Ngôi nhà nơi Makaraig ở rất đáng để ghé thăm. Vừa rộng rãi lại vừa bề thế, với hai tầng lửng có những khung chớp trang nhã, nơi đây trông như một ngôi trường học vào những giờ đầu buổi sáng và hóa thành một chốn hỗn độn từ lúc mười giờ trở đi. Vào giờ giải lao của các sinh viên nội trú, từ hành lang tầng trệt của lối vào rộng thênh thang cho đến tầng lầu chính, đâu đâu cũng rộn rã tiếng cười nói, hò hét và những bước chân chạy nhảy. Những chàng trai trong trang phục kiệm vải chơi đá cầu sipa hoặc tập luyện thể dục trên những chiếc xà đu dã chiến, trong khi trên cầu thang đang diễn ra một trận ẩu đả giữa tám hoặc chín người vũ trang bằng gậy gộc và dây thừng. Thế nhưng, cả kẻ tấn công lẫn người bị hại đều chẳng gây ra tổn hại gì to tát, bởi những cú đánh của họ hầu như chỉ lướt qua vai một người bán hàng rong người Trung Quốc đang rao bán những món đồ pha chế kỳ quái cùng thứ bánh ngọt khó tiêu. Đám đông nam sinh vây quanh hắn, giật lấy chiếc đuôi sam đã bù xù sẵn, chộp lấy những chiếc bánh, ngả giá kỳ kèo và gây ra đủ mọi trò quậy phá. Tên người Trung Quốc la hét, chửi rủa, thề thốt bằng tất cả các thứ tiếng mà hắn bập bẹ được, không trừ cả tiếng mẹ đẻ; hắn mếu máo, cười cợt, van xin, khi thì nhe răng cười trừ lúc mặt dạn mày dày không còn tác dụng, khi thì ngược lại.
Hắn nguyền rủa họ là lũ quỷ sứ, đồ dã nhân, là lũ không theo đạo kilistanos, nhưng điều đó chẳng hề hấn gì. Chỉ một cái đập là nét mặt hắn lại xòa ra cười, và nếu đòn roi chỉ giáng xuống đôi vai, hắn sẽ bình thản tiếp tục công việc buôn bán của mình, chỉ tự nhủ bằng cách hét lên rằng hắn không dính líu gì đến trò chơi; thế nhưng nếu chúng đánh trúng cái giỏ dẹp bày hàng hóa, thì hắn sẽ thề thốt chẳng bao giờ quay lại nữa, miệng trút ra đằng sau họ mọi lời nguyền rủa và căm hận tưởng tượng được. Thế là lũ trẻ càng lấn tới để làm hắn tức điên lên thêm, và khi vốn từ chửi bới của hắn đã cạn kiệt cùng lúc chúng đã chán ngấy những thứ pha chế kinh hãi ấy, chúng ngoan ngoãn trả tiền rồi tiễn hắn đi trong niềm vui sướng, mắt nháy liên hồi, miệng khúc khích cười, còn những cái đát nhẹ bằng gậy mà đám sinh viên giáng xuống như để chào tạm biệt thì được hắn xem như những cái vuốt ve.
Tiếng đàn piano, vĩ cầm, ghi-ta và phong cầm vang lên xen kẽ với tiếng gươm khua lách cách từ các buổi học đấu kiếm. Xây quanh một chiếc bàn dài và rộng, các sinh viên trường Ateneo đang làm bài hoặc giải bài tập bên cạnh những người khác đang viết thư cho người yêu trên những trang giấy hồng đục lỗ li ti đầy những hình vẽ. Ở góc này, một kẻ đang soạn tuồng kịch bên cạnh một người luyện thổi sáo, phát ra những nốt âm khò khè. Đằng kia, những nam sinh lớn tuổi hơn, theo học các lớp chuyên nghiệp, những kẻ thích chuộng tất cả vớ lụa và giày thêu, đang giải trí bằng cách trêu chọc đám nhỏ hơn bằng cách kéo tai chúng – vốn đã đỏ lựng vì những cú búng liên hồi – trong khi hai hoặc ba kẻ đang đè ngửa một chú nhóc đang la hét, khóc lóc, dùng chân chống cự để khỏi bị lột sạch quần áo cho đến khi trở lại trần truồng như lúc mới sinh, vừa đạp vừa tru tréo. Trong một căn phòng nọ, quanh một chiếc bàn nhỏ, bốn người đang chơi bài revesino trong tiếng cười đùa rôm rả, khiến một kẻ khác vô cùng bực bội – kẻ đang giả vờ học bài nhưng thực chất là đang dài cổ chờ đến lượt mình vào ván.
Lại có kẻ bước vào với vẻ kinh ngạc thái quá, ra điều phẫn nộ khi tiến lại gần chiếc bàn. "Các cậu hư đốn thật đấy! Mới sáng ra mà đã cờ bạc rồi ư! Nào, để tớ xem nào! Đồ ngốc, phải đánh con ba bích chứ!" Gấp sách lại, hắn ta cũng sà vào nhập cuộc.
Tiếng la hét và tiếng gậy gót lại vang lên. Hai nam sinh đang đánh nhau trong căn phòng bên cạnh – một sinh viên bị thọt rất nhạy cảm về khiếm khuyết của mình và một tân sinh viên bất hạnh từ tỉnh lẻ mới chân ướt chân ráo lên thủ đô đèn sách. Cậu ta đang cặm cụi bên một chuyên luận triết học và ngây thơ đọc lớn tiếng, với một giọng điệu sai ngọng, nguyên lý của Descartes: "Cogito, ergo sum!"
Cậu nhóc thọt (el cojito) coi đó là một sự lăng mạ và những người khác liền xông vào can thiệp để lập lại hòa bình, nhưng thực chất chỉ để gieo rắc sự bất hòa và tự mình lao vào ẩu đả.
Trong phòng ăn, một thanh niên với một hộp cá mòi, một chai rượu vang và ít lương thực vừa mang từ quê lên, đang phải vắt óc gắng sức sao cho bạn bè chịu cùng tham gia bữa trưa của mình, trong khi họ cũng đang kiên cường chống cự lại lời mời chào ấy. Những người khác đang tắm táp trên hiên thượng mái bằng, chơi trò lính cứu hỏa bằng nước giếng và tham gia những trận chiến bằng gàu nước, mang lại niềm vui sướng tột cùng cho những kẻ đứng xem.
Thế nhưng tiếng ồn ào và hò hét cũng dần nhỏ hẳn khi các sinh viên cốt cán xuất hiện theo triệu tập của Makaraig để báo cáo tiến độ của hội học tiếng Castilian. Isagani được chào đón niềm nở, cũng như chàng trai người Tây Ban Nha Sandoval – người đã đến Manila với tư cách nhân viên chính phủ, đang hoàn thành việc học dở dang và đã hoàn toàn đồng lòng với chính nghĩa của các sinh viên Philippines. Những rào cản mà chính trị dựng lên giữa các chủng tộc dường như đã biến mất trong lớp học, như thể bị hòa tan bởi nhiệt huyết của khoa học và tuổi trẻ.
Vì thiếu vắng các viện hàn lâm cùng các trung tâm khoa học, văn học hay chính trị, Sandoval luôn tận dụng mọi cuộc họp để trau dồi tài hùng biện thiên bẩm của mình, diễn thuyết và tranh luận về bất kỳ chủ đề nào để thu hút những tràng pháo tay từ bạn bè và người nghe. Vào lúc ấy, chủ đề trò chuyện là việc giảng dạy tiếng Castilian, nhưng vì Makaraig vẫn chưa đến nên mọi người vẫn tiếp tục phỏng đoán.
"Chuyện gì đã xảy ra thế nhỉ?"
"Đại úy tướng quân đã quyết định thế nào rồi?"
"Ngài ấy từ chối cấp phép rồi sao?"
"Cha Irene hay Cha Sibyla đã thắng thế?"
Đó là những câu hỏi họ dành cho nhau, những câu hỏi mà chỉ có Makaraig mới trả lời được.
Giữa đám đông thanh niên tụ họp có những kẻ lạc quan như Isagani và Sandoval, những người coi mọi chuyện đã thành công mĩ mãn và bàn về những lời chúc mừng cũng như tán dương từ chính phủ đối với lòng yêu nước của giới sinh viên – những bộc lộ lạc quan khiến Juanito Pelaez phải tranh phần công lao to lớn về việc thành lập hội.
Đáp lại tất cả những điều đó là kẻ bi quan Pecson, một thiếu niên mũm mĩm với nụ cười rộng ngoác hềnh hệch, kẻ chuyên bàn về những thế lực bên ngoài: liệu Giám mục A, Cha B, hay Bề trên C đã được thỉnh ý hay chưa, liệu họ có khuyên nhủ nên tống toàn bộ hội đoàn vào tù hay không – một gợi ý khiến Juanito Pelaez hoảng hốt đến mức lắp bắp: "Carambas, đừng có lôi tôi vào..."
Là người bán đảo và mang tư tưởng tự do, Sandoval đâm ra nổi giận trước câu nói này. "Nhưng vớ vẩn thật!" hắn kêu lên, "nghĩ thế là đánh giá thấp Ngài Toàn quyền rồi! Tôi thừa biết ngài ấy khá thân với giới tu sĩ, nhưng trong một vấn đề thế này, ngài ấy sẽ không để bọn họ nhúng tay vào đâu. Cậu thử nói xem, Pecson, cậu căn cứ vào đâu mà cho rằng Ngài Toàn quyền không có chính kiến riêng của mình chứ?"
"Tôi đâu có nói thế, Sandoval," Pecson đáp, cười toét miệng đến mức lộ cả chiếc răng khôn. "Đối với tôi, Ngài Toàn quyền có chính kiến của riêng ngài ấy chứ, nghĩa là chính kiến của bất cứ ai nằm trong tầm với của ngài ấy. Rõ ràng thế cơ mà!"
"Cậu đang lảng tránh đấy – hãy nêu dẫn chứng cho tôi xem, dẫn chứng cụ thể ấy!" Sandoval quát lên. "Hãy dẹp bỏ những lý luận sáo rỗng, những câu cú trống rỗng sang một bên để bước lên mảnh đất vững chắc của thực tế," – hắn đi kèm với một cử chỉ thanh lịch. "Thực tế, thưa các quý ông, thực tế! Phần còn lại chỉ là thành kiến – tôi xin phép không gọi đó là tư tưởng phi-li-bớt."
Pecson mỉm cười điềm nhiên đáp trả: "Kìa, tư tưởng phi-li-bớt lại xuất hiện rồi kìa. Thế chúng ta không thể thảo luận mà không phải viện đến những lời buộc tội sao?"
Sandoval phản đối bằng một bài diễn văn ứng khẩu ngắn, lại một lần nữa đòi hỏi những dẫn chứng thực tế.
"Chà, mới cách đây không lâu thôi, đã có một tranh chấp giữa một số tư nhân với vài vị tu sĩ, và Quyền Thống đốc đã đưa ra phán quyết rằng vụ việc phải do Bề trên Dòng tu liên quan giải quyết," Pecson đáp, lại phá lên cười như thể đang bàn về một chuyện cỏn con, hắn dẫn ra cả tên tuổi, ngày tháng và hứa sẽ đưa ra tài liệu chứng minh công lý đã được ban phát thế nào.
"Nhưng dựa vào cơ sở nào, cậu hãy nói cho tôi nghe xem, dựa vào cơ sở nào mà họ có thể từ chối cấp phép cho một việc hiển nhiên là vô cùng hữu ích và cần thiết cơ chứ?" Sandoval hỏi.
Pecson nhún vai. "Bởi vì nó làm nguy hại đến sự toàn vẹn của tổ quốc," hắn đáp bằng cái giọng điệu của một viên công chứng đang đọc bản cáo trạng.
Khá lắm chứ lị! Sự toàn vẹn của tổ quốc thì liên quan gì đến các quy tắc cú pháp cơ chứ?
"Mẹ Thánh Giáo hội có những bậc hiền tài uyên bác – làm sao mà tôi biết được chứ? Biết đâu người ta sợ rằng chúng ta sẽ hiểu thấu các bộ luật để rồi biết đường mà tuân theo thì sao. Ngày mà chúng ta hiểu được lẫn nhau thì nước Philippines sẽ ra sao đây?"
Sandoval không mặn mà gì với lối tranh luận biện bác và trêu chọc ấy; đi theo con đường đó sẽ chẳng thể thốt ra được lời nào đáng giá cả. "Đừng có đùa cợt với những vấn đề nghiêm túc!" hắn thốt lên. "Đây là một chuyện nghiêm trọng đấy."
Xin Chúa phù hộ để tôi thôi đùa cợt mỗi khi có dính dáng đến các thầy tu!
"Thế nhưng, cậu căn cứ vào đâu mà..."
"Căn cứ vào việc, vì thời gian lên lớp phải diễn ra vào ban đêm," Pecson tiếp tục với giọng điệu cũ, y như đang trích dẫn những công thức quen thuộc đã được công nhận, "người ta có thể viện dẫn sự suy đồi đạo đức làm chướng ngại vật, y hệt như những gì người ta đã làm trong vụ trường học ở Malolos."
"Lại một cái cớ nữa! Thế chẳng lẽ các lớp học của Viện Hàn lâm Vẽ, hay các tuần cửu nhật và đám rước, lại không tự khoác lên mình chiếc áo choàng của màn đêm hay sao?"
"Đề án đó ảnh hưởng đến phẩm giá của trường Đại học," chàng trai mũm mĩm tiếp lời, phớt lờ câu hỏi.
"Chẳng ảnh hưởng gì sất! Đại học phải tự điều chỉnh để thích ứng với nhu cầu của sinh viên chứ. Và giả sử là thế đi, vậy đại học rốt cuộc là cái gì? Nó là một tổ chức sinh ra để kìm hãm việc học hành ư? Hay một nhóm người đã kết tụ lại nhân danh sự học thức và giáo dục chỉ để ngăn cản những người khác được khai sáng?"
"Thực tế là những phong trào khởi xướng từ tầng lớp dưới thường bị coi là mầm mống bất mãn..."
"Thế còn những dự án bắt nguồn từ tầng lớp trên thì sao?" một sinh viên chen vào. "Kìa là Trường Nghệ thuật và Thủ công mỹ nghệ đấy thôi!"
Từ từ, từ từ nào các bạn, Sandoval phản đối. Tôi không phải kẻ bênh vực tu sĩ, tư tưởng tự do của tôi ai cũng rõ, nhưng của Cesar hãy trả cho Cesar. Đối với Trường Nghệ thuật và Thủ công mỹ nghệ ấy – nơi tôi từng là người ủng hộ nhiệt thành nhất và sự ra đời của nó sẽ được tôi chào đón như ánh bình minh đầu tiên cho những hòn đảo diễm phúc này – thì các tu sĩ đã thâu tóm lấy nó rồi...
"Hoặc ví như con mèo ôm con chim hoàng yến, xét cho cùng thì cũng rứa cả thôi," Pecson nhân cơ hội cắt ngang lời diễn thuyết.
"Thôi đi cho!" Sandoval quát lên, nổi giận vì câu ngắt lời đã làm hắn đứt mạch câu văn dài dòng, trôi chảy của mình. "Chừng nào chúng ta chưa nghe thấy điều gì xấu, thì đừng nên bi quan, đừng bất công đến mức hoài nghi sự tự do và độc lập của chính phủ."
Đến đây, hắn bước vào màn bào chữa bằng những lời lẽ hoa mỹ để ca ngợi chính phủ cùng những thiện ý của họ, một đề tài mà Pecson không dám mạo muội chen ngang.
"Chính phủ Tây Ban Nha," hắn phát biểu, trong số những ý khác, "đã ban cho các bạn mọi thứ, chẳng từ chối các bạn điều gì! Chúng ta từng có chế độ chuyên chế ở Tây Ban Nha và các bạn cũng có chuyên chế ở đây; các tu sĩ đã phủ kín đất đai của chúng tôi bằng các tu viện, và các tu viện chiếm một phần ba diện tích Manila; ở Tây Ban Nha hình phạt lăng trụ hoành hành và ở đây lăng trụ cũng là hình phạt tối cao; chúng tôi là những người Công giáo và chúng tôi đã biến các bạn thành người Công giáo; chúng tôi là những tín đồ kinh viện và triết học kinh viện đang chiếu rọi ánh sáng vào những giảng đường của các bạn; tóm lại, thưa các quý ông, chúng ta khóc khi các bạn khóc, chúng ta đau khổ khi các bạn đau khổ, chúng ta có chung bàn thờ, chung tòa án, chung những hình phạt, và thật công bằng khi chúng ta trao cho các bạn những quyền lợi và niềm vui của mình."
Do không một ai ngắt lời, hắn càng lúc càng hăng hái hơn, cho đến khi cất lời bàn về tương lai của đất nước Philippines.
"Như tôi đã nói, thưa các quý ông, ánh bình minh không còn xa nữa. Tây Ban Nha giờ đây đang vén màn trời phía đông cho đứa con yêu dấu Philippines của mình, và thời thế đang đổi thay, theo như tôi chắc chắn biết được, nhanh hơn chúng ta tưởng tượng rất nhiều. Chính phủ này, theo như các bạn nói, là do dự và yếu đuối, nên phải được củng cố bằng niềm tin của chúng ta, để chúng ta cho nó thấy rằng nó chính là người gìn giữ những hy vọng của chúng ta. Hãy để hạnh kiểm của chúng ta nhắc nhở nó (nếu có khi nào nó lỡ quên mất bản thân, điều mà tôi tin là không thể xảy ra) rằng chúng ta đặt trọn niềm tin vào thiện ý của nó và rằng nó không được phép dẫn lối bởi bất cứ chuẩn mực nào khác ngoài công lý và hạnh phúc của toàn thể thần dân. Không, thưa các quý ông," hắn tiếp tục với giọng điệu ngày càng hùng biện hơn, "chúng ta tuyệt đối không được phép thừa nhận trong vấn đề này khả năng tham vấn với các thực thể khác mang ít nhiều tính thù địch, vì một giả định như vậy sẽ đồng nghĩa với việc chúng ta đầu hàng thực tế. Hành vi của các bạn cho đến nay vẫn rất thẳng thắn, trung thực, không mập mờ, vượt lên trên mọi nghi kỵ; các bạn đã thỉnh nguyện một cách giản dị và trực tiếp; những lý do các bạn đưa ra không thể chê vào đâu được; mục đích của các bạn là làm nhẹ bớt gánh nặng cho các giáo viên trong những năm đầu và tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tập của hàng trăm sinh viên đang lấp đầy các giảng đường mà một vị giáo sư đơn độc không thể kham nổi. Nếu cho đến nay thỉnh nguyện thư vẫn chưa được chuẩn thuận, lý do, như tôi đoan chắc, là vì có quá nhiều văn bản chồng chất lên nhau, nhưng tôi tiên đoán rằng chiến dịch này đã thắng lợi, rằng lệnh triệu tập của Makaraig là để báo tin mừng chiến thắng cho chúng ta, và ngày mai chúng ta sẽ thấy những nỗ lực của mình được đền đáp bằng những tràng pháo tay và sự trân trọng từ xứ sở này, và biết đâu đấy, thưa các quý ông, chính phủ có thể trao tặng các bạn một huân chương công trạng huy hoàng nào đó, hỡi những vị ân nhân của tổ quốc!"
Những tràng pháo tay nhiệt liệt vang dội. Lập tức tất cả mọi người đều tin vào chiến thắng, và rất nhiều người tin vào tấm huân chương.
"Xin hãy nhớ cho, thưa các quý ông," Juanito lên tiếng lưu ý, "tôi là một trong những kẻ đầu tiên đề xuất ý tưởng đó."
Kẻ bi quan Pecson không mấy hào hứng. "Miễn là chúng ta không mang tấm huân chương đó ở cổ chân là được," hắn lầm bầm, nhưng may cho Pelaez là lời nhận xét này đã bị chìm lấp giữa những tiếng pháo tay.
Khi họ đã dịu bớt đi một chút, Pecson đáp lời: "Được, được, rất tốt, nhưng xin giả sử thế này: nếu bất chấp tất cả những điều đó, Ngài Toàn quyền cứ tham vấn hết lần này đến lần khác, và rốt cuộc vẫn từ chối cấp phép thì sao?"
Câu hỏi này giội xuống như một gáo nước lạnh. Tất cả quay sang nhìn Sandoval, kẻ đang ngớ người ra. "Thế thì..." hắn lắp bắp.
"Thế thì sao?"
"Thế thì," hắn thốt lên trong một cơn bùng nổ nhiệt huyết, vẫn chưa nguôi ngoai sau những tràng pháo tay, "xét thấy rằng trên văn bản và sách báo, chính phủ lớn tiếng tuyên bố mong muốn sự khai sáng cho các bạn, thế nhưng khi được kêu gọi biến điều đó thành hiện thực thì lại cản trở và chối từ – thế thì, thưa các quý ông, những nỗ lực của các bạn sẽ không uổng phí đâu, các bạn đã làm được điều mà chưa ai khác có thể làm nổi. Hãy buộc họ phải lột chiếc mặt nạ xuống và ném găng thách đấu với các bạn!"
"Bravo, bravo!" nhiều người nhiệt liệt hô vang.
"Hay cho Sandoval! Hoan hô chiếc găng thách đấu!" những người khác phụ họa.
"Cứ để họ ném găng thách đấu với chúng ta đi!" Pecson nhếch mép nhắc lại. "Nhưng rồi sau đó thì sao?"
Sandoval có vẻ khựng lại giữa lúc đỉnh cao chiến thắng, nhưng với sự linh hoạt vốn có của dòng máu và tính khí hùng biện của mình, hắn có ngay câu trả lời.
"Sau đó ư?" hắn hỏi. "Sau đó, nếu không một người Philippines nào dám nhận lời thách thức, thì chính tôi, Sandoval, nhân danh Tây Ban Nha, sẽ nhặt lấy chiếc găng ấy, bởi vì một chính sách như vậy sẽ là sự phỉ báng vào những thiện ý mà đất nước này vẫn luôn ấp ủ dành cho các tỉnh thuộc địa, và bởi vì kẻ nào phản bội lại lòng tin được giao phó và lạm dụng quyền lực vô hạn của mình thì không xứng đáng nhận được sự bảo hộ của tổ quốc hay sự hậu thuẫn từ bất kỳ công dân Tây Ban Nha nào!"
Nhiệt huyết của những người nghe đã vượt qua mọi giới hạn. Isagani ôm chầm lấy hắn, và những người khác cũng làm theo. Họ nói về tổ quốc, về sự đoàn kết, về tình huynh đệ, về lòng trung thành. Các thiếu niên Philippines tuyên bố rằng nếu ở Tây Ban Nha chỉ có toàn những người như Sandoval, thì ở Philippines ai nấy cũng sẽ thành Sandoval cả. Mắt hắn rưng rưng, và người ta hoàn toàn có thể tin rằng nếu vào khoảnh khắc ấy có bất kỳ chiếc găng nào được ném ra, hắn sẵn sàng nhảy lên bất kỳ con ngựa nào để xông pha chiến đấu đến chết vì đất nước Philippines.
Chỉ có "gáo nước lạnh" là cất lời đáp lại: "Được đấy, rất hay đấy, Sandoval. Tôi cũng có thể nói những lời y hệt nếu tôi là người bán đảo, nhưng khốn nỗi tôi không phải, nên nếu tôi chỉ nói được một nửa những gì anh vừa thốt lên thôi, thì chính anh cũng sẽ coi tôi là một tên phi-li-bớt rồi."
Sandoval toan bắt đầu một bài diễn văn phản đối, nhưng đã bị ngắt lời.
"Vui lên đi các bạn, hãy vui mừng lên! Thắng lợi rồi!" một thanh niên vừa bước vào lớn tiếng thông báo và ôm chầm lấy tất cả mọi người.
"Vui lên nào các bạn! Muôn năm tiếng Castilian!"
Một tràng pháo tay bùng nổ chào mừng thông báo này. Họ ôm lấy nhau và mắt đẫm lệ. Chỉ riêng Pecson vẫn giữ nguyên nụ cười đầy hoài nghi.
Kẻ mang tin vui ấy chính là Makaraig, chàng thanh niên đứng đầu phong trào. Sinh viên này chiếm trọn hai căn phòng được trang hoàng sang trọng trong ngôi nhà, có cả người hầu riêng và một xa phu chăm sóc xe ngựa cùng tuấn mã cho cậu ta. Cậu ta có dáng người tráng kiện, phong thái tao nhã, ăn mặc chải chuốt và rất giàu có. Dù chỉ học luật cốt để lấy một tấm bằng đại học, cậu ta lại nổi tiếng là chăm chỉ, và về tài biện luận theo lối kinh viện thì chẳng có gì phải ghen tị với những kẻ bẻ chữ cuồng nhiệt nhất trong khoa luật của trường Đại học. Mặc dù vậy, cậu ta không hề lạc hậu về những tư tưởng và tiến bộ hiện đại, bởi gia thế giàu có đã cho phép cậu ta sở hữu mọi loại sách báo mà một kẻ kiểm duyệt khắt khe đến mấy cũng không tài nào ngăn cấm nổi. Với những phẩm chất ấy cùng tiếng tăm về lòng can đảm, những mối quan hệ tốt đẹp từ những năm tháng đầu đời và sự lịch thiệp tinh tế, chẳng có gì lạ khi cậu ta có ảnh hưởng lớn lao đến thế đối với các bạn đồng môn và được chọn để gánh vác một trọng trách khó khăn như việc dạy tiếng Castilian.
Sau những phút giây bùng nổ nhiệt huyết ban đầu – thứ cảm xúc ở tuổi trẻ luôn bộc lộ dưới những hình thức phóng đại vì tuổi trẻ nhìn đâu cũng thấy đẹp đẽ – họ muốn được nghe kể tường tận về cách thức giải quyết vụ việc.
"Tôi đã gặp Cha Irene sáng nay," Makaraig nói với một vẻ đầy bí ẩn.
"Hoan hô Cha Irene!" một sinh viên nhiệt tình tung hô.
"Cha Irene," Makaraig tiếp lời, "đã kể cho tôi nghe mọi chuyện diễn ra ở Los Baños. Có vẻ như họ đã tranh cãi ròng rã suốt một tuần lễ, ngài là người ủng hộ và bảo vệ vụ việc của chúng ta chống lại tất cả bọn họ, chống lại Cha Sibyla, Cha Fernandez, Cha Salvi, Ngài Toàn quyền, cả tay thợ kim hoàn Simoun..."
"Tay thợ kim hoàn Simoun!" một người nghe chen ngang. "Tên Do Thái đó thì dính líu gì đến công việc nước non của chúng ta chứ? Chúng ta làm hắn giàu lên bằng cách mua..."
"Im lặng xem nào!" người khác nhắc nhở đầy sốt ruột, nóng lòng muốn biết làm thế nào Cha Irene có thể vượt qua những đối thủ đáng gờm nhường ấy.
"Thậm chí còn có những quan chức cấp cao phản đối dự án của chúng ta, nào là Tổng thư ký, Thống đốc Dân sự, rồi cả tên người Trung Quốc Quiroga..."
"Tên Trung Quốc Quiroga ư! Cái đồ chuyên dắt mối cho..."
"Câm mồm!"
"Cuối cùng," Makaraig tiếp tục, "họ định nhét bản thỉnh nguyện vào góc tủ cho chìm xuồng qua tháng này qua tháng nọ, thì Cha Irene chợt nhớ ra Ủy ban Cấp cao về Giáo dục Tiểu học và đề xuất rằng, vì vấn đề liên quan đến việc dạy tiếng Castilian, thỉnh nguyện thư nên được chuyển cho cơ quan đó để đưa ra phúc trình."
"Nhưng Ủy ban đó đã ngừng hoạt động từ lâu rồi cơ mà," Pecson nhận xét.
"Chính đó là điều họ đã đáp lời Cha Irene, và ngài đã trả lời rằng đây là một cơ hội tuyệt vời để hồi sinh nó, đồng thời nhân sự hiện diện của Don Custodio – một thành viên của ủy ban – ngài đã đề xuất ngay tại chỗ việc thành lập một tiểu ban. Do sự năng nổ đã được biết rõ và công nhận của Don Custodio, ông ta được chỉ định làm trọng tài và bản thỉnh nguyện hiện đang nằm trong tay ông ấy. Ông ấy đã hứa sẽ giải quyết dứt điểm trong tháng này."
"Hoan hô Don Custodio!"
"Nhưng nhỡ Don Custodio đưa ra phúc trình bất lợi thì sao?" kẻ bi quan Pecson hỏi.
Họ đã không tính đến tình huống này, vì đang chìm đắm trong men say chiến thắng rằng vụ việc sẽ không bị ngâm tôm nữa, thế nên tất cả lại quay sang Makaraig để tìm cách giải quyết.
"Chính tôi cũng đã nêu thắc mắc đó với Cha Irene, và với nụ cười ranh mãnh, ngài đã bảo tôi rằng: 'Chúng ta đã giành được thắng lợi lớn rồi, chúng ta đã đưa được sự việc vào đúng quỹ đạo giải quyết, phe chống đối buộc phải bước vào trận chiến'. Nếu chúng ta có thể tác động đến Don Custodio để ông ấy, phù hợp với xu hướng tự do của mình, đưa ra một phúc trình thuận lợi, thì coi như thắng lợi đã nằm trong tầm tay, bởi vì Ngài Toàn quyền đã tỏ ra hoàn toàn trung lập."
Makaraig dừng lời, và một thính giả sốt ruột liền hỏi: "Làm thế nào chúng ta có thể tác động đến ông ta đây?"
"Cha Irene đã chỉ cho tôi hai con đường..."
"Quiroga," ai đó gợi ý.
"Thôi đi, Quiroga thì tích sự gì chứ..."
"Một món quà hậu hĩnh."
"Không, cách đó không ổn đâu, vì ông ta kiêu hãnh tự cho mình là kẻ liêm khiết cơ mà."
"À, đúng rồi, tôi biết!" Pecson cười lớn lên tiếng. "Pepay cô đào múa."
"À đúng rồi, Pepay cô đào múa," nhiều giọng khác phụ họa.
Pepay này là một cô nàng bóng bẩy, được đồn đại là bạn thân của Don Custodio. Các nhà thầu, nhân viên, những kẻ mưu mô thường tìm đến ả ta mỗi khi muốn xin xỏ điều gì từ vị ủy viên lừng danh. Juanito Pelaez – vốn cũng là bạn thân của cô đào múa – liền ngỏ ý đảm nhận việc này, nhưng Isagani lắc đầu, nói rằng việc nhờ cậy Cha Irene là quá đủ rồi và việc lợi dụng cả Pepay trong một vụ thế này là đi quá xa.
"Hãy chỉ cho chúng tôi con đường thứ hai đi."
"Con đường thứ hai là tìm đến luật sư kiêm cố vấn của ông ta, Señor Pasta, bậc thầy mà Don Custodio phải nể nang."
"Tôi khoái cách đó hơn," Isagani nói. "Señor Pasta là người Philippines, và từng là bạn học cũ của chú tôi. Nhưng làm sao chúng ta có thể lôi kéo sự quan tâm của ông ta đây?"
Đó chính là mấu chốt vấn đề, Makaraig đáp, đăm đăm nhìn Isagani. Señor Pasta có một cô đào múa... ý tôi là một thợ may.
Isagani lại lắc đầu.
"Đừng có ra điều đạo đức giả thế chứ," Juanito Pelaez bảo cậu ta. "Mục đích biện minh cho phương tiện! Tôi quen cô thợ may Matea đó, vì ả ta có một cửa hàng nơi rất nhiều cô gái làm việc cơ mà."
"Không, thưa các bạn," Isagani tuyên bố, "trước hết chúng ta hãy dùng những phương pháp đàng hoàng đã. Tôi sẽ đến gặp Señor Pasta và, nếu tôi không đạt được kết quả gì, các anh muốn làm gì với các cô đào múa và thợ may thì tùy."
Họ đành phải chấp nhận đề xuất này, đồng ý rằng Isagani sẽ đi gặp Señor Pasta ngay trong ngày hôm đó, và vào buổi chiều sẽ báo cáo kết quả cuộc gặp mặt cho các chiến hữu tại trường Đại học.