Ngồi một mình trong căn phòng tĩnh mịch bên bờ biển, nơi mặt nước dập dềnh trải dài tận chân trời hiện rõ qua khung cửa sổ rộng mở, cha Florentino đang xua tan nỗi cô quạnh bằng cách tấu lên những khúc ca u buồn, trầm mặc trên chiếc đàn harmonium, hòa cùng tiếng sóng vỗ vang dội và tiếng lá xào xạc từ khu rừng gần đó. Những nốt nhạc ngân dài, tròn trịa, ai oán tựa một lời cầu nguyện nhưng vẫn đầy sức sống, cứ thế cất lên từ nhạc cụ cổ kính. Vị linh mục, vốn là một nhạc tài hoa, đang ứng tấu và thả hồn cho nỗi buồn trong lòng thỏa chí tuôn trào giữa không gian quạnh hiu.
Sự thật là vị lão tăng đang vô cùng buồn bã. Người bạn hiền của ông, Don Tiburcio de Espadaña, vừa mới rời đi để trốn chạy sự truy lùng của người vợ. Sáng hôm ấy, ông đã nhận được một bức thư từ viên đồn trưởng Cảnh sát Dân sự với nội dung như sau:
THẦY CẢ KÍNH MẾN,—Tôi vừa nhận được bức điện tín từ quan tư lệnh với nội dung: “Tên Tây ẩn nấp nhà cha Florentino bắt giải sống chết.” Vì điện tín rất rõ ràng, xin hãy cảnh báo bạn của ngài tránh đi nơi khác trước khi tôi đến bắt vào lúc tám giờ tối nay.
Thân ái,
PEREZ
Hãy đốt bức thư này.
“C-con mụ V-victorina khốn kiếp ấy!” Don Tiburcio lắp bắp. “B-bà ta c-có thể đem bắn tôi mất!”
Cha Florentino đành bất lực chẳng thể an ủi nổi ông khách. Mọi lời giải thích của ông đều vô ích khi chỉ ra rằng từ cojera thực chất phải đọc là cogerá, và kẻ trốn tránh kia chẳng phải là Don Tiburcio, mà là lão thợ kim hoàn Simoun—người hai ngày trước đã lết đến đây trong tình trạng bị thương, trốn chạy và khẩn khoản xin tị trú. Nhưng Don Tiburcio nào chịu nghe lọt tai—đối với ông, cojera chính là tật thọt của mình, là đặc điểm nhận dạng của cá nhân ông, và đó là một âm mưu hiểm độc của Victorina nhằm tóm lấy ông dù sống hay chết, đúng như những gì Isagani đã viết từ Manila. Thế là vị Ulysses tội nghiệp đành phải rời khỏi nhà linh mục để ẩn thân trong túp lều của một người tiều phu.
Cha Florentino không mảy may nghi ngờ gì việc kẻ mà người ta đang lùng sập sạo chính là Simoun, vị thợ kim hoàn đã xuất hiện một cách đầy bí ẩn trong bộ dạng ê ẩm, gắt gỏng, kiệt sức và tự tay ôm theo chiếc tráp đựng ngọc quý. Với lòng hiếu khách cởi mở và nồng hậu đậm chất Philippines, vị linh mục đã rước hắn vào nhà mà chẳng gặng hỏi những điều bất lịch sự; và vì tin tức về các biến cố ở Manila vẫn chưa tới tai nên ông hoàn toàn mù mờ trước tình thế hiện tại. Giả thiết duy nhất lóe lên trong đầu ông là vì vị Toàn quyền—người bảo hộ và là bạn của thợ kim hoàn—nay đã sập đài, nên kẻ thù của hắn, tức những nạn nhân từng chịu bao bất công áp bức, đang nổi dậy đòi trả thù, và quyền Tổng đốc đang truy lùng để bắt hắn phải óc ra khối tài sản kết xù đã vơ vét—đó chính là nguyên nhân hắn phải tháo chạy. Nhưng những vết thương trên người hắn từ đâu mà ra? Phải chăng hắn tự tử? Hay chúng là hậu quả của những ân oán cá nhân? Hoặc chỉ đơn thuần do tai nạn như lời Simoun quả quyết? Hay chúng hằn lên trong lúc hắn chật vật trốn chạy sự truy đuổi của binh lính?
Giả thiết cuối cùng có vẻ là hợp lý nhất, lại càng được củng cố thêm bởi bức điện tín vừa nhận cùng thái độ kiên quyết khước từ sự cứu chữa của bác sĩ thủ đô từ phía Simoun ngay từ phút ban đầu. Vị thợ kim hoàn chỉ chịu để cho một mình Don Tiburcio chăm sóc vết thương, nhưng ngay cả với điều đó, hắn vẫn mang một sự hoài nghi rõ rệt. Giữa tình cảnh rối ren ấy, cha Florentino tự hỏi mình nên xử trí ra sao khi lực lượng Cảnh sát Dân sự kéo đến bắt Simoun. Tình trạng sức khỏe hiện tại không cho phép di chuyển hắn đi đâu, huống chi là một cuộc hành trình dài—nhưng bức điện tín đã ghi rõ là sống hay chết.
Cha Florentino ngừng chơi đàn, bước đến bên cửa sổ để phóng tầm mắt ra khoảng đại dương mênh mông, nơi mặt nước hoang vắng không một bóng tàu ghe, chẳng một cánh buồm—và biển cả cũng chẳng mang lại cho ông một gợi ý nào. Một hòn đảo nhỏ cô độc nổi bật ở đằng xa chỉ càng tô đậm thêm sự hiu hạnh, khiến không gian xung quanh thêm phần cô quạnh. Sự vô tận đôi khi thật câm lặng đến mức tuyệt vọng.
Vị lão tu sĩ đang cố gắng phân tích nụ cười buồn bã và đầy mỉa mai mà Simoun đã đáp lại khi hay tin hắn sắp bị bắt. Nụ cười ấy có ý nghĩa gì? Và cả nụ cười kia nữa, còn buồn bã và mỉa mai hơn thế, khi hắn nghe tin họ sẽ không đến trước tám giờ tối? Tất cả sự bí ẩn này là sao? Tại sao Simoun lại cự tuyệt việc trốn chạy? Trong đầu ông bỗng vang lên câu nói nổi tiếng của Thánh John Chrysostom khi ngài biện hộ cho thái giám Eutropius: “Chẳng có thời điểm nào thích hợp hơn lúc này để thốt lên—Phù vân thay, tất cả chỉ là phù vân!”
Phải, con người Simoun kia, từng giàu có, quyền lực, kẻ khiến ai nấy khiếp sợ chỉ cách đây một tuần, giờ đây lại lâm vào cảnh khốn cùng hơn cả Eutropius, phải đi tìm nơi nương náu không phải nơi bệ thờ thánh đường, mà là trong căn lều khốn khổ của một vị linh mục bản xứ nghèo hèn, ẩn mình giữa chốn rừng sâu bên bờ biển vắng! Phù vân thay, tất cả chỉ là phù vân! Chỉ vài tiếng nữa thôi, con người ấy sẽ trở thành tù nhân, bị lôi xềnh xệch khỏi chiếc giường bệnh mà chẳng màng đến tình trạng hiện tại, chẳng mảy may thương xót cho những vết thương trên cơ thể—dù sống hay chết, kẻ thù của hắn quyết đòi cho bằng được! Làm sao ông có thể cứu hắn đây? Tìm đâu ra những lời lẽ lay động lòng người như vị giám mục thành Constantinople? Trọng lượng nào có thể đặt lên những lời nói yếu ớt của ông, lời của một linh mục bản xứ mà chính bản thân Simoun trong những ngày tháng huy hoàng từng tỏ vẻ dửng dưng, thậm chí còn cổ súy và khuyến khích sự nhục nhã ấy?
Nhưng cha Florentino giờ đây chẳng còn bận tâm đến thái độ hờ hững mà vị thợ kim hoàn từng dành cho ông hai tháng trước, khi ông cố gắng nài nỉ hắn giúp đỡ Isagani—lúc bấy giờ đang là tù nhân vì sự xốc nổi hiệp nghĩa của tuổi trẻ; ông cũng quên luôn sự nhiệt tình mà Simoun từng bỏ ra để thúc đẩy cuộc hôn nhân của Paulita, thứ đã đẩy Isagani vào vũng lầy u uất khiến người chú của cậu ăn ngủ không yên. Ông quên sạch thảy mọi chuyện và chỉ đinh ninh nghĩ đến tình cảnh khốn cùng của người bệnh cùng bổn phận của một người chủ nhà, đến mức đầu óc ông quay cuồng. Phải giấu hắn ở đâu để tránh rơi vào nanh vuốt của nhà chức trách đây? Thế nhưng, nhân vật chính của câu chuyện lại chẳng hề lo lắng, trái lại hắn vẫn đang mỉm cười.
Trong lúc ông đang mải suy tính muôn vàn điều, một người đầy tớ bước đến thưa rằng người bệnh muốn nói chuyện với ông, thế là ông liền bước sang căn phòng bên cạnh. Đó là một gian phòng sạch sẽ, thông thoáng với sàn nhà lát ván bản rộng được bào nhẵn bóng loáng, bày trí giản dị bằng những chiếc ghế bành lớn, nặng nề mang kiểu dáng cổ xưa, chẳng hề sơn phết hay đánh vecni. Ở một góc phòng kê một chiếc giường lớn bằng gỗ kamagon với bốn trụ chống màn, bên cạnh là chiếc bàn bày đầy lọ thuốc, bông băng và gạc. Một chiếc bàn quỳ đặt trước tượng Chúa chịu nạn cùng vài cuốn sách thưa thớt khiến người ta dễ dàng đoán ra đây chính là phòng ngủ riêng của vị linh mục, nay được nhường lại cho vị khách theo đúng phong tục hiếu khách của người Philippines là luôn dọn dẹp bàn ăn ngon nhất, căn phòng đẹp nhất và chiếc giường êm ái nhất trong nhà để đón tiếp khách phương xa. Nhìn những khung cửa sổ rộng mở để đón trọn làn gió biển trong lành cùng tiếng vọng của khúc ca bi ai vĩnh cửu từ đại dương, chẳng ai ở đất nước Philippines này lại nghĩ rằng đang có một người bệnh nằm ở đó, bởi thói quen muôn thuở của họ là hễ ai vừa cảm lạnh hay nhức đầu dăm ba chuyện vặt là ngay lập tức đóng sập mọi cửa sổ, bịt kín mọi khe hở.
Cha Florentino nhìn về phía giường bệnh và vô cùng kinh ngạc khi thấy gương mặt người bệnh đã không còn vẻ bình thản và mỉa mai ngày nào. Nỗi đau giấu kín dường như đang đè nặng lên đôi mày, sự lo âu hằn in rõ trên ánh mắt, và khóe môi hắn cong lên một nụ cười đau đớn.
“Ngài Simoun đang đau đớn lắm phải không?” Vị linh mục ân cần hỏi khi bước lại gần.
“Một chút thôi! Nhưng chẳng mấy chốc nữa tôi sẽ hết đau thôi,” hắn đáp lại và khẽ lắc đầu.
Cha Florentino hoảng hốt đan chặt hai tay vào nhau, lờ mờ đoán ra sự thật khủng khiếp. “Lạy Chúa tôi, ông đã làm gì thế? Ông đã uống cái gì vậy?” Ông với tay với lấy những lọ thuốc trên bàn.
“Vô ích rồi! Chẳng còn cách nào cứu vãn được nữa đâu!” Simoun đáp lại với một nụ cười đớn đau. “Ngài còn mong đợi tôi làm gì nữa đây? Trước khi đồng hồ điểm tám giờ—dù sống hay chết—chết thì có, chứ còn sống thì không đời nào!”
“Lạy Chúa tôi, ông đã làm gì thế này?”
“Xin ngài hãy bình tĩnh!” Người bệnh khẽ xua tay ra hiệu. “Mọi chuyện đã rồi. Tôi không thể rơi vào tay bất cứ kẻ nào—bí mật của tôi sẽ bị bứt tung ra mất. Đừng hoảng hốt, đừng mất bình tĩnh, vô ích thôi! Hãy lắng nghe tôi—đêm đã buông xuống và chẳng còn thời gian đâu mà lãng phí. Tôi phải thổ lộ bí mật của mình, trao gửi ngài tâm nguyện cuối cùng, và phơi bày cả cuộc đời mình trước mặt ngài. Trong khoảnh khắc tối cao này, tôi muốn trút bỏ gánh nặng đè nặng trên vai, tôi muốn làm sáng tỏ một hoài nghi bấy lâu. Ngài là người đặt niềm tin vững chắc vào Thiên Chúa—xin hãy nói cho tôi biết liệu có thật sự tồn tại một Thiên Chúa hay không?”
“Nhưng còn thuốc giải thì sao, ngài Simoun! Tôi có ether, cả clorofom nữa…”
Vị linh mục cuống cuồng lục tìm chiếc lọ, cho đến khi Simoun bực dọc thốt lên: “Vô ích, vô ích thôi! Đừng phí thời gian nữa! Tôi sẽ mang theo bí mật của mình xuống mồ!”
Vị linh mục hoảng loạn sụp xuống trước bàn làm việc, vùi khuôn mặt trong hai bàn tay và cầu nguyện dưới chân tượng Chúa. Đoạn, ông đứng dậy với vẻ mặt nghiêm nghị và trầm tĩnh, tựa hồ vừa vớt vát được từ nơi Thiên Chúa toàn bộ sức mạnh, toàn bộ phẩm giá cùng uy quyền của một vị quan tòa phán xét lương tâm. Kéo một chiếc ghế bành lại sát đầu giường bệnh, ông sẵn sàng lắng nghe.
Ngay từ những lời thều thào đầu tiên của Simoun, khi hắn hé lộ thân thật của mình, vị lão tu sĩ giật mình lùi lại và nhìn chằm chằm hắn đầy kinh hãi, khiến người bệnh bật cười cay đắng. Bị bất ngờ tấn công, vị linh mục suýt mất đi sự điềm tĩnh vốn có, nhưng ông nhanh chóng trấn định lại, lấy chiếc khăn tay che mặt rồi cúi người lắng nghe tiếp.
Simoun kể lại câu chuyện đầy bi kịch của cuộc đời mình: cách đây mười ba năm, hắn từng từ châu Âu trở về với đầy ắp những hy vọng và mộng tưởng hồng tươi, trở về để cưới người thiếu nữ hắn yêu thương, mang theo tâm nguyện làm điều thiện và tha thứ cho tất cả những kẻ từng gây tổn thương cho mình, miễn là họ để cho hắn được sống trong yên bình. Nhưng sự đời chẳng chiều lòng người. Một bàn tay bí ẩn đã kéo hắn vào vung lầy hỗn loạn của một cuộc nổi dậy do kẻ thù sắp đặt. Danh dự, gia sản, tình yêu, tương lai, tự do—tất cả đều tan thành mây khói, và hắn chỉ trốn thoát được nhờ vào sự hy sinh anh dũng của một người bạn. Kể từ đó, hắn thề sẽ trả thù. Với số tài sản của gia đình được chôn giấu trong rừng sâu, hắn bôn ba vượt biển sang xứ người và dấn thân vào thương trường. Hắn từng tham gia cuộc chiến ở Cuba, lúc đầu phe này, lúc giúp phe kia, nhưng lúc nào cũng trục lợi cho bản thân. Chính nơi ấy, hắn đã quen biết viên Toàn quyền—lúc bấy giờ hãy còn là thiếu tá—và chiếm được thiện cảm của y trước hết qua những khoản tiền cho vay, rồi sau đó trói chặt y làm chiến hữu bằng cách nắm thóp những bí mật tội ác. Nhờ có tiền tài, hắn đã đút lót để mua chức Toàn quyền cho y, và một khi đã đặt chân đến Philippines, hắn biến y thành một con rối mù quáng, xúi giục y phạm đủ thứ bất công để thỏa mãn lòng tham lam vàng bạc không đáy của y.
Bản tự thú kéo dài lê thê và đầy mệt mỏi, nhưng suốt quãng thời gian ấy, vị linh mục giải tội không hề có thêm bất kỳ cử động ngạc nhiên nào và hiếm khi ngắt lời người bệnh. Khi đêm đã buông xuống, cha Florentino mới đứng dậy, đưa tay lau giọt mồ hôi trên trán và bắt đầu chìm đắm trong suy ngẫm. Bóng tối mờ ảo tràn ngập căn phòng, khiến những tia trăng lọt qua khung cửa sổ phủ lên không gian một thứ ánh sáng chập chờn cùng những vệt phản chiếu ảo ảnh.
Giữa sự tĩnh lặng bao trùm, giọng nói của vị linh mục vang lên trầm buồn, điềm đạm nhưng đầy an ủi: “Thiên Chúa sẽ tha thứ cho ngài, thưa ngài—Simoun,” ông cất lời. “Ngài thấu hiểu rằng chúng ta vốn mang bản tính dễ sai lầm, Ngài đã chứng kiến những đớn đau ngài từng gánh chịu, và khi định đoạt để hình phạt cho những lầm lỗi của ngài giáng xuống dưới hình cái chết từ chính những kẻ ngài từng xúi giục tạo ác ôn, ta có thể nhìn thấu lòng thương xót vô biên của Người. Ngài đã lần lượt đập tan từng kế hoạch của ngài, dẫu chúng có được vạch ra chu đáo đến đâu—trước hết bằng cái chết của Maria Clara, tiếp đến là sự thiếu chuẩn bị, rồi qua cả những cách thức mờ ám khác. Chúng ta hãy cúi đầu tuân theo thánh ý và dâng lời tạ ơn Người!”
“Theo ý ngài thì,” người bệnh yếu ớt đáp lại, “Thánh ý của Ngài là những hải đảo này—”
“Vẫn phải tiếp tục chìm đắm trong cảnh ngục tù lầm than này sao?” vị linh mục nói tiếp khi thấy người kia ngập ngừng. “Tôi không rõ, thưa ngài, tôi làm sao thấu được tâm tư của Đấng Tối Cao. Chỉ biết rằng Ngài chưa bao giờ ruồng bỏ những dân tộc trong giờ phút quyết tử đã trao trọn niềm tin nơi Ngài và tôn vinh Ngài làm Phán quan cho chính nghĩa của họ; tôi biết rằng cánh tay Ngài chưa bao giờ chùng xuống khi công lý bị giày xéo dài lâu và mọi con đường cùng đường, những kẻ bị áp bức buộc phải tuốt gươm chiến đấu vì mái ấm, vì người vợ và đàn con thơ, vì những quyền lợi thiêng liêng bất khả xâm phạm mà, như nhà thơ Đức từng ca ngợi, vẫn luôn ngời sáng phía trên kia, vĩnh viễn không bao giờ lụi tàn, hệt như những vì tinh tú vĩnh hằng. Không, Thiên Chúa chính là công lý, Ngài không thể bỏ rơi chính nghĩa của mình, chính nghĩa của tự do—thứ mà thiếu nó thì chẳng có công lý nào tồn tại nổi.”
“Vậy tại sao Ngài lại từ chối ban ơn cứu giúp cho tôi?” người bệnh cất tiếng hỏi với giọng ngập tràn oán hận.
“Bởi vì ngài đã chọn những phương thế mà Ngài không thể dung thứ,” câu trả lời vang lên đầy nghiêm khắc. “Vinh quang cứu rỗi một xứ sở không dành cho kẻ từng góp tay tàn phá nó. Ngài cứ đinh ninh rằng những gì bị bôi nhọ và vấy bẩn bởi tội ác và sự bất lương có thể được thanh tẩy và chuộc lại bằng một tội ác khác và một sự bất lương khác. Sai lầm lớn rồi! Thù hận chưa bao giờ đẻ ra thứ gì ngoài quái vật và tội ác chưa bao giờ sinh ra ai khác ngoài tội phạm! Chỉ có tình yêu mới tạo nên những kỳ công tuyệt diệu, chỉ có đức hạnh mới cứu rỗi được muôn loài! Không, nếu đất nước chúng ta có ngày được tự do, thì sự tự do ấy tuyệt đối không đến từ vũng lầy đồi bại và tội ác, không thể đạt được bằng cách làm vấy bẩn những người con của đất mẹ, kẻ lừa dối người này, kẻ mua chuộc kẻ khác—không đời nào! Sự chuộc tội luôn đòi hỏi phải có đức hạnh, đức hạnh cần sự hy sinh, và hy sinh chính là tình yêu!”
“Được rồi, tôi chấp nhận lời giải thích của ngài,” người bệnh lịm đi một lúc rồi mới lên tiếng. “Tôi đã lầm đường lạc lối, nhưng chỉ vì tôi lầm đường, lẽ nào vị Thiên Chúa ấy lại nhẫn tâm tước đoạt tự do của một dân tộc mà vẫn dung túng, cứu rỗi biết bao kẻ còn mang tội ác tày đình hơn tôi gấp bội? Tội lỗi của tôi thấm tháp vào đâu so với những tội ác tày trời của đám thống trị chúng ta? Tại sao Thiên Chúa ấy lại phải bận tâm đến tội lỗi của tôi nhiều hơn là tiếng kêu thét của bao kẻ vô tội ngoài kia? Tại sao Ngài không giáng sấm sét trừng phạt tôi rồi đem lại vinh quang cho muôn dân? Tại sao…”
“Người công chính và lương thiện buộc phải chịu đựng đớn đau để tư tưởng của họ được lan tỏa và biết đến rộng rãi! Ngài phải lắc mạnh hoặc đập vỡ chiếc bình thì hương thơm mới bay xa, ngài phải ghè nát phiến đá mới lóe lên tia lửa! Có một sự sắp đặt mang tính định mệnh trong các cuộc bách hại của bạo chúa, thưa ngài Simoun!”
“Tôi vốn biết điều đó,” người bệnh thì thào, “và đó là lý do tôi cổ súy cho bạo tàn.”
“Phải, thưa bạn tôi, nhưng những ảnh hưởng đồi bại còn lan rộng hơn bất cứ thứ gì khác. Ngài nuôi dưỡng sự thối nát của xã hội mà chẳng hề gieo rắc lấy một tư tưởng nào. Từ thứ men chua của tội lỗi ấy, chỉ sự ghê tởm mới có thể nảy sinh, và nếu dẫu có thứ gì mọc lên sau một đêm thì giỏi lắm cũng chỉ là một cây nấm độc, bởi nấm độc mới sinh ra từ chốn nhơ nhớp. Sự thật là những thói hư tật xấu của chính quyền sớm muộn gì cũng tự đào mồ chôn chúng, chúng mang lại cái chết cho bộ máy cai trị, nhưng đồng thời chúng cũng giết chết luôn cả xã hội trong lòng nó sinh ra. Một chính quyền vô đạo đức tất yếu đẻ ra một dân tộc suy đồi, một bộ máy hành chính vô lương tâm, những thần dân tham lam và nịnh bợ ở chốn thị thành, cùng bọn cướp bóc sơn tặc nơi non cao rừng thẳm. Chủ nào tớ nấy! Chính quyền sao, đất nước vậy!”
Một khoảng lặng ngắn trùm lên gian phòng, rồi tiếng người bệnh lại cất lên phá vỡ sự im ắng: “Vậy, chúng ta phải làm gì đây?”
“Nhẫn nhục và lao động!”
“Nhẫn nhục—lao động!” người bệnh bật cười cay đắng nhắc lại. “A, nói thì dễ lắm, khi ngài chẳng phải chịu đớn đau, khi mồ hôi đổ xuống được đền đáp xứng đáng. Nếu vị Thiên Chúa của ngài đòi hỏi con người những sự hy sinh lớn lao đến thế—con người vốn chỉ chật vật sống cho hiện tại và đầy hoài nghi về tương lai; nếu ngài tận mắt chứng kiến những gì tôi từng thấy, những con người khốn khổ, bần cùng phải gánh chịu những cực hình không thốt nên lời vì những tội lỗi họ chẳng hề gây ra, những người cha nghèo khó bị bứt khỏi gia đình để phơi lưng làm lúa mịch vô tích sự trên những con đường cái quan ngày ngày bị hủy hoại và dường như chỉ cốt để dìm các gia đình vào cảnh cùng đinh. A, nhẫn nhục và lao động chính là ý Chúa đấy ư! Thuyết phục họ rằng cảnh ngộ tàn sát chính là sự cứu rỗi của họ, rằng mồ hôi nước mắt của họ đem lại phồn vinh cho mái ấm! Nhẫn nhục, lao động! Đó là thứ Thiên Chúa nào chứ?”
“Một vị Thiên Chúa vô cùng công minh, thưa ngài Simoun,” vị linh mục đáp. “Một Thiên Chúa trừng phạt sự thiếu hụt đức tin, những thói hư tật xấu của chúng ta, sự rẻ rúng mà chúng ta dành cho phẩm giá cùng các giá trị công dân. Chúng ta dung túng cho cái ác, tự biến mình thành kẻ đồng lõa với nó, thậm chí đôi khi còn vỗ tay cổ súy cho nó, thế nên việc chúng ta phải gánh chịu hậu quả, để con cháu chúng ta gánh chịu hậu quả là điều công bằng, vô cùng công minh. Đó chính là Thiên Chúa của tự do, thưa ngài Simoun, Đấng buộc chúng ta phải yêu lấy tự do bằng cách trút lên vai chúng ta những gọng kìm nặng trĩu—một vị Thiên Chúa nhân từ, công bình, Đấng vừa trừng phạt vừa tôi luyện chúng ta, và chỉ ban phước lành cho những ai xứng đáng giành lấy nó qua mồ hôi nước mắt. Trường học của sự đau đớn tôi luyện ý chí, đấu trường của sự tranh đấu làm vững bền tâm can.
Tôi không có ý bảo rằng tự do của chúng ta sẽ được đổi lấy bằng mũi gươm ngọn giáo, bởi gươm giáo chẳng đóng vai trò gì mấy trong thời đại hiện nay, mà ý tôi là chúng ta phải giành lấy nó bằng cách tự hoàn thiện bản thân để xứng đáng với tự do, bằng cách nâng cao trí tuệ và phẩm giá của mỗi cá nhân, bằng cách tôn sùng công lý, lẽ phải và sự cao cả, dẫu có phải hy sinh cả tính mạng—và khi một dân tộc chạm đến độ cao ấy, Thiên Chúa sẽ trao vũ khí, những bức tượng thần sẽ vỡ nát, bạo tàn sẽ sụp đổ như lâu đài cát và ánh bình minh tự do sẽ bừng sáng.
Những khốn khổ của chúng ta đều do chính chúng ta gây ra cả, vậy nên đừng oán trách bất kỳ ai. Nếu Tây Ban Nha nhận thấy chúng ta bớt cúi đầu trước bạo tàn và tỏ ra sẵn sàng đấu tranh, chịu đựng vì các quyền lợi của mình, chính Tây Ban Nha sẽ là kẻ đầu tiên trao cho ta tự do, bởi khi giọt máu trong bụng mẹ đã chín muồi, khốn thay cho người mẹ nào dám bóp nghẹt nó! Thế nên, bao lâu mà nhân dân Philippines vẫn chưa đủ can đảm để ngẩng cao đầu, vạch trần lồng ngực tuyên bố quyền được sống một cách đàng hoàng của mình, và bảo vệ nó bằng máu và sự hy sinh; bao lâu mà chúng ta còn thấy những người đồng bào của mình trong đời sống riêng tư thì hổ thẹn với chính lòng mình, nghe tiếng gọi lương tâm gào thét phản kháng và bất bình, nhưng khi bước ra ngoài ánh sáng công cộng lại câm như hến hoặc thậm chí hùa theo những kẻ lăng mạ để giễu cợt nạn nhân; bao lâu mà chúng ta còn thấy họ thu mình trong chiếc vỏ ốc ích kỷ, nở nụ cười gượng gạo ca tụng những hành động bất lương nhất, và dùng ánh mắt để van xin một mẩu chiến lợi phẩm—thì hà cớ gì phải ban cho họ tự do? Dù có hay không có Tây Ban Nha thì họ mãi mãi vẫn thế, thậm chí còn tệ hại hơn! Cần chi độc lập khi những kẻ nô mai mốt lại trở thành bạo chúa của ngày mai? Và chuyện họ trở thành bạo chúa là điều chẳng mảy nghi ngờ, bởi kẻ cúi đầu khuất phục trước bạo tàn chính là kẻ tôn sùng bạo tàn.
Thưa ngài Simoun, khi dân tộc chúng ta hãy còn chưa sẵn sàng, khi họ lao vào cuộc chiến bằng thủ đoạn và vũ lực, thiếu đi sự thấu đáo về những gì mình đang làm, thì mọi mưu toan khôn ngoan nhất cũng sẽ thất bại, và thà rằng chúng thất bại còn hơn, bởi sao lại có thể giao phó người vợ cho một người chồng khi hắn chưa đủ yêu thương nàng, khi hắn chưa sẵn sàng chết vì nàng chứ?”
Cha Florentino cảm nhận được bàn tay người bệnh đang nắm chặt và siết lấy tay mình, thế là ông im bặt, ngóng chờ người kia lên tiếng, nhưng hắn chỉ siết chặt tay thêm chút nữa, phát ra một tiếng thở dài, rồi sự tĩnh mịch bao trùm căn phòng. Chỉ có tiếng biển khơi, nơi những ngọn sóng lăn tăn gợn sóng trước làn gió đêm hệt như đang tỉnh giấc sau cái oi bức ban ngày, cất lên những âm thanh khàn đục, khúc ca vĩnh cửu khi chúng xô vào ghềnh đá nhấp nhô. Ánh trăng, giờ đây không còn sự cạnh tranh của mặt trời, đang bình yên ngự trị bầu trời, và những tán cây trong rừng nghiêng mình vào nhau, thì thầm những truyền thuyết cổ xưa bằng thứ âm thanh huyền bí theo cánh gió lướt qua.
Người bệnh chẳng nói năng gì nữa, cha Florentino với muôn vàn suy tư trĩu nặng trong lòng bèn thì thào: “Đâu rồi những người trẻ tuổi đang sẵn sàng dâng hiến khoảng thời gian thanh xuân rực rỡ, những mộng tưởng và lòng nhiệt huyết cho phúc lợi của quê hương xứ sở? Đâu rồi những người trẻ tuổi sẵn sàng quảng đại đổ máu để gột rửa biết bao nỗi nhục nhằn, bao tội ác và sự ghê tởm này? Nạn nhân phải là kẻ trong trắng và không tì vết thì hiến tế mới được chấp nhận! Các ngươi ở đâu, hỡi tuổi trẻ, những kẻ sẽ hiện thân cho sức sống đã cạn kiệt trong huyết quản chúng ta, cho sự tinh khôi của tư tưởng đã bị vấy bẩn trong tâm trí chúng ta, cho ngọn lửa nhiệt huyết đã lụi tàn trong lồng ngực chúng ta? Chúng ta đang ngóng chờ các ngươi, hỡi tuổi trẻ! Hãy đến đi, vì chúng ta đang mòn mỏi ngóng chờ các ngươi!”
Cảm thấy khóe mắt cay cay, ông rụt tay mình ra khỏi bàn tay người bệnh, đứng dậy và bước ra khung cửa sổ để phóng tầm mắt ra khoảng biển rộng mông mênh. Dòng suy tưởng của ông bị cắt đứt bởi tiếng gõ cửa nhè nhẹ. Đó là người đầy tớ hỏi xem có cần mang đèn vào không.
Khi vị linh mục quay trở lại bên người bệnh và ngắm nhìn hắn dưới ánh đèn, thân hình bất động, đôi mắt nhắm nghiền, bàn tay vừa nắm chặt tay ông nay buông thõng duỗi thẳng theo mép giường, thoạt đầu ông cứ ngỡ hắn đang ngủ, nhưng nhận ra ngực hắn không còn phập phồng, ông khẽ chạm vào người và bàng hoàng nhận ra hắn đã chết. Thân thể hắn từ lâu đã bắt đầu lạnh ngắt. Vị linh mục sụp quỳ xuống và cầu nguyện.
Khi đứng dậy và ngắm nhìn thi hài, nơi những đường nét trên khuôn mặt hằn in nỗi đau tận cùng, bi kịch của cả một đời người tan vỡ mà hắn đang mang theo bên kia thế giới, vị lão tu sĩ rùng mình run rẩy và thì thào: “Xin Chúa thương xót những kẻ đã đẩy hắn rời khỏi con đường chính đạo!”
Trong khi những người đầy tớ được ông gọi vào đang quỳ sụp xuống cầu nguyện cho người đã khuất, vẻ mặt đầy tò mò và hoang mang hướng về chiếc giường, liên tục đọc những lời kinh cầu hồn, thì cha Florentino bước đến bên chiếc tủ lấy ra chiếc tráp thép nổi tiếng chứa đựng khối tài sản khổng lồ của Simoun. Ông ngập ngừng giây lát, rồi quả quyết bước xuống cầu thang hướng thẳng ra mỏm đá cao nơi Isagani vẫn thường ngồi thẫn thờ nhìn xuống vực sâu đại dương.
Cha Florentino nhìn xuống dưới chân mình. Dưới kia, ông thấy những con sóng đen ngòm của Thái Bình Dương đang đập mạnh vào những hốc đá tạo nên những tiếng gầm vang dội, đồng thời dưới ánh trăng chiếu rọi, bọt sóng và mặt nước lấp lánh như những tia lửa, hệt như những nắm kim cương được tung bừng lên không trung bởi vị thần lùn dưới đáy vực thẳm. Ông phóng tầm mắt nhìn quanh. Xung quanh vắng lặng như tờ. Bờ biển cô tịch chìm khuất vào cõi xa xăm giữa màn mây mờ ảo nơi ánh trăng luồn lách, cho đến khi hòa lẫn vào đường chân trời. Khu rừng cất lên những âm thanh khó tài nào cắt nghĩa.
Đoạn, vị lão tu sĩ dồn hết sức mạnh từ đôi tay tráng kiện của mình, vung chiếc tráp ném thẳng ra khoảng không gian bao la hướng về phía biển cả. Chiếc tráp lộn vòng mấy bận rồi lao vun vút theo một đường cong nhẹ nhàng, phản chiếu ánh trăng lấp lánh trên bề mặt bóng loáng của nó. Vị lão tu sĩ chứng kiến những bọt nước bắn tung tóe và nghe một tiếng ùm vang dội khi vực thẳm khép lại nuốt chửng kho báu. Ông đứng đợi dăm phút xem đáy vực có đùn thứ gì trở lên không, nhưng ngọn sóng vẫn cuộn trào đầy bí ẩn như trước, chẳng mảy gợn thêm một nếp gấp nào trên bề mặt lăn tăn, hệt như vừa có một viên sỏi nhỏ ném xuống lòng đại dương vô tận.
“Cầu mong Thiên nhiên che chở cho ngài trong tầng sâu thẳm giữa những chuỗi ngọc trai và san hô của biển khơi vĩnh hằng,” bấy giờ vị linh mục mới cất lời, hai tay trang nghiêm dang rộng. “Khi nào nhân loại vì một mục đích thiêng liêng và cao cả nào đó cần đến ngài, Thiên Chúa trong sự khôn ngoan của Ngài sẽ vớt ngài lên từ lòng sóng dữ. Còn bây giờ, ở nơi đó ngài sẽ chẳng thể gây ra tai họa, chẳng thể bóp méo công lý, và chẳng còn làm bùng lên lòng tham lam ích kỷ nữa!”