn. "Đúng lúc tôi đang cần tiền và tưởng rằng anh có thể trả nợ cho tôi! Nhưng mọi chuyện vẫn có thể xoay xở được, vì tôi không muốn anh phải phá sản vì một số tiền nhỏ nhặt như thế. Nào, hãy giúp tôi một việc, tôi sẽ trừ bớt chín nghìn peso anh đang nợ tôi xuống còn bảy nghìn. Anh có thể đưa bất cứ thứ gì mình muốn qua cửa hải quan—những thùng đèn, sắt, đồng, đồ thủy tinh, peso Mexico—anh vẫn cung cấp vũ khí cho các tu viện đấy thôi, phải không?"
Tên người Hoa gật đầu xác nhận, nhưng cũng không quên phàn那 nàn rằng hắn phải chi rất nhiều tiền đút lót. "Tôi cung cấp cho các cha mọi thứ mà!"
"Vậy thì," Simoun hạ thấp giọng nói tiếp, "tôi cần anh nhận giúp vài thùng súng trường vừa cập bến tối nay. Tôi muốn anh cất giấu chúng trong kho của mình; nhà tôi không còn đủ chỗ chứa tất cả."
Quiroga bắt đầu lộ rõ vẻ hoảng sợ.
"Đừng có sợ, anh chẳng gặp rủi ro gì đâu. Những khẩu súng này sẽ được lén lút chuyển vào cất giấu tại nhiều ngôi nhà khác nhau, từng ít một thôi, rồi sau đó một cuộc khám xét sẽ được tiến hành và rất nhiều kẻ sẽ phải tống giam. Anh và tôi có thể kiếm bộn khi đứng ra chạy chọt để thả họ ra. Anh hiểu ý tôi chứ?"
Quiroga ngập ngừng dây dưa, bởi hắn rất sợ vũ khí nóng. Ngay trong ngăn kéo bàn làm việc của hắn có một khẩu súng lục đã tháo đạn mà chưa bao giờ hắn dám chạm vào nếu không quay mặt đi và nhắm nghiền mắt lại.
"Nếu anh không làm được, tôi đành phải tìm người khác vậy, nhưng khi đó tôi sẽ cần đúng chín nghìn peso để lót tay và bịt mắt bọn chúng đấy."
"Được rồi, được rồi!" Cuối cùng Quiroga cũng đành gật đầu đồng ý. "Nhưng sẽ có nhiều người bị bắt chứ? Sẽ có một cuộc khám xét chứ, hử?"
Khi Quiroga và Simoun quay trở lại phòng khách, họ bắt gặp những vị khách đã dùng bữa xong đang say sưa trò chuyện; thứ rượu sâm-panh đã làm cởi mở những chiếc lưỡi và kích thích trí óc họ. Họ đang bàn tán một cách khá thoải mái.
Trong một nhóm gồm có vài viên chức chính quyền, một số phu nhân và ngài Don Custodio, chủ đề bàn luận là về một phái đoàn được cử sang Ấn Độ để tiến hành một số cuộc điều tra về giày dép cho binh lính.
"Những ai nằm trong phái đoàn đó vậy?" một phu nhân lớn tuổi hỏi.
"Một đại tá, hai sĩ quan khác và cháu trai của ngài Toàn quyền."
"Bốn người á?" một viên chức tiếp lời. "Thật là một phái đoàn kỳ cục! Giả sử họ bất đồng ý kiến với nhau—liệu họ có đủ năng lực không?"
"Đó cũng là điều tôi muốn hỏi," một viên chức khác hưởng ứng. "Nghe nói lẽ ra phải cử thêm một thường dân đi cùng, một người không mang định kiến quân sự—chẳng hạn như một thợ đóng giày."
"Đúng thế," một nhà nhập khẩu giày bổ sung, "nhưng không thể cử một người bản xứ hay một người Trung Hoa đi được, trong khi vị thợ đóng giày người Tây Ban Nha duy nhất lại đòi mức thù lao quá cao..."
"Nhưng tại sao họ lại cứ phải tiến hành điều tra về giày dép làm gì cơ chứ?" vị phu nhân lớn tuổi thắc mắc. "Đó có phải dành cho lực lượng pháo binh Tây Ban Nha đâu. Lính bản xứ cứ đi chân đất như ở làng quê của họ cũng được mà."
"Hoàn toàn chính xác, và ngân khố nhà nước sẽ tiết kiệm được khối tiền," một phu nhân khác, một góa phụ vẫn chưa mãn nguyện với khoản tiền lương hưu của mình, hùa theo.
"Nhưng các bà phải nhớ rằng," một người khác trong nhóm, một người bạn của các sĩ quan trong phái đoàn, lên tiếng nhắc nhở, "tuy đúng là họ đi chân đất ở các ngôi làng, nhưng tình hình hoàn toàn khác khi phải hành quân theo lệnh trong quân ngũ. Họ không được phép chọn thời gian, không được chọn đường đi, cũng chẳng được nghỉ ngơi lúc muốn. Thưa phu nhân, hãy nhớ rằng, khi mặt trời đứng bóng thiêu đốt trên đầu và mặt đất bên dưới nóng hầm hập như cái lò nướng, họ phải bước đi trên những dải cát dài, nơi có đầy đá sỏi, trên đầu là lửa dưới chân là than, phía trước là đạn pháo..."
"Đó chỉ là vấn đề quen hay chưa quen thôi!"
"Giống như con lừa tập cho quen với việc không phải ăn ấy hả! Trong chiến dịch hiện tại của chúng ta, phần lớn tổn thất của ta là do những vết thương ở lòng bàn chân. Hãy nhớ đến con lừa, thưa phu nhân, hãy nhớ đến con lừa!"
"Nhưng thưa ngài quý mến," vị phu nhân vặn lại, "hãy nhìn xem biết bao nhiêu tiền của đã bị ném qua cửa sổ vì da giày. Số tiền đó đủ để trợ cấp cho rất nhiều bà góa phụ và trẻ mồ côi nhằm duy trì uy tín của chúng ta rồi. Đừng có cười, vì tôi không nói cho riêng mình, tôi cũng có lương hưu đấy thôi, dẫu nó rất cỏn con, chẳng thấm vào đâu so với những cống hiến mà chồng tôi đã bỏ ra, nhưng tôi đang nói thay cho những người khác đang phải lê lết một cuộc đời khốn khổ! Thật chẳng công bằng chút nào khi sau bao nhiêu lời khuyên nhủ tha thiết để sang đây cùng bao gian khổ vượt biển, họ lại kết thúc cuộc đời ở chốn này bằng cái chết đói. Những gì ngài nói về binh lính có thể đúng, nhưng thực tế là tôi đã sống ở xứ này hơn ba năm rồi, và tôi chẳng thấy người lính nào bị què quặt cả."
"Về điểm này thì tôi đồng ý với phu nhân," người hàng xóm của bà ta nói. "Tại sao lại phải cấp giày cho họ trong khi họ sinh ra đã chẳng có giày để đi?"
"Và tại sao lại phải cấp áo sơ-mi?"
"Và tại sao phải cấp quần?"
"Thử tính xem chúng ta sẽ tiết kiệm được bao nhiêu nếu binh lính chỉ mặc mỗi bộ da trên người!" gã nhân vật đang bảo vệ quân đội kết luận.
Ở một nhóm khác, cuộc trò chuyện diễn ra có phần sôi nổi hơn. Ben-Zayb đang hùng biện và diễn đọc, trong khi cha xứ Camorra, vẫn như mọi khi, liên tục ngắt lời anh ta. Vị nhà báo kiêm tu sĩ này, bất chấp sự tôn trọng dành cho giới mặc áo thụng, luôn luôn hầm hè với cha Camorra—người mà anh ta coi là một gã tu sĩ nửa mùa ngốc nghếch—qua đó tỏ ra mình là một kẻ độc lập và bác bỏ những lời buộc tội của những ai gọi anh ta là Fray Ibañez. Cha Camorra lại khá quý đối thủ của mình, bởi gã là người duy nhất chịu coi những luận điệu của gã là nghiêm túc. Họ đang tranh luận về thuật thôi miên, chủ nghĩa thông linh, ma thuật và những thứ đại loại như vậy. Lời lẽ của họ bay vèo vèo trong không khí như những con dao và quả bóng của những kẻ tung hứng, được ném qua ném lại từ người này sang người khác.
Năm đó, tại hội chợ Quiapo, người ta đổ dồn sự chú ý vào một cái đầu—thường bị gọi nhầm là nhân sư—do một người Mỹ tên là Leeds đem ra trưng bày. Những tấm áp-phích quảng cáo rực rỡ dán đầy trên tường các ngôi nhà, mang vẻ huyền bí và tang tóc nhằm kích thích trí tò mò của công chúng. Cả Ben-Zayb lẫn các vị cha xứ đều chưa từng tận mắt chứng kiến; chỉ có Juanito Pelaez là đã đi xem, và cậu ta đang miêu tả sự kinh ngạc của mình cho cả nhóm nghe.
Ben-Zayb, với tư cách là một nhà báo, luôn tìm kiếm những lời giải thích mang tính khoa học tự nhiên. Cha Camorra thì quả quyết đó là quỷ dữ, cha Irene mỉm cười, còn cha Salvi vẫn giữ vẻ mặt trầm ngâm nghiêm nghị.
"Nhưng thưa cha, quỷ dữ nào cần phải xuất hiện chứ—chúng ta tự bản thân đã đủ khả năng để tự đày xuống hỏa ngục rồi..."
"Chẳng thể giải thích bằng cách nào khác được đâu."
"Nếu khoa học..."
"Mặc xừ cái thứ khoa học của anh đi, puñales!"
"Nhưng hãy nghe tôi nói đây, tôi sẽ chứng minh cho các cha thấy. Tất cả chỉ là vấn đề quang học. Tôi chưa được tận mắt thấy cái đầu đó trông ra sao, nhưng vị quý ông này"—anh ta chỉ tay về phía Juanito Pelaez—"đã nói với chúng ta rằng nó không hề giống những chiếc đầu biết nói thường được đem ra trưng bày. Cứ cho là vậy đi! Nhưng nguyên lý thì vẫn thế—tất cả đều là vấn đề quang học. Đợi chút đã! Người ta đặt một chiếc gương ở đây, một chiếc gương khác ở phía sau, hình ảnh sẽ được phản chiếu—tôi nói rồi, đó thuần túy chỉ là một bài toán vật lý."
Vừa nói, anh ta vừa gỡ mấy chiếc gương treo trên tường xuống, sắp xếp chúng lại, xoay đi xoay lại, nhưng chẳng thu được kết quả mong muốn, đành kết luận: "Đã bảo mà, chẳng có gì hơn ngoài một vấn đề quang học cả."
"Nhưng anh cần gương làm cái quái gì, trong khi Juanito đã bảo với chúng ta rằng cái đầu được đặt bên trong một cái hộp để trên bàn cơ mà? Tôi nhìn thấy chủ nghĩa thông linh ở đây, bởi những kẻ theo trường phái thông linh luôn sử dụng bàn ghế, và tôi nghĩ rằng cha Salvi, với tư cách là quản giáo giáo phận, nên cấm cửa buổi triển lãm đó."
Cha Salvi vẫn im lặng, không nói đồng ý cũng chẳng phản đối.
"Để biết bên trong đó có quỷ dữ hay chỉ là gương," Simoun gợi ý, "cách tốt nhất là các vị nên tự mình đến tận nơi để ngắm nghía vị nhân sư nổi tiếng ấy."
Đó là một ý kiến hay nên đã được chấp thuận, dẫu cho cha Salvi và Don Custodio vẫn tỏ ra có chút miễn cưỡng. Bọn họ mà lại đến một hội chợ ư, để chen chúc chà vai sát cánh với đám đông dân chúng, để ngắm nhìn nhân sư với đầu biết nói ư? Người ta bản xứ sẽ nghĩ gì về họ chứ? Những kẻ đó có thể coi họ chẳng khác nào người phàm, cũng đầy rẫy những đam mê và yếu đuối như bao kẻ khác. Nhưng Ben-Zayb, với sự nhanh nhạy của một nhà báo, đã hứa sẽ đề nghị ông Leeds không đón tiếp công chúng trong thời gian họ viếng thăm. Sự hiện diện của họ đã là một vinh dự lớn đối cưả người chủ quán nên hắn không thể từ chối, vả lại ông ta cũng sẽ chẳng thu tiền vé vào cửa. Để tăng thêm vẻ hợp lý cho kế hoạch, anh ta kết luận: "Bởi vì, các vị hãy nhớ rằng, nếu tôi vạch trần trò bịp bợm của những chiếc gương trước công chúng, thì việc kinh doanh của tội nghiệp gã người Mỹ kia sẽ tiêu đời mất." Ben-Zayb quả là một cá nhân vô cùng có tâm.
Khoảng một tá người đã khởi hành, trong đó có những người quen của chúng ta gồm các cha Salvi, Camorra, Irene, Don Custodio, Ben-Zayb và Juanito Pelaez. Xe ngựa thả họ xuống ngay lối vào Quảng trường Quiapo.