Ông Leeds, một người Mỹ chính gốc, ăn vận toàn cây đen, đón tiếp các vị khách bằng sự cung kính mực thước. Ông nói tiếng Tây Ban Nha rất sõi nhờ có nhiều năm sống ở Nam Mỹ, và không hề phản đối yêu cầu của họ; ông bảo họ có thể thoải mái kiểm tra mọi thứ, cả trước lẫn sau buổi biểu diễn, nhưng xin họ hãy giữ trật tự trong khi buổi diễn diễn ra. Ben-Zayb mỉm cười đầy đắc ý khi nghĩ đến trò quấy rầy mà ông ta đã chuẩn bị sẵn để làm khó viên người Mỹ.
Căn phòng được trang hoàng hoàn toàn bằng vải đen, thắp sáng bằng những ngọn đèn cổ pha cồn. Một thanh chắn bọc nhung đen ngăn phòng thành hai phần gần bằng nhau, một nửa kê ghế cho khán giả còn nửa kia là một bục gỗ trải thảm ca-rô. Giữa bục đặt một chiếc bàn, phủ một tấm vải đen thêu hình đầu lâu và các ký hiệu huyền thuật. Nhờ vậy, khung cảnh bày trí mang một vẻ thê thiết và lập tức tác động đến nhóm khách đang vui vẻ. Những lời đùa cợt chợt tắt ngấm, họ nói chuyện bằng giọng thì thầm, và dù một vài người có cố tỏ ra dửng dưng đến đâu đi nữa, môi họ cũng chẳng thể nở nổi một nụ cười. Tất cả đều có cảm giác như vừa bước vào một ngôi nhà có quàn linh cữu, ảo giác ấy càng thêm phần rõ rệt bởi mùi sáp và trầm hương thoang thoảng. Don Custodio và cha Salvi thì thầm bàn tán với nhau về việc có nên cấm những buổi biểu diễn như thế này hay không.
Ben-Zayb, để khuấy động bầu không khí đang trùng xuống và làm cho ông Leeds bẽ mặt, liền sỗ sàng lên tiếng: “Này ngài sĩ quan, vì ở đây toàn người nhà chứ có phải mấy tên da đỏ dễ bị lừa phỉnh đâu, ngài không cho chúng tôi xem cái mánh khóe ấy được sao? Tất nhiên chúng tôi thừa biết đây chỉ thuần túy là vấn đề quang học, nhưng vì cha Camorra cứ khăng khăng không chịu tin—”
Nói đoạn, ông ta định nhảy qua thanh chắn thay vì đi qua lối mở đàng hoàng, trong khi cha Camorra lớn tiếng can ngăn vì sợ Ben-Zayb nhỡ có lý.
“Sao lại không chứ, thưa ngài?” Viên người Mỹ đáp lời. “Nhưng xin ngài đừng làm hỏng đồ đạc nhé?”
Gã nhà báo đã đứng trên bục từ bao giờ. “Vậy tôi xin phép nhé?” gã hỏi, và không thèm đợi câu trả lời vì sợ bị từ chối, liền xốc tấm khăn lên để tìm mấy chiếc gương mà gã đinh ninh thế nào cũng được giấu giữa mấy chân bàn. Ben-Zayb thốt lên một tiếng ngạc nhiên rồi lùi lại, đưa cả hai tay khua khoáng phía dưới gầm bàn; gã chẳng chạm thấy gì ngoài khoảng không trống rỗng. Chiếc bàn có ba chân bằng sắt mảnh, được cắm ngập xuống sàn nhà.
Gã nhà báo đưa mắt nhìn quanh như đang tìm kiếm thứ gì đó.
“Mấy cái gương đâu rồi?” cha Camorra hỏi.
Ben-Zayb cứ nhìn mãi nhìn mãi, dùng ngón tay rờ mẫm chiếc bàn, lật tấm vải lên lần nữa, rồi chốc chốc lại lấy tay xoa trán như thể đang cố nhớ lại điều gì.
“Các ngài tìm gì thế?” ông Leeds cất tiếng hỏi.
“Mấy cái gương ấy, ngài sĩ quan, gương để ở đâu?”
“Tôi nào biết gương của các ngài ở đâu — gương của tôi để ở khách sạn cơ. Các ngài muốn soi mình đấy à? Trông các ngài có vẻ hơi tái mét và bấn loạn đấy.”
Nhiều người bật cười, dẫu trong lòng vẫn còn mang cảm giác kỳ dị, khi chứng kiến thái độ điềm tĩnh đến trơ trẽn của viên người Mỹ; còn Ben-Zayb thì lủi thủi quay về chỗ ngồi với vẻ mặt vô cùng bẽ bàng, miệng lầm bầm: “Không thể nào có chuyện đó được. Kiểu gì gã cũng phải dùng gương cho xem. Lát nữa thế nào cũng phải đổi bàn cho mà coi.”
Ông Leeds trải lại tấm khăn lên mặt bàn, quay sang hướng về phía vị khách quý và hỏi: “Các ngài đã hài lòng chưa? Chúng ta bắt đầu được chứ?”
“Làm nhanh lên xem nào! Gã này máu lạnh thật đấy!” bà góa phụ lên tiếng.
“Vậy xin mời các quý ông quý bà an tọa và chuẩn bị sẵn câu hỏi.”
Ông Leeds biến sau một cánh cửa và chỉ lát sau đã trở ra với một chiếc hộp đen làm bằng thứ gỗ mục ruỗng, trên khắc chi chít những hình vẽ chim chóc, thú vật và đầu người.
“Thưa các quý ông quý bà,” ông bắt đầu bằng giọng trang nghiêm, “một lần có dịp ghé thăm đại kim tự tháp Khufu, một vị Pharaon thuộc vương triều thứ tư, tôi tình cờ phát hiện ra một cỗ quan tài bằng đá hoa cương đỏ trong một căn phòng đã bị lãng quên. Lúc ấy tôi vui mừng khôn tả vì cứ đinh ninh mình đã tìm được một xác ướp hoàng gia, thế nhưng nỗi thất vọng của tôi lớn biết bao khi phải tốn không biết bao nhiêu công sức mới mở được nỗ lực cỗ quan tài ấy ra, để rồi chẳng thấy gì ngoài chiếc hộp này, mà các ngài có thể tự mình kiểm tra.”
Ông đưa chiếc hộp cho những người ngồi hàng ghế đầu. Cha Camorra rụt tay lại với vẻ ghê tởm, cha Salvi chăm chú nhìn sát vào hộp như thể rất thích thú với những thứ liên quan đến mồ mã, cha Irene mỉm cười đầy ý vị, Don Custodio thì làm bộ ra vẻ trang nghiêm và khinh miệt, trong khi Ben-Zayb vẫn cặm cụi đi tìm gương — chắc chắn chúng phải ở đâu đây thôi, vì đây rõ ràng là trò dùng gương mà.
“Trông cứ như mùi tử thi ấy,” một bà vừa quạt lấy quạt để vừa nhận xét. “Ghê quá đi mất!”
“Đúng là mùi của bốn mươi thế kỷ rồi,” một người khác nhấn giọng nói lớn.
Ben-Zayb quên bẵng đi vụ tìm gương để quay sang xem kẻ nào vừa thốt ra câu nói đó. Hóa ra đó là một sĩ quan quân đội từng đọc qua lịch sử của Napoleon.
Ben-Zayb cảm thấy ghen tị, và để thốt ra một câu châm biếm nhằm chọc tức cha Camorra đôi chút, hắn bèn nói: “Nghe cứ như mùi trong nhà thờ ấy.”
“Thưa các quý ông quý bà, chiếc hộp này,” viên người Mỹ tiếp lời, “chứa một nắm tro tàn và một mảnh giấy có ghi vài chữ trên đó. Xin mời các ngài cứ tự nhiên xem xét, nhưng tôi xin các ngài chớ thở mạnh, bởi nếu để rơi rớt dù chỉ một chút bụi thôi thì con nhân sư của tôi sẽ xuất hiện trong tình trạng không còn nguyên vẹn đấy.”
Trò bịp bợm ấy, qua lời miêu tả đầy vẻ nghiêm túc và chắc nịch, đang dần phát huy tác dụng; bằng chứng là khi chiếc hộp được chuyền tay nhau, chẳng ai dám thở mạnh. Cha Camorra — kẻ từng bao phen leo lên bục giảng ở Tiani để vẽ ra đủ thứ hình phạt và đọa đày nơi địa phương, trong khi miệng cười thầm trước vẻ mặt hoảng sợ của những kẻ có tội — nay phải bịt chặt mũi lại; còn cha Salvi — chính là vị cha xứ Salvi từng nhân ngày Lễ Các Linh Hồn dựng lên một màn ảo ảnh về các linh hồn nơi luyện ngục với lửa và những bức tranh kính được soi sáng bằng đèn cồn giấu sau lớp kim tuyến trên bàn thờ lớn ở một nhà thờ ngoại ô, nhằm mục đích xin tiền quyên góp và kiếm thêm lễ cầu hồn — vị cha xứ ốm o, lầm lì ấy đang nín thở và đăm đăm nhìn đầy nghi kỵ vào nhúm tro tàn kia.
“Memento, homo, quia pulvis es!” cha Irene mỉm cười thì thầm.
“Xì!” Ben-Zayb bĩu môi — y cũng vừa nghĩ đến câu đó, thế mà vị kinh sĩ lại hớt tay trên mất rồi.
“Vì không biết phải làm gì,” ông Leeds nói tiếp, đoạn cẩn thận đóng nấp hộp lại, “tôi bèn nghiên cứu mảnh giấy cói và phát hiện ra hai từ mà mình không hiểu nghĩa. Tôi bèn đánh vần rồi lớn tiếng phát âm chúng. Vừa dứt tiếng đọc từ đầu tiên, tôi bỗng thấy chiếc hộp tuột khỏi tay mình như thể bị đè nặng bởi một sức nặng ngàn cân, rồi nó trượt dài trên sàn nhà, mặc cho tôi hết sức tìm cách nhấc nó lên. Nhưng sự ngạc nhiên của tôi nhanh chóng biến thành kinh hãi khi chiếc hộp bật mở và tôi thấy bên trong có một cái đầu người đang trừng trừng nhìn thẳng vào mình. Bị tê liệt vì sợ hãi và chẳng biết phải xử trí thế nào trước một hiện tượng kỳ quái nhường ấy, tôi chết lặng đi một lúc, run lẩy bẩy như kẻ bị nhiễm độc thủy ngân, nhưng rồi tôi cũng trấn tĩnh lại sau đó và nghĩ rằng đó chỉ là một ảo ảnh hão huyền, bèn cố đánh lạc hướng bản thân bằng cách đọc từ thứ hai. Nừa vừa cất tiếng đọc xong thì chiếc hộp sập lại, cái đầu biến mất, và thay vào đó tôi lại nhìn thấy nhúm tro tàn ban đầu. Mà chẳng hề hay biết gì, tôi đã vô tình khám phá ra hai từ năng lực nhất trong tự nhiên, hai từ của sự sáng tạo và hủy diệt, của sự sống và cái chết!”
Ông dừng lại vài phút để quan sát hiệu ứng từ câu chuyện của mình, đoạn với những bước đi trang nghiêm và chậm rãi tiến đến chiếc bàn rồi đặt chiếc hộp huyền bí lên đó.
“Tấm khăn kìa, ngài sĩ quan!” Ben-Zayb không kìm được mà kêu lên.
“Sao lại không chứ?” ông Leeds vô cùng niềm nở đáp lời.
Vừa dùng tay phải nhấc chiếc hộp lên, ông vừa dùng tay trái giật phăng tấm khăn ra, phơi bày trọn vẹn chiếc bàn được trụ bởi ba chân. Rồi ông lại đặt chiếc hộp vào giữa bàn và với vẻ mặt đầy nghiêm nghị quay sang nhìn khán giả.
“Để xem hắn giở trò gì nào,” Ben-Zayb thì thầm với người ngồi cạnh. “Anh thấy chưa, hắn lại kiếm cớ lảng tránh kìa.”
Vẻ chăm chú hiện rõ trên gương mặt tất cả mọi người và sự im lặng bao trùm khắp gian phòng. Tiếng ồn ào náo động ngoài đường vọng vào rõ mồn một, nhưng ai nấy đều đang bị cuốn vào bầu không khí đến mức dăm ba câu chuyện phiếm lọt tai chẳng còn tác dụng gì nữa.
“Sao chúng mình không được vào nhỉ?” một giọng phụ nữ cất lên hỏi.
“Abá, trong đấy toàn mấy thầy dòng với thư lại thôi,” một người đàn ông đáp. “Con nhân sư ấy chỉ dành riêng cho bọn họ thôi.”
“Mấy ông thầy tu cũng tò mò lắm chứ bộ,” giọng người phụ nữ vang lên, vừa nói vừa bước dời đi chỗ khác. “Họ sợ tụi mình biết họ đang bị lừa bịp thế nào chứ gì. Mà này, chẳng lẽ cái đầu đó là nhân tình của thầy tu nào chắc?”
Giữa bầu không khí tĩnh mịch đến rợn ngợp, viên người Mỹ cất giọng đầy cảm xúc thông báo: “Thưa các quý ông quý bà, chỉ bằng một từ duy nhất, tôi chuẩn bị làm cho nhúm tro tàn này hồi sinh, và các ngài sẽ được trò chuyện với một sinh linh thấu triệt quá khứ, hiện tại và cả phần lớn tương lai nữa!”
Dứt lời, nhà ảo thuật phát ra một tiếng kêu khẽ, thoạt đầu nghe thê thảm, sau đó lại réo rắt sống động, là sự pha trộn giữa những âm thanh sắc nhọn tựa như những lời nguyền rủa và những nốt trầm đục như những lời đe dọa, khiến tóc gáy Ben-Zayb phải dựng cả lên.
“Deremof!” viên người Mỹ quát lớn.
Tấm rèm trên tường khẽ động đậy, những ngọn đèn chùng xuống, chiếc bàn kêu cóót két. Một tiếng rên rỉ yếu ớt phát ra từ bên trong chiếc hộp. Mặt cắt không còn giọt máu và đầy bất an, mọi người nhìn chằm chằm vào nhau, trong khi có một bà hoảng sợ đến mức vồ lấy tay cha Salvi.
Ngay sau đó, chiếc hộp tự động bật mở và phơi bày trước mắt khán giả một chiếc đầu mang diện mạo tử thi, xung quanh bao bọc bởi mái tóc đen dài và rậm rạp. Nó từ từ mở mắt và đảo nhìn khắp lượt khán giả. Đôi mắt ấy mang một ánh nhìn sắc lẹm sống động, càng thêm phần sâu thẳm bởi hai hốc mắt sâu hoắm, và như thể vực sâu đang gọi gào thấu vực sâu, chúng đăm đăm dán chặt vào đôi mắt trũng sâu, vô hồn của vị cha xứ Salvi đang run lẩy bẩy, trân trân nhìn trân trân như thể vừa trông thấy ma.
“Nhân sư,” ông Leeds ra lệnh, “hãy nói cho các khán giả biết ngươi là ai.”
Một sự im lặng như tờ bao trùm, trong khi một luồng gió lạnh buốt thốc qua căn phòng làm cho ngọn lửa xanh của những ngọn đèn cõi chết chập chờn dao động. Ngay cả những kẻ hoài nghi nhất cũng phải rùng mình.
“Ta là Imuthis,” chiếc đầu cất giọng u uất nhưng mang một vẻ đe dọa kỳ lạ. “Ta sinh ra vào thời Amasis và qua đời dưới ách thống trị của người Ba Tư, khi Cambyses đang trên đường dẫn quân trở về sau chiến dịch thảm họa ở nội địa Libya. Ta đã đến đó để hoàn thiện học thức sau những chuyến chu du dài ngày qua Hy Lạp, Assyria và Ba Tư, rồi trở về quê hương sinh sống cho đến ngày Thoth gọi ta ra trước phán quan tồi tệ của ngài. Nhưng thật trớ trêu cho ta, khi đi ngang qua Babylon, ta đã phát hiện ra một bí mật động trời — bí mật về tên Smerdis giả mạo kẻ đã cướp ngôi, tên pháp sư ngạo mạn Gaumata kẻ đã thao túng ngai vàng dưới lớp vỏ bọc kẻ mạo danh. Sợ rằng ta sẽ tố cáo hắn với Cambyses, hắn liền quyết tâm hãm hại ta thông qua tay lũ thầy tu Ai Cập, những kẻ lúc bấy giờ đang cai quản quê hương ta. Bọn chúng nắm trong tay hai phần ba đất độc quyền học thức, chúng đè nén quần chúng trong sự dốt nát và bạo tàn, chúng làm cho dân chúng ngu muội đi, từ đó khiến họ ngoan ngoãn cúi đầu bước từ ách thống trị này sang ách thống trị khác mà chẳng dám kháng cự. Bọn xâm lược đã lợi dụng chúng, và vì biết rõ sự hữu dụng của chúng nên đã che chở, dung dưỡng cho chúng giàu có. Giới cầm quyền không chỉ phụ thuộc vào ý muốn của bọn chúng mà thậm chí có kẻ còn bị biến thành những công cụ thuần túy trong tay chúng. Lũ thầy tu Ai Cập càng hăng hái thi hành mệnh lệnh của Gaumata bao nhiêu, chúng lại càng nơm nớp sợ hãi ta bấy nhiêu, bởi chúng sợ ta sẽ phơi bày những trò bịp bợm của chúng trước toàn dân. Để đạt được mục đích, chúng đã lợi dụng một tên thầy tu trẻ tuổi ở Abydos, kẻ vẫn hay mượn danh là người thánh thiện.”
Một sự im lặng đau đớn bao trùm sau những lời ấy. Cái đầu kia đang nhắc đến những âm mưu và thủ đoạn bịp bợm của giới tu sĩ, và dẫu nó đang đề cập đến một thời đại khác hay một tín ngưỡng khác, tất cả các vị tu sĩ có mặt ở đây đều cảm thấy chướng tai gai mắt, có lẽ bởi họ nhìn thấy trong mạch ý chính của bài phát biểu ấy có đôi nét tương đồng với thực trạng hiện tại. Cha Salvi đang co ro trong cơn run rẩy co giật; môi ông mấp máy và đôi mắt lồi ra đăm đăm dõi theo hướng nhìn của chiếc đầu như thể bị thôi miên. Những giọt mồ hôi bắt đầu rịn ra trên gương mặt hốc hác của ông, nhưng chẳng một ai để ý đến điều đó, bởi ai nấy đều đang chìm đắm và bị ám ảnh sâu sắc.
“Âm mưu mà bọn thầy tu ở quê hương ngươi đã vạch ra để hãm hại ngươi là gì?” ông Leeds hỏi.
Chiếc đầu phát ra một tiếng rên xiết não nề, tựa như phát ra từ tận đáy lòng, và các khán giả nhìn thấy đôi mắt ấy, đôi mắt rực lửa ấy, bỗng mờ đục và ngấn lệ. Nhiều người rùng mình dựng cả tóc gáy. Không, đó hoàn toàn không phải là ảo giác, cũng chẳng phải trò bịp bợm nào cả: chiếc đầu chính là nạn nhân và những gì nó kể lại chính là câu chuyện cuộc đời của chính nó.
“Ối!” nó rên rỉ, toàn thân run lên bần bật vì đau khổ, “Ta đã yêu một thiếu nữ, con gái của một vị tư tế, thuần khiết tựa ánh sáng, như đóa sen vừa hé nở! Tên tư tế trẻ tuổi ở Abydos cũng đem lòng tơ tưởng nàng và đã vạch ra một cuộc nổi loạn, mượn danh nghĩa của ta cùng mấy cuộn giấy cói mà hắn đã chộp được từ người yêu ta. Cuộc bạo loạn nổ ra đúng lúc Cambyses đang đùng đùng nổi giận vì những thất bại trong chiến dịch quân sự bất thành của hắn. Ta bị vu cáo là kẻ phản loạn, bị bắt giam, và sau khi trốn thoát được thì bị sát hại trong cuộc săn bắn ở hồ Moeris. Từ chốn vĩnh hằng, ta đã chứng kiến lũ kẻ mạo danh đắc thắng. Ta thấy tên tư tế ở Abydos ngày đêm bức hại người thiếu nữ, kẻ đã tìm cách trốn vào một ngôi đền của nữ thần Isis trên đảo Philae. Ta thấy hắn truy đuổi, hành hạ nàng ngay cả trong những căn hầm ngầm, ta thấy hắn bức nàng phát điên vì hoảng sợ và đau đớn, tựa như một con dơi khổng lồ đang săn đuổi một cánh chim bồ câu trắng. Hỡi tên thầy tu, hỡi tên tư tế ở Abydos, ta đã sống lại để phơi bày tội ác của ngươi, và sau ngần ấy năm tháng giữ im lặng, ta chính thức gọi tên ngươi là kẻ sát nhân, kẻ đạo đức giả, tên lừa đảo!”
Một tiếng cười khô khốc, rỗng tuếch vang lên đáp lại những lời đó, trong khi một giọng nói nghẹn ngào cất lên: “Không! Xin hãy rủ lòng thương!”
Đó chính là cha Salvi, vị linh mục đã bị nỗi kinh hoàng đánh gục, hai tay dang rộng và đang lả người trượt xuống sàn nhà.
“Có chuyện gì với cha thế ạ? Cha không khỏe à?” cha Irene hỏi.
“Tại cái nóng trong phòng này...”
“Do cái mùi tử thi chúng ta đang hít phải đây này...”
“Kẻ sát nhân, kẻ vu khống, đồ đạo đức giả!” chiếc đầu lặp lại. “Ta cáo buộc ngươi — kẻ sát nhân, kẻ sát nhân, kẻ sát nhân!”
Lại một tràng cười khô khốc, mang âm hưởng mồ mả và đe dọa vang lên, tựa như chiếc đầu kia đang quá đỗi chìm đắm trong việc ngắm nhìn những nỗi oan khiên của mình đến mức chẳng thèm bận tâm đến sự hỗn loạn đang diễn ra trong phòng.
“Xin khoan dung! Nàng ấy vẫn còn sống!” cha Salvi rên rỉ, rồi lịm đi không biết gì nữa. Mặt ông ta tái mét chẳng khác gì xác chết. Vài vị phu nhân thấy vậy liền cho rằng ngất xỉu là bổn phận của mình lúc bấy giờ, và thế là họ cũng lăn ra ngất theo.
“Hắn mụ mẫm cả óc rồi! Cha Salvi kìa!”
“Tôi đã bảo hắn đừng có ăn món súp yến sào đó cơ mà,” cha Irene lầm bầm. “Làm hắn sinh bệnh rồi kìa.”
“Nhưng có thấy hắn ăn miếng nào đâu,” Don Custodio run lẩy bẩy đáp lời. “Tại cái đầu cứ trừng trừng nhìn thẳng vào hắn nên mới làm hắn bị thôi miên đấy thôi.”
Thế là sự hỗn loạn bao trùm, căn phòng trông chẳng khác nào một bệnh viện hay một bãi chiến trường. Cha Salvi trông như một thây ma, còn các quý bà, thấy chẳng ai thèm bận tâm đến mình nữa, bèn nhân cơ hội tự tỉnh lại cho nhanh.
Trong khi đó, chiếc đầu đã hóa thành tro tàn, và ông Leeds, sau khi đã phủ lại tấm khăn lên bàn, liền cúi đầu tiễn khách ra về.
“Cái buổi biểu diễn này thế nào cũng phải cấm quỷ đi thôi,” Don Custodio vừa bước đi vừa làu bàu. “Thật là đồi bại và vô đạo đức hết sức.”
“Và hơn hết là vì hắn có dùng gương đâu cơ chứ,” Ben-Zayb nói thêm, trước khi bước ra khỏi phòng, hắn vẫn cố tìm cách kiểm tra lại cho chắc ăn một lần cuối cùng, bèn nhảy qua thanh chắn, tiến lại gần chiếc bàn và xốc tấm khăn lên: chẳng có gì hết, tuyệt đối chẳng có gì cả!1 Ngày hôm sau, hắn viết một bài báo bàn về các khoa học huyền bí, chủ nghĩa thông linh và đại loại thế.
Ngay lập tức, một lệnh cấm biểu diễn được ban hành từ phía tòa giám mục, nhưng ngặt nỗi ông Leeds đã biến mất tự bao giờ, mang theo bí mật của mình cao chạy xa bay về hướng Hongkong.
1 Mặc dù vậy, Ben-Zayb cũng không hẳn là đoán sai. Ba chân bàn đều có khoét rãnh để những chiếc gương giấu bên dưới bục gỗ được che phủ bởi các tấm thảm ca-rô có thể trượt lên trượt xuống qua đó. Khi đặt chiếc hộp lên bàn, một chiếc lò xo sẽ bị nén lại và đẩy mấy chiếc gương trượt nhẹ lên trên. Tấm khăn sau đó được nhấc ra, lưu ý là phải nhấc bổng lên thay vì kéo tuột nó ra, thế là ta có được chiếc bàn thông thường của mấy cái đầu biết nói. Chiếc bàn được nối liền với phần đáy hộp. Khi buổi biểu diễn kết thúc, nhà ảo thuật lại phủ khăn lên bàn, bấm một chiếc lò xo khác, và thế là mấy chiếc gương lại tụt xuống.—Ghi chú của tác giả.