Khi Juli mở đôi mắt đẫm lệ, cô thấy ngôi nhà vẫn chìm trong bóng tối, nhưng những chú gà trống đã bắt đầu gáy. Ý nghĩ đầu tiên thoáng qua trong đầu cô là có lẽ Đức Mẹ đã làm phép lạ khiến mặt trời không mọc nữa, dẫu cho đàn gà trống có cật lực cất tiếng gọi. Cô đứng dậy, làm dấu thánh, thành kính đọc xong kinh nguyện ban mai, rồi rón rén bước ra hiên batalan với tiếng động khẽ nhất có thể.
Chẳng có phép lạ nào cả — mặt trời vẫn đang nhô lên và hứa hẹn một buổi sáng tuyệt đẹp, làn gió thổi mát rượi, những vì sao nhạt dần ở phương đông, và lũ gà trống gáy vang lừng như muốn tranh tài xem con nào gáy hay nhất, to nhất. Mong ước điều đó quả là quá sức — cầu xin Đức Mẹ gửi cho hai trăm răm mươi peso còn dễ hơn nhiều. Mẹ của Chúa thì tốn kém gì mà không ban cho họ chứ? Thế nhưng, ẩn dưới bức ảnh thánh, cô chỉ tìm thấy lá thư của người cha đòi tiền chuộc năm trăm peso. Chẳng còn cách nào khác ngoài việc phải đi, vì thế, thấy ông nội vẫn nằm yên, cô tưởng ông hãy còn ngủ và bắt đầu chuẩn bị bữa sáng. Thật lạ làm sao, lòng cô bỗng thấy bình thản, thậm chí còn có chút muốn cười! Điều gì đã khiến cô đau khổ đến thế vào tối qua nhỉ? Cô đâu có đi quá xa, cứ cách một ngày cô lại có thể về thăm nhà, ông nội có thể nhìn thấy cô, còn về phần Basilio, chàng đã biết từ lâu hoàn cảnh ngộ nghĩnh mà tồi tệ trong công việc của cha cô, bởi chàng từng nói với cô rằng: "Khi anh làm bác sĩ và chúng mình kết hôn, cha em sẽ chẳng cần đến mấy thửa ruộng nữa đâu."
"Mình thật ngốc khi khóc lóc nhiều đến thế," cô tự nhủ trong lúc thu dọn chiếc hòm tampipi. Ngón tay cô chạm phải chiếcmặt dây chuyền và cô vội áp nó lên môi, nhưng ngay lập tức lại lau đi vì sợ lây bệnh, bởi chiếc mặt dây chuyền nạm kim cương và ngọc lục bảo ấy vốn của một người mắc bệnh phong. Ồ, thế thì, nhỡ cô mà nhiễm căn bệnh đó thì sẽ chẳng thể kết hôn được mất.
Khi trời sáng rõ hơn, cô thấy ông nội đang ngồi ở một góc nhà, dõi theo mọi cử động của cô bằng ánh mắt đăm đăm, thế là cô vội vách chiếc hòm đựng quần áo lên và đến gần ông với nụ cười trên môi để xin phép hôn tay ông. Cụ già lặng lẽ ban phước cho cháu gái, trong khi cô cố tỏ ra vui vẻ. "Khi cha quay về, ông hãy bảo với cha rằng cuối cùng con cũng được đi học rồi nhé — cô giáo của con nói tiếng Tây Ban Nha đấy. Đó là ngôi trường rẻ nhất mà con có thể tìm được."
Thấy mắt ông rướm lệ, cô đặt chiếc hòm lên đầu rồi vội vã bước xuống nhà, đôi dép lê va đập lộc cộc vui tai trên những bậc thang gỗ. Thế nhưng, khi cô ngoảnh đầu nhìn lại ngôi nhà, nơi từng chôn vùi những giấc mơ tuổi thơ và ảo mộng thiếu thời của cô, khi cô nhìn thấy nó đượm buồn, cô độc, hoang vắng, với những khung cửa khép hờ, trống hoác và tối tăm như đôi mắt của người chết, khi cô nghe thấy tiếng xào xạc trầm buồn của rặng tre, và thấy chúng đang nghiêng mình trong làn gió sớm mai như muốn nói lời từ biệt, thì niềm vui sảng khoái trong cô chợt tan biến; cô khựng lại, đôi mắt ngấn lệ, rồi buông thõng người ngồi sụp xuống một khúc gỗ ven đường và bật khóc nức nở, chẳng thể nguôi ngoai.
Juli đã rời đi được mấy tiếng đồng hồ và mặt trời đã lên cao đỉnh đầu khi Tandang Selo từ khung cửa sổ nhìn ra ngoài, ngắm những dòng người trong trang phục lễ hội đang nô nức đi về phía thị trấn để dự thánh lễ lớn. Hầu như ai nấy dắt tay hoặc bế trên tay những đứa trẻ trai, trẻ gái được chưng diện xúng xính như thể sắp sửa bước vào một buổi tiệc lớn.
Ngày Giáng sinh ở Philippines, theo lời các bậc cao niên, là một ngày hội dành cho trẻ em, những đứa trẻ có lẽ lại chẳng nghĩ như vậy và, người ta có thể đoán chắc rằng, chúng mang một nỗi sợ hãi bản năng đối với ngày này. Chúng bị đánh thức từ sáng sớm, được tắm rửa, mặc quần áo và chưng diện bằng tất cả những gì mới mẻ, đắt tiền và quý giá nhất mà chúng có — giày lụa cao cổ, mũ rộng vành, trang phục bằng len hoặc nhung, mà không quên đeo thêm bốn hay năm chiếc bùa hộ mệnh có thêu các đoạn kinh thánh từ sách của Thánh John, và cứ thế, mang trên mình đống xiêm y nặng nề ấy, chúng bị đưa đến nhà thờ dự lễ lớn. Ở đó, suốt gần một tiếng đồng hồ, chúng phải chịu đựng cái nóng bức và mùi mồ hôi ngột ngạt từ dòng người đông đúc chen chúc nhau, và nếu không bị bắt đọc kinh Mân Côi thì chúng cũng phải ngồi yên, chán chường hoặc ngủ gật. Sau mỗi cử động hay trò nghịch ngợm nào có nguy cơ làm bẩn trang phục, chúng lại bị véo tai, mắng mỏ; thế nên thực tế là chúng chẳng hề cười nổi hay cảm thấy vui vẻ chút nào, mà đằng sau đôi mắt tròn xoe ấy là cả một sự phản đối ngấm ngầm đối với biết bao lớp thêu thùa diêm dúa cùng nỗi khát khao chiếc áo sơ mi cũ kỹ thường ngày.
Sau đó, chúng bị lôi đi từ nhà này sang nhà khác để chào hỏi và hôn tay các bậc bề trên. Ở đó, chúng phải khiêu vũ, ca hát và trổ tài tất cả những trò vui nhộn mà chúng biết, dẫu cho lúc ấy chúng có đang hứng khởi hay không, dẫu cho có cảm thấy thoải mái hay khó chịu trong bộ đồ tinh xảo kia đi nữa, kèm theo đó là những trận véo tai và mắng mỏ muôn thuở nếu chúng dám giở trò tinh quái. Họ hàng sẽ cho chúng những đồng xu cuartos mà cha mẹ chúng sẽ tịch thu ngay lập tức và chúng chẳng bao giờ còn nghe ngóng gì về số tiền ấy nữa. Kết quả duy nhất mà chúng thường nhận được sau ngày lễ hội chính là những vết bầm tím từ những cái véo nói trên, sự bực bội, và tệ nhất là một trận đầy bụng khó tiêu vì ăn quá nhiều kẹo bánh tại nhà của những người họ hàng tốt bụng. Thế nhưng phong tục là vậy, và trẻ em Philippines bước vào đời thông qua những thử thách này — những thứ mà sau này nhìn lại, hóa ra lại là quãng đời ít buồn đau và ít khắc nghiệt nhất của chúng.
Những người lớn sống tự lập cũng hòa mình vào ngày lễ hội này bằng cách đến thăm cha mẹ cùng họ hàng của họ, quỳ gối chúc mừng họ một mùa Giáng sinh an lành. Quà Giáng sinh của họ thường chỉ là một chút bánh mứt, dăm thứ quả, một ly nước, hay một món quà nhỏ mọn chẳng đáng là bao.
Tandang Selo nhìn tất cả những người bạn qua lại và thầm nghĩ với nỗi buồn man mác rằng năm nay ông chẳng có lấy một món quà Giáng sinh nào dành cho bất kỳ ai, trong khi cô cháu gái của ông đã ra đi mà chẳng có nổi quà cho riêng mình, thậm chí còn chẳng kịp chúc ông một lời Giáng sinh vui vẻ. Đó là vì sự tế nhị từ phía Juli hay hoàn toàn chỉ vì cô bé đã quên bẵng đi?
Khi ông định cất tiếng chào những người họ hàng đến thăm và dẫn theo con cái của họ, ông vô cùng kinh ngạc khi nhận ra mình chẳng thể thốt nên lời. Ông uổng công cố gắng, nhưng tuyệt nhiên chẳng phát ra được chút âm thanh nào. Ông đưa tay ôm lấy cổ họng, lắc đầu, nhưng mọi nỗ lực đều vô ích. Khi ông cố mỉm cười, đôi môi co giật bất giác và âm thanh duy nhất phát ra chỉ là một tiếng khò khè khản đặc giống như tiếng bễ thổi lò rèn.
Những người phụ nữ kinh hoàng nhìn ông. "Ông ấy câm rồi, ông ấy câm mất rồi!" họ hoảng hốt kêu lên, lập tức tạo nên một thứ hỗn độn náo động huyên náo cả một góc nhà.