Đêm hôm ấy, một sự kiện lớn diễn ra tại Teatro de Variedades. Đoàn kịch operetta Pháp của ông Jouay đang trình diễn buổi biểu diễn mở màn, vở Les Cloches de Corneville. Trước công chúng sẽ là màn ra mắt của đoàn nghệ sĩ ưu tú mà bấy lâu nay các mặt báo không tiếc lời ca tụng. Người ta đồn rằng trong số các nữ diễn viên có một người sở hữu chất giọng tuyệt trần, cùng một vóc dáng còn tuyệt mỹ hơn thế, và nếu tin được lời bàn tán, thì sự duyên dáng của nàng thậm chí còn vượt qua cả giọng hát lẫn sắc vòm.
Vào lúc bảy giờ rưỡi tối, vé đã bán sạch không còn một lấy một, dẫu cho đó có là vé dành cho chính cha xứ Salvi trong cơn khẩn thiết đi chăng nữa, và những người chờ mua vé vào cửa thông thường đã xếp thành một hàng dài. Tại phòng bán vé, những cảnh xô đẩy, cãi cã diễn ra, tiếng bàn tán về chủ nghĩa phiêu lưu và sắc tộc vang lên, thế nhưng điều đó chẳng thể đẻ ra thêm một chiếc vé nào, để rồi đến tám giờ kém mười lăm, người ta đang ra giá những con số cắt cổ cho chúng. Vẻ bề ngoài rực rỡ ánh đèn của tòa nhà, với hoa và cây cối bài trí ở mọi cửa ra vào lẫn cửa sổ, khiến những kẻ mới đến mê mẩn đến mức họ phải thốt lên những lời trầm trồ và vỗ tay tán thưởng. Một đám đông lớn tụ tập quanh lối vào, đầy ganh tỵ ngắm nhìn những ai đang bước vào, những kẻ đến sớm vì sợ lỡ mất chỗ ngồi. Tiếng cười nói, thì thầm và sự hồi hộp chào đón những vị khách đến muộn, những kẻ với vẻ mặt tiu nghỉu gia nhập vào đám đông tò mò, và giờ đây khi không thể bước vào trong, họ đành tự an ủi bằng cách ngắm nhìn những người may mắn ấy.
Thế nhưng, có một kẻ dường như lạc lõng giữa bầu không khí đầy háo hức và tò mò nhường ấy. Hắn là một người đàn ông cao gầy, lê lết cứng nhắc một bên chân mỗi khi bước đi, khoác lên mình chiếc áo khoác nâu tơi tả cùng chiếc quần sọc ca-rô bẩn thỉu bó sát lấy đôi chân gầy guộc, xương xẩu. Một chiếc mũ rơm trông còn nghệ thuật chán dẫu đã rách rưới che đi cái đầu quá cỡ, để lộ phần tóc bết xám, suýt ngả đỏ, tua tủa dài và xoăn tít ở ngọn trông như mái tóc của một thi sĩ. Nhưng điều đáng chú ý nhất ở con người này không phải là y phục hay những nét mặt mang vóc dáng châu Âu, hoàn toàn nhẵn nhụi không râu mép, mà là gương mặt đỏ rực như lửa, thứ đã mang lại cho hắn cái biệt danh mà người ta vẫn dùng để gọi hắn: Camaroncocido. Hắn là một nhân vật kỳ quái xuất thân từ một gia đình Tây Ban Nha danh giá, nhưng lại sống như một kẻ lang thang và ăn mày, nhạo bang cả cái thanh danh mà hắn hững hờ giẫm đạp bằng những thảm rách của mình. Hắn nổi tiếng là một dạng phóng viên, và thực vậy, đôi mắt kính xám lạnh lùng cùng vẻ trầm ngâm ấy luôn xuất hiện ở bất cứ nơi nào có chuyện để đăng báo. Cách sinh sống của hắn là một điều bí ẩn đối với tất cả mọi người, chẳng ai biết hắn ăn và ngủ ở đâu. Có lẽ hắn có một cái thùng phuy rỗng nào đó ở xó xỉnh nào chăng.
Nhưng vào khoảnh khắc ấy, Camaroncocido lại không mang vẻ mặt chai sạn và thờ ơ thường thấy, phảng phất trong ánh nhìn của hắn tựa hồ như một sự mỉa mai đầy buồn cười. Một lão già kỳ cục vui vẻ tiến lại bắt chuyện với hắn.
"Bạn tôi ơi!" gã kia thốt lên bằng chất giọng khàn đặc như ếch kêu, vừa giơ ra mấy đồng pesos Mexico mà Camaroncocido chỉ liếc qua rồi hờ hững nhún vai. Chúng nào có nghĩa lý gì với hắn?
Lão già nhỏ thó ấy quả là một sự tương phản hoàn hảo với hắn. Nhỏ con, vô cùng nhỏ con, lão đội trên đầu chiếc mũ phớt cao lêu nghêu trông như một con sâu lông khổng lồ, lọt thỏm trong chiếc áo choàng dài rộng thùng thình quá khổ, để rồi lại lòi ra chiếc quần ngắn củn cỡn chẳng với tới bắp chân. Cơ thể lão trông như ông nội còn đôi chân lại như đám cháu chắt, trong khi về đôi giày thì lão có vẻ như đang bơi trên mặt đất, bởi chúng là một đôi giày thủy thủ ngoại cỡ, dường như đang chống đối lại con cái mũ lông nhùn nhùm đội trên đầu với tất cả sự quyết liệt của một nhà tu kín bên cạnh Triển lãm Thế giới. Nếu Camaroncocido mang sắc đỏ, thì lão lại có màu nâu; trong khi người kia, dẫu mang dòng máu Tây Ban Nha mà trên mặt chẳng có nổi một cọng râu, thì lão, một kẻ bản địa, lại có chòm râu dê và ria mép dài, trắng và thưa thớt. Nét mặt lão đầy sống động. Lão được gọi là Tio Quico, và cũng giống như người bạn của mình, lão sống nhờ vào nghề quảng cáo, rao bán các buổi biểu diễn và dán các thông cáo kịch nghệ, có lẽ là người Philippines duy nhất có thể hiên ngang xuất hiện với mũ phớt và áo choàng dài, hệt như người bạn của lão là người Tây Ban Nha đầu tiên dám cười trừ trước uy thế của chủng tộc mình.
"Gã người Pháp đã trả công tôi rất hậu," lão nói, mỉm cười và lộ ra hàm lợi kỳ quặc trông giống như một con phố sau trận hỏa hoạn. "Tôi đã làm rất tốt việc dán những tấm áp-phích."
Camaroncocido lại nhún vai. "Quico," hắn đáp lại bằng chất giọng từ đáy mộ, "nếu họ trả anh sáu pesos cho công sức đó, thì họ sẽ bố thí cho mấy thầy tu bao nhiêu?"
Tio Quico ngửahẳn đầu ra sau với vẻ sống động thường thấy. "Cho mấy thầy tu á?"
Camaroncocido tiếp lời: "Bởi vì chắc chắn anh biết rằng toàn bộ đám đông này đều được các nhà tu kín gom về cho họ rồi."
Sự thật là các tu sĩ, đứng đầu là cha xứ Salvi, cùng một số tu huynh do Don Custodio làm thủ lĩnh, đã phản đối những buổi biểu diễn như thế. Cha Camorra, kẻ không thể tham dự, nước mắt nước dãi tuôn trào nhưng vẫn tranh cãi với Ben-Zayb — kẻ đang bảo vệ chúng một cách yếu ớt vì nghĩ đến những chiếc vé miễn phí mà họ sẽ gửi cho tờ báo của hắn. Don Custodio bàn về đạo đức, tôn giáo, cung cách ứng xử và những thứ đại loại thế.
"Nhưng," gã nhà báo lắp bắp, "nếu những vở hề của chính chúng ta với những màn chơi chữ và câu cú mang tầng nghĩa kép—"
"Nhưng ít ra chúng còn là tiếng Castilian!" vị ủy viên đức hạnh ngắt lời với một tiếng gầm gừ, bừng bừng nổi giận chính nghĩa. "Những lời tục tĩu bằng tiếng Pháp, hả anh bạn Ben-Zayb, lạy Chúa, lại bằng tiếng Pháp ư! Không bao giờ!"
Lão thốt lên từ "không bao giờ" ấy với sức nặng của ba tráng sĩ Guzman bị dọa giết như rạp nếu không chịu giao nộp hai mươi đồng Tarifa. Cha Irene dĩ nhiên đồng tình với Don Custodio và nguyền rủa vở operetta Pháp. Chà, ngài từng đến Paris, nhưng chưa bao giờ đặt chân vào một nhà hát, lạy Chúa phù hộ ngài!
Thế nhưng, vở operetta Pháp cũng có không ít kẻ ủng hộ. Các sĩ quan lục quân và hải quân, trong đó có các tùy tùng của Toàn quyền, các viên chức và nhiều người thuộc tầng lớp thượng lưu đều khao khát được thưởng thức những nét tinh tế của ngôn ngữ Pháp thốt ra từ miệng những phụ nữ Paris chính gốc, đồng thời đứng chung chiến tuyến với họ là những kẻ từng đi du lịch bằng hãng tàu M.M. và bập bõm dăm ba câu tiếng Pháp trong suốt hải trình, những người từng ghé thăm Paris, và tất cả những ai muốn tỏ ra mình là kẻ uyên bác.
Do đó, giới thượng lưu Manila chia thành hai phe: phe ủng hộ operetta và phe phản đối operetta. Phe sau được hậu thuẫn bởi các bà quý bà lớn tuổi, những người vợ ghen tuông và luôn dè chừng tình cảm của chồng mình, cùng với những kẻ đã đính ước, trong khi những kẻ còn độc thân và những giai nhân tuyệt sắc lại tuyên bố mình là những tín đồ cuồng nhiệt của operetta. Những bức thư tay cứ thế trao qua đổi lại, những chuyến viếng thăm ngược xuôi, những lời buộc tội lẫn nhau, các cuộc họp, vận động hành lang, tranh luận, thậm chí cả những lời bàn tán về một cuộc nổi dậy của người bản địa, về sự lười biếng của họ, về chủng tộc hạ đẳng và thượng đẳng, về uy thế cùng những thứ bịp bợm khác, để rồi sau bao lời đồn đại và lắm bề phàn nộ, giấy phép cũng được chuẩn y, đồng thời cha xứ Salvi cho phát hành một bài mục vụ chẳng một ai đọc ngoài người thợ sửa bản in. Những câu hỏi cứ thế đặt ra liệu Toàn quyền có cãi nhau với Nữ bá tước hay không, liệu nàng có dành thời gian của mình trong những chốn vui chơi hay không, liệu Ngài Đại diện có vô cùng phật ý hay không, liệu có món quà nào được trao đổi hay không, liệu lãnh sự Pháp có —, cứ thế kéo dài mãi. Rất nhiều cái tên được tung hô: Quiroga người Trung Hoa, Simoun, và thậm chí cả tên của nhiều nữ diễn viên.
Nhờ những màn dạo đầu đầy tai tiếng ấy, sự thiếu kiên nhẫn của người dân đã bị khơi gợi, và kể từ tối hôm trước, khi đoàn kịch tới nơi, chẳng ai bàn tán gì khác ngoài việc đi xem buổi biểu diễn đầu tiên. Từ khoảnh khắc những tấm áp-phích đỏ rực thông báo vở Les Cloches de Corneville xuất hiện, những kẻ chiến thắng đã chuẩn bị tinh thần để ăn mừng chiến thắng của họ. Ở một số văn phòng, thay vì dành thời gian đọc báo và bu chuyện, người ta cắm cổ ngấu nghiến bản tóm tắt cốt truyện và đánh vần từng chữ trong các tiểu thuyết tiếng Pháp, trong khi nhiều kẻ giả vờ có việc bận bên ngoài để lén lút tra cứu từ điển bỏ túi. Nhờ thế chẳng có công việc nào được giải quyết, những vị khách đến thăm được nhắn quay lại vào hôm sau, nhưng công chúng chẳng thể phật ý, bởi họ bắt gặp những nhân viên vô cùng lịch sự và niềm nở, những người tiếp đón và tiễn đưa họ bằng những cái cúi chào thật lớn theo phong cách Pháp. Các nhân viên đang luyện tập, phủi sạch bụi bám trên vốn tiếng Pháp của mình, và liên tục gọi nhau oui, monsieur, s’il vous plait, cùng pardon ở mọi ngóc ngách, khiến người ta cảm thấy thật thích thú khi được chứng kiến và lắng nghe.
Nhưng nơi mà sự cuồng nhiệt đẩy lên đến đỉnh điểm chính là tòa soạn báo. Ben-Zayb, với trọng trách được giao là nhà phê bình kiêm dịch giả của bản tóm tắt cốt truyện, run lẩy bẩy như một mụ nghèo bị buộc tội phù thủy khi thấy kẻ thù của mình vạch ra những lỗi ngớ ngẩn và ném thẳng vào mặt hắn sự thiếu hụt kiến thức tiếng Pháp. Khi vở opera Ý công diễn, hắn suýt chút nữa đã nhận được lời thách đấu chỉ vì dịch nhầm tên của một nam ca sĩ, trong khi một đối thủ ganh tỵ ngay lập tức cho đăng bài báo gọi hắn là một kẻ vô học — hắn, bộ óc tư duy hàng đầu ở Philippines! Biết bao rắc rối hắn phải trải qua để tự vệ! Hắn đã phải viết ít nhất mười bảy bài báo và tra cứu mười lăm cuốn từ điển, thế nên với những ký ức đầy ám ảnh ấy, gã Ben-Zayb khốn khổ di chuyển với đôi bàn tay nặng tựa chì, chưa thèm nói đến đôi chân của hắn, bởi làm thế chẳng khác nào đạo văn của cha Camorra — kẻ từng ẩn ý rằng nhà báo này viết văn bằng chân.
"Anh thấy đấy, Quico?" Camaroncocido lên tiếng. "Một nửa số người kéo đến đây vì mấy ông thầy tu bảo họ đừng đi, biến nó thành một dạng biểu tình phản đối công khai, và nửa còn lại vì họ tự nhủ: ‘Mấy ông thầy tu phản đối á? Thế thì chắc chắn nó mang tính giáo dục rồi!’ Tin tôi đi, Quico, những bảng quảng cáo của anh rất hữu dụng nhưng bài mục vụ còn tuyệt vời hơn nhiều, dẫu có tính đến thực tế là chẳng mống nào thèm đọc nó."
"Này bạn, anh có tin rằng," Tio Quico lo lắng hỏi, "vì sự cạnh tranh với cha xứ Salvi mà công việc của tôi sau này sẽ bị cấm đoán không?"
"Có lẽ vậy, Quico, có lẽ vậy," người kia đáp, ngước nhìn bầu trời. "Tiền bạc đang dần cạn kiệt."
Tio Quico lẩm bẩm vài từ rời rạc: nếu các thầy tu mà chuyển sang làm nghề dán áp-phích quảng cáo nhà hát, chắc hắn sẽ đi tu mất thôi. Sau khi chào từ biệt người bạn, lão lủi thủi bước đi, vừa ho vừa khua lủng củng những đồng bạc trong túi.
Với sự thờ ơ muôn thuở, Camaroncocido tiếp tục lang thang hết chỗ này đến chỗ khác với cái chân thọt và ánh mắt ngái ngủ. Sự xuất hiện của những gương mặt lạ lẫm thu hút sự chú ý của hắn, khi chúng từ khắp các ngả tiến đến và ra hiệu cho nhau bằng một cái nháy mắt hay tiếng hắng giọng. Đây là lần đầu tiên hắn nhìn thấy những cá nhân này trong một dịp như thế, một kẻ vốn rành rọt mọi gương mặt và đường nét trong thành phố. Những kẻ với gương mặt sạm đen, vai gù, cử động bất an và đầy ngờ vực, ngụy trang một cách vụng về như thể đây là lần đầu tiên chúng mặc những chiếc áo khoác rộng thùng thình, đang len lỏi giữa bóng râm, tránh né sự chú ý thay vì chen chân lên những hàng ghế đầu để có thể thưởng thức trọn vẹn.
"Thám tử hay kẻ trộm?" Camaroncocido tự hỏi rồi lập tức nhún vai. "Nhưng điều đó thì liên quan gì đến ta?"
Ánh đèn từ một cỗ xe ngựa phóng qua rọi sáng thoáng qua một nhóm bốn, năm kẻ đang thì thầm với một người có vẻ là sĩ quan quân đội.
"Thám tử! Chắc hẳn là một đội ngũ mới đây," hắn lẩm bẩm kèm theo cái nhún vai đầy thờ ơ. Tuy nhiên, chẳng mấy chốc hắn nhận ra người sĩ quan kia, sau khi trao đổi với hai ba nhóm nữa, đã tiến lại gần một chiếc xe ngựa và có vẻ đang lớn tiếng bànạc với ai đó ngồi bên trong. Camaroncocido bước tới vài bước và không chút ngạc nhiên khi nhận ra gã thợ kim hoàn Simoun, trong khi đôi tai thính nhạy của hắn kịp thu vào đoạn đối thoại ngắn ngủi này.
"Tín hiệu sẽ là một phát súng!"
"Vâng, thưa ngài."
"Đừng lo — đó là lệnh từ Toàn quyền, nhưng hãy cẩn thận khi nhắc đến điều đó. Nếu anh làm theo chỉ thị của tôi, anh sẽ được thăng chức."
"Vâng, thưa ngài."
"Thế nên, hãy sẵn sàng!"
Giọng nói ngưng bặt và chỉ một giây sau chiếc xe ngựa lao vút đi. Bất chấp sự dửng dưng vốn có, Camaroncocido không khỏi lẩm bẩm: "Có gì đó đang nhen nhóm — hãy cẩn thận cái túi của mình!"
Nhưng khi nhận ra túi mình chẳng có lấy một xu, hắn lại nhún vai. Mặc cho trời có sập xuống thì điều đó có can dự gì đến hắn?
Thế là hắn tiếp tục cước bộ lang thang. Khi đi ngang qua hai kẻ đang trò chuyện rôm rả, hắn bắt được câu nói bằng tiếng Tagalog của một tên trên cổ đeo đầy chuỗi tràng hạt và bùa hộ mệnh: "Mấy ông thầy tu còn quyền lực hơn cả Toàn quyền, đừng có ngốc! Ngài ấy rồi sẽ đi và họ vẫn ở lại đây. Thế nên, nếu chúng ta làm tốt việc này, chúng ta sẽ giàu to. Tín hiệu là một phát súng."
"Từ từ đã, từ từ nào," Camaroncocido lẩm bẩm, các ngón tay siết chặt lại. "Bên kia là Toàn quyền, bên này là cha xứ Salvi. Đất nước tội nghiệp! Nhưng điều đó thì dính dáng gì đến ta?"
Lại nhún vai và khạc nhổ một bãi nước bọt, hai hành động đối với hắn chính là biểu hiện của sự thờ ơ tột độ, hắn tiếp tục rảo mắt quan sát.
Trong khi đó, những chiếc xe ngựa nối đuôi nhau ùn ùn kéo đến, dừng ngay trước cửa để thả các thành viên của giới thượng lưu xuống. Dẫu thời tiết chẳng lấy gì làm lạnh giá, các quý bà vẫn chưng diện những chiếc khăn choàng lộng lẫy, khăn lụa quàng cổ và thậm chí cả áo khoác nhẹ. Sánh bước cùng họ, một số nam nhân mặc áo choàng dài thắt nơ trắng còn diện thêm cả áo khoác ngoài, trong khi số khác vắt chúng trên tay để khoe lớp lót bằng lụa đắt tiền.
Trong một đám đông khán giả, Tadeo — kẻ cứ hễ giáo sư xuất hiện là lăn đout ốm — đang đi cùng một đồng hương của mình, vị tu sĩ tập sự mà chúng ta từng thấy phải gánh chịu hậu quả tai hại vì đọc sai nguyên lý Descartes. Vị tu sĩ tập sự này cực kỳ tò mò và hay hỏi những câu hỏi phát phiền, và Tadeo đang tận dụng sự ngây thơ cùng thiếu kinh nghiệm của hắn để thêu dệt nên những lời dối trá động trời nhất. Bất kỳ người Tây Ban Nha nào bắt chuyện với hắn, dẫu chỉ là một tay thư ký hay kẻ dưới quyền, cũng được giới thiệu là một đại thương gia, một hầu tước hay bá tước, trong khi ngược lại, bất cứ ai lướt qua hắn đều chỉ là một gã lính mới tò te, một viên quan tép riu, một kẻ chẳng ra gì! Khi những người đi bộ không đủ để duy trì sự kinh ngạc của vị tu sĩ tập sự, hắn bèn viện đến những chiếc xe ngựa lộng lẫy đang tiến vào. Tadeo sẽ cúi đầu lịch thiệp, vẫy tay chào một cách thân thiện và cất lời chào hỏi mừng rỡ.
"Ai thế kia?"
"Ừ thì!" gã đáp lại một cách hờ hững. "Thống đốc Dân sự, Phó Thống đốc, Thẩm phán ——, Phu nhân ——, toàn là bạn của tôi cả đấy!"
Vị tu sĩ tập sự trố mắt ngạc nhiên và lắng nghe trong sự mê hoặc, cẩn trọng đi sát về phía bên trái. Tadeo là bạn của cả thẩm phán lẫn thống đốc cơ đấy!
Tadeo xướng tên tất cả những người vừa đến, nếu không biết hắn sẽ tự bịa ra tước hiệu, tiểu sử và những giai thoại thú vị.
"Cậu thấy người đàn ông cao gầy có bộ ria mép sẫm màu, hơi lé, mặc đồ đen kia chứ — đó là Thẩm phán A ——, bạn tri kỷ của vợ Đại tá B ——. Có hôm nếu không có tôi can thiệp thì họ đã tẩn nhau rồi đấy. Kia kìa, Đại tá tới rồi kìa! Nhỡ họ mà đánh nhau thì sao nhỉ?"
Vị tu sĩ tập sự nín thở, nhưng viên đại tá và vị thẩm phán lại bắt tay nhau thật nồng nhiệt, người lính già độc thân ân cần hỏi thăm sức khỏe gia đình vị thẩm phán.
"A, ơn Chúa!" Tadeo thở phào. "Tôi chính là người đã hòa giải cho họ đấy."
"Lỡ họ mời chúng ta vào trong thì sao?" vị tu sĩ tập sự rụt rè hỏi.
"Thôi đi cậu! Tôi không bao giờ nhận ân huệ!" Tadeo ra vẻ uy nghi đáp. "Chính tôi là người ban ơn, nhưng là một cách vô vụ lợi."
Vị tu sĩ tập sự mím môi và cảm thấy bản thân bỗng nhỏ bé hơn bao giờ hết, đoạn cậu ta lùi ra một khoảng cách đầy tôn kính với người đồng hương của mình.
Tadeo tiếp tục màn khoa trương: "Đó là nhạc sĩ H——; người kia là luật sư J——, kẻ từng đọc tuốt tuột một bài diễn văn in sẵn trong sách như thể của chính mình và nhận được vô số lời chúc tụng lẫn ái mộ; Bác sĩ K——, cái người vừa bước xuống khỏi chiếc xe ngựa hai bánh kia chính là chuyên gia về bệnh trẻ em, thế nên người ta gọi hắn là vua Hê-rốt; kia là nhà tài phiệt L——, kẻ lúc nào cũng chỉ biết mở miệng ra là tiền với của cải cất giấu; thi sĩ M——, người lúc nào cũng tơ tưởng đến những vì sao và cõi vĩnh hằng. Kìa là người vợ xinh đẹp của N——, người mà cha xứ Q——vẫn hay hẹn hò mỗi khi đến thăm người chồng vắng nhà; thương gia người Do Thái P——, kẻ đến với những hòn đảo này chỉ với một ngàn pesos và giờ đã là triệu phú. Gã có bộ râu dài kia là thầy thuốc R——, kẻ phất lên nhờ làm cho bệnh nhân thêm phần trầm trọng chứ chẳng phải nhờ chữa khỏi cho họ."
"Làm cho bệnh nhân trầm trọng ư?"
"Phải chứ cậu, trong mấy đợt khám tuyển nghĩa vụ quân sự ấy mà. Chú ý này! Cái gã ăn mặc chải chuốt kia không phải bác sĩ mà là một tay gia vi lượng đồng căn sui generis — hắn tôn sùng triệt để nguyên lý similis similibus. Vị sĩ quan kỵ binh trẻ tuổi đi cùng hắn là đệ tử ruột của hắn. Gã mặc đồ sáng màu đội mũ lệch kia là viên thư ký chính phủ có châm ngôn sống là không bao giờ tỏ ra lịch sự và sẽ lôi đình nổi giận hừng hực hễ thấy ai đội mũ trên đầu — người ta bảo hắn làm thế để phá sản bọn thợ làm mũ người Đức. Người vừa đến cùng gia đình là thương gia giàu có C——, người có thu nhập hơn một trăm ngàn pesos. Nhưng cậu sẽ nói gì nếu tôi bảo hắn vẫn đang nợ tôi bốn pesos, năm xu và mười hai centavo? Mà đời nào đi đòi nợ một kẻ giàu sụ như thế chứ?"
"Gã đó đang nợ tiền anh á?"
"Chứ sao! Có một bận tôi đã cứu hắn một bàn thua trông thấy. Đó là vào một ngày thứ Sáu lúc sáu giờ rưỡi sáng, tôi vẫn còn nhớ rõ, bởi vì lúc ấy tôi chưa ăn sáng. Người phụ nữ có nữ gia sư đi kèm kia là nàng Pepay đình đám, vũ công nổi tiếng, nhưng giờ thì nàng không còn nhảy nhót gì nữa kể từ khi một vị quý ông vô cùng sùng đạo và là chỗ bạn thân của tôi đã — cấm tiệt nàng làm thế. Kìa là cái sọ người Z——, chắc chắn hắn đang bám theo để dụ nàng múa lại đây mà. Hắn là một tay được đấy, và là bạn tri kỷ của tôi, chỉ có một tật xấu — là một kẻ lai Trung Hoa mà cứ mở miệng ra là tự nhận mình là người Tây Ban Nha chính gốc. Xùy! Nhìn Ben-Zayb kìa, gã có khuôn mặt của một ông thầy tu, đang cầm bút chì và cuộn giấy trên tay. Hắn là nhà văn lớn, Ben-Zayb, bạn thân của tôi đấy — hắn có tài lắm cơ!"
"Thật thế á? Thế còn người đàn ông thấp bé có bộ ria mép trắng kia là ai?"
"Đó là vị quan chức đã nhét ba cô con gái cưng của mình vào làm trợ lý trong bộ của lão, cốt để tết tên họ vào danh sách nhận lương. Lão là một kẻ khôn ngoan, cực kỳ khôn ngoan! Khi gây ra lỗi lầm, lão toàn đổ vạ cho kẻ khác, mua sắm mọi thứ và lấy tiền từ ngân khố ra trả. Lão khôn, khôn hết chỗ nói!"
Tadeo định nói thêm nhưng chợt khựng lại.
"Còn vị quý ông trông có vẻ hung hãn và nhìn mọi người bằng nửa con mắt kia là ai vậy?" vị tu sĩ tập sự hỏi, chỉ tay về phía một kẻ đang hất hàm chào hỏi ngạo mễ.
Nhưng Tadeo chẳng thèm đáp lời. Hắn đang rướn cổ lên để ngắm nhìn Paulita Gomez đang tiến đến cùng một người bạn là Doña Victorina và Juanito Pelaez. Kẻ sau vừa tặng nàng một chiếc hộp và chiếc lưng gù của hắn càng lúc càng rõ.
Hết chiếc xe ngựa này đến chiếc xe ngựa khác nối đuôi nhau trờ tới; các nam thanh nữ tú diễn viên cập bến và bước vào qua một lối đi riêng, theo sau là bạn bè và những kẻ ái mộ họ.
Sau khi Paulita đã bước vào trong, Tadeo tiếp tục: "Đó là mấy cô cháu gái của viên Đại úy giàu có D——, những người đang tiến đến trên chiếc xe ngựa landau; cậu thấy họ xinh đẹp và khỏe mạnh nhường nào không? Chà, chỉ vài năm nữa thôi là họ sẽ chết hoặc điên khùng cả lũ. Đại úy D—— phản đối việc họ kết hôn, và căn bệnh điên của người cậu đang ứng nghiệm dần lên mấy đứa cháu gái. Kia là Tiểu thư E——, nàng tiểu thư giàu có mà cả thế giới lẫn các nhà tu kín đang tranh giành nhau sứt đầu mẻ trán. Ô kìa, tôi quen gã đó! Đó là cha Irene đang cải trang, gắn cả ria mép giả. Tôi nhận ra ngay cái mũi của lão. Thế mà lão từng kịch liệt phản đối chuyện này đấy!"
Vị tu sĩ tập sự mang vẻ mặt bàng hoàng dõi theo chiếc áo khoác được cắt may gọn gàng đang khuất dần sau một nhóm các quý bà.
"Bộ Ba Nữ Thần Định Mệnh!" Tadeo tiếp lời khi chứng kiến sự xuất hiện của ba người phụ nữ héo hắt, xương xẩu, mắt trũng sâu, miệng rộng hoác và ăn mặc lếch thếch.
"Họ tên là Atropos phải không ạ?" vị tu sĩ tập sự bạo gan đoán, cốt để chứng tỏ rằng mình cũng biết dăm ba người, ít ra là trong thần thoại.
"Không đâu cậu ơi, họ được gọi là Những Mụ Chờ Đợi Mệt Mỏi — già nua, hay xoi mói và tẻ ngắt. Họ ra vẻ căm ghét tất cả mọi người — đàn ông, đàn bà lẫn trẻ con. Nhưng nhìn xem Chúa luôn an bài sẵn phương dược bên cạnh tai ương, chỉ có điều đôi khi nó đến hơi muộn màng. Ngay đằng sau mấy mụ Định Mệnh, những nỗi kinh hoàng của thành phố ấy, là ba cô gái, niềm kiêu hãnh của bạn bè họ, và tôi tự hào nhận mình là một trong số đó. Gã thanh niên gầy gò đeo kính cận, lưng hơi còng, đang khua tay múa chân điên cuồng vì không mua được vé kia chính là nhà hóa học S——, tác giả của vô số bài luận và chuyên khảo khoa học, một vài trong số đó vô cùng nổi tiếng và từng giành giải thưởng. Người Tây Ban Nha thường bảo về hắn rằng: ‘Vẫn còn hy vọng ở gã này, vẫn còn hy vọng.’ Gã đang xoa dịu hắn bằng nụ cười theo trường phái Voltaire chính là thi sĩ T——, một thanh niên tài năng, bạn tri kỷ của tôi, và cũng chính vì có tài nên hắn đã némừ bút mực đi rồi. Gã đang tìm cách len lỏi vào khu vực diễn viên qua cánh cửa bên kia là bác sĩ trẻ U——, người từng thực hiện vài ca chữa bệnh thần kỳ — người ta cũng đồn rằng hắn có tiềm năng lớn. Hắn không hẳn là kẻ đê tiện như Pelaez nhưng còn khôn lỏi và xảo quyệt hơn gấp bội. Tôi tin rằng hắn dám đánh súc sắc với tử thần và thể nào cũng thắng."
"Còn vị quý ông da ngăm đen có bộ ria mép cứng như lông lợn kia là ai ạ?"
"À, đó là thương gia F——, kẻ làm giả tất cả mọi thứ, kể cả giấy khai sinh của chính mình. Bằng mọi giá hắn muốn làm một gã lai Tây Ban Nha, và đang nỗ lực hết mình để quên đi tiếng mẹ đẻ."
"Nhưng các cô con gái của ông ta trắng trẻo lắm cơ mà."
"Phải, đó là lý do vì thế mà giá gạo tăng vọt, thế mà chúng lại chẳng thèm ăn gì ngoài bánh mì."
Vị tu sĩ tập sự chẳng tài nào hiểu nổi mối liên hệ giữa giá gạo và làn da trắng ngần của mấy cô nàng ấy, nhưng cậu ta đành ngậm miệng im lặng.
Tadeo tiếp tục: "Kìa là gã đang đính ước với một trong số họ, gã thanh niên da ngăm gầy gò đang lẽo đẽo theo sau với những bước đi quyến luyến và cất giọng bề trên với ba người bạn đang cười cợt hắn. Hắn là một kẻ tử đạo vì niềm tin và sự kiên định của chính mình."
Vị tu sĩ tập sự tràn ngập vẻ ngưỡng mộ và kính trọng dành cho thanh niên kia.
"Trông gã ngốc nghếch thế thôi, mà đúng là ngốc thật đấy," Tadeo tiếp lời. "Hắn sinh ra ở San Pedro Makati và từng bắt bản thân phải chịu đựng biết bao thiếu thốn. Hắn hầu như chẳng bao giờ tắm táp hay ăn thịt lợn, bởi theo lý luận của hắn, người Tây Ban Nha không làm những điều đó, và cũng vì lý do tương tự mà hắn tuyệt thực cơm lẫn cá khô, mặc dù nước dãi đang tứa ra và bụng đói cồn cào sắp chết. Bất cứ thứ gì xuất phát từ châu Âu, dù đã thối rữa hay đóng hộp, hắn đều coi là thiêng liêng tuyệt đỉnh — cách đây một tháng Basilio vừa cứu hắn khỏi một cơn đau dạ dày trầm trọng, chỉ vì hắn đã nốc nguyên một hũ mù tạt để chứng minh mình chuẩn phong cách châu Âu."
Vào khoảnh khắc ấy, dàn nhạc bỗng tấu lên một khúc waltz.
"Cậu thấy vị quý ông kia chứ — gã bệnh hoạn cứ ngoái đầu nhìn quanh ngó ngoáy tìm kiếm những cái gả đầu chào hỏi? Đó là vị thống đốc danh tiếng của Pangasinan, một người tốt tính đến mức sẽ mất cảm giác thèm ăn hễ có bất kỳ người bản địa nào quên chào lão. Lão chắc đã quy tiên nếu không ban hành cái sắc lệnh về lễ nghĩa chào hỏi — thứ đã mang lại chút danh tiếng ít ỏi cho lão. Tội nghiệp, lão mới rời tỉnh lỵ về đây có ba ngày mà trông đã gầy sọm đi hẳn! Ồ, nhân vật lớn đây rồi, vị anh hào lỗi lạc — hãy mở to mắt ra mà chiêm ngưỡng đi!"
"Ai cơ ạ? Người đàn ông đang cau mày kia á?"
"Đúng thế, đó là Don Custodio, nhà tự do chủ nghĩa, Don Custodio chính hiệu. Lão đang cau mày vì bận ngẫm nghĩ về một dự án trọng đại nào đó. Nếu những ý tưởng trong cái đầu lão mà được thực thi, thế giới này chắc chắn sẽ đảo lộn! A, Makaraig, bạn cùng nhà với cậu kìa."
Đúng là Makaraig thật, đi cùng Pecson, Sandoval và Isagani. Vừa thoáng thấy họ, Tadeo liền bước tới chào hỏi.
"Các cậu không vào trong à?" Makaraig cất tiếng hỏi.
"Bọn mình không mua nổi vé."
"May quá, bọn mình có một lô ghế riêng," Makaraig đáp lời. "Basilio không đến được. Cả hai người cùng vào với bọn mình đi."
Tadeo chẳng buồn đợi người ta mời lại lần thứ hai, nhưng vị tu sĩ tập sự vì sợ làm phiền, mang sẵn bản tính rụt rè của một kẻ ở tỉnh lẻ nên đã khéo léo từ chối, và dẫu có năn nỉ thế nào cậu ta cũng quyết không chịu bước vào.
1 "Tôm luộc" — Chú thích của dịch giả.
2 "Bác Frank." — Chú thích của dịch giả.
3 Messageries Maritimes, một hãng tàu thủy của Pháp chuyên tuyến thương mại Viễn Đông. — Chú thích của dịch giả.