Nhà máy Dệt Lộ Sơn là một trong số ít những doanh nghiệp dệt may quốc doanh quy mô lớn ở khu vực Tây Bắc. Nhà máy được thành lập dựa trên nền tảng thủ công nghiệp dân gian truyền thống, đến nay đã có lịch sử gần trăm năm. Nhà máy này từng có thời kỳ vô cùng huy hoàng, trong những năm tháng kinh tế kế hoạch, các sản phẩm chủ yếu là dệt thô của nhà máy nổi tiếng khắp cả nước. Sản phẩm luôn trong tình trạng cung không đủ cầu, muốn mua đều phải có giấy cấp phép. Khi ấy, người ta vừa đọc thuộc lòng lời trích dẫn của Chủ tịch Mao: "Trên thế giới vẫn còn hai phần ba nhân dân đang chịu khổ cực", vừa chuyển những sản phẩm ưu tú tốt nhất xuất khẩu sang các nước Đông Âu như Albania, Romania, Nam Tư, Hungary và các nước châu Phi, mang hơi ấm đến cho những thành viên trong đại gia đình xã hội chủ nghĩa này cùng các anh em da đen ở châu Phi. Sau khi cải cách mở cửa, nhà máy dệt vẫn tiếp tục hưng thịnh thêm vài năm, đến cuối thập niên tám mươi, nhu cầu thị trường bắt đầu co lại. Đúng là họa vô đơn chí, hậu quả cuối cùng của cuộc chiến tranh len ở khu vực Lộ Sơn đều đổ lên đầu nhà máy dệt. Những loại len kém phẩm chất hoặc trộn lẫn nhiều cát bụi không biết qua bao nhiêu tay trung gian đều bị ứ đọng lại trong nhà máy. Nguyên giám đốc nhà máy vốn đã lỗ hơn hai mươi triệu nhân dân tệ, thấy tình hình không ổn liền vứt lại một đống đổ nát, vỗ béo túi tiền cá nhân rồi cáo bệnh từ chức, lặng lẽ mua nhà ở Thiên Tân, tự mình kinh doanh thương mại cửa khẩu. Lúc này, Vương Đại Hữu, người vừa bị thanh lọc khỏi thị trường len lông cừu hỗn loạn, lại được Lương Hoài Niệm bổ nhiệm làm giám đốc nhà máy.
Vương Đại Hữu giao công việc duy trì sản xuất cho phó giám đốc, còn mình thì dẫn theo hơn mười cán bộ cốt cán của nhà máy, trong hơn nửa năm trời hầu như đã chạy khắp các nơi phát triển công nghiệp nhẹ trong cả nước. Ông còn đến các nước Đông Âu là khách hàng cũ cũng như New Zealand, Úc và một số quốc gia khác để khảo sát, sau đó nộp lên khu một bản "Báo cáo khảo sát và kiến nghị cải tạo kỹ thuật", đề xuất nắm bắt cơ hội điều chỉnh cơ cấu ngành nghề, nhập khẩu thiết bị tiên tiến và công nghệ cao, thúc đẩy nhà máy dệt chuyển đổi từ sản xuất các sản phẩm dệt thô truyền thống sang sản xuất len dệt tinh. Tờ kiến nghị này đồng nghĩa với việc toàn bộ thiết bị sản xuất vốn vẫn chưa được coi là lạc hậu hiện nay đều phải loại bỏ, hơn nữa còn cần đầu tư hơn 80 triệu nhân dân tệ vốn cải tạo kỹ thuật mới. Khi luận chứng dự án này, ý kiến phản đối khá gay gắt, phía hành thự cũng rất thận trọng, cứ trì hoãn mãi không đưa ra câu trả lời. Vương Đại Hữu đem tài liệu trình lên chỗ Lương Hoài Niệm, còn chưa kịp than vãn về nỗi khổ của doanh nghiệp quốc doanh, Lương Hoài Niệm đã vung bút phê vào: "Báo cáo này có tính đổi mới, vừa có lợi cho nhà máy dệt, vừa có lợi cho xây dựng kinh tế toàn khu, đề nghị hành thự khẩn trương thực hiện các thủ tục phê duyệt và điều phối ngân hàng". Cầm trong tay "thượng phương bảo kiếm" này, Vương Đại Hữu tìm đến đặc phái viên lúc bấy giờ, những việc vốn luận chứng mãi không quyết định được, nay chỉ vài chữ của Lương Hoài Niệm đã giải quyết xong xuôi.
Khi đó chưa có khái niệm ngân hàng thương mại, vì là chuyện do địa ủy và hành thự quyết định, nên nhà máy chẳng cần phải làm công tác gì với ngân hàng, ngân hàng đã chạy theo sau nhà máy dệt để rót vốn. Có tiền rồi, Vương Đại Hữu làm việc đương nhiên rất hào sảng, hoàn toàn là phong cách đại gia: Ông bán rẻ khu nhà máy cũ cho đám bạn bè từng buôn lông cừu, xây dựng nhà máy mới rộng 90 héc-ta. Máy móc còn chưa lắp đặt xong, tòa nhà văn phòng 12 tầng sang trọng đã vươn lên sừng sững, xây thêm 10 tòa nhà cho cán bộ công nhân viên, ngay cả cổng nhà máy cũng xây bằng đá hoa cương, còn mua một lúc hai chiếc xe hơi cao cấp Bluebird King. Tại đại hội công nhân viên chức, ông hào sảng nói: Dù là các nhà máy cùng loại theo chủ nghĩa tư bản ở Hồng Kông hay thậm chí là Úc, cũng không có điểm xuất phát cao và phong cách hoằng đại như nhà máy chúng ta, đây chính là sự thể hiện cụ thể tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa chúng ta, vì vậy, chúng ta vẫn phải cất cao tiếng hát "Chủ nghĩa xã hội tốt". Sau này, trong vô số các hoạt động văn nghệ của nhà máy, bài "Chủ nghĩa xã hội tốt" luôn là tiết mục "đinh" mà ai ai cũng phải thuộc lòng.
Tạo dựng phong cách như vậy cũng phải trả giá, chưa tính đến hơn 6 triệu từ việc bán địa điểm nhà máy cũ và đất đai do khu cấp không, chỉ riêng tiền vay ngân hàng đã vượt quá hai trăm triệu!
Đây là lần thứ hai Hách Trí đến nhà máy dệt của khu, lần trước là vào ngày Chủ nhật tuần thứ hai sau khi công nhân đi khiếu nại. Lúc đó, mặc dù thông qua sự giúp đỡ của cục tài chính và ngân hàng đã tạm thời đảm bảo được đời sống cho công nhân, nhưng với tư cách là doanh nghiệp quốc doanh lớn nhất Lộ Sơn, để xảy ra tình trạng này khiến ông rất không yên tâm. Lần đó, sau khi đọc một số tài liệu phản ánh, Hách Trí nảy sinh ý định đích thân xuống hiện trường để giải quyết vấn đề. Ông lặng lẽ gọi tổng thư ký Diêu Khải Ca và thư ký Lưu Dũng cùng đến nhà máy, chỉ ngồi ở phòng bảo vệ một lúc mà đã thấy trong sân nhà máy đầy cỏ dại cao nửa người, công nhân đứng chật kín. Lúc bấy giờ, Diêu Khải Ca đi cùng cảm thấy sợ hãi vì lo vụ ẩu đả vừa xảy ra ở sân địa ủy có thể lặp lại ở đây, nên không khỏi có chút căng thẳng, cứ hỏi mãi bí thư đảng ủy nhà máy vừa nhận tin chạy tới rốt cuộc là chuyện gì xảy ra? Bí thư đảng ủy cũng tái mặt, chỉ biết lắc đầu không nói nên lời. Đúng lúc này, thấy một ông lão tóc bạc trắng bước tới trước mặt Hách Trí, run rẩy đầy xúc động nói: "Bí thư Hách, cảm ơn ông đã đích thân đến thị sát nhà máy chúng tôi. Đã bốn năm năm rồi, cỏ mọc cao thế này, chưa từng thấy bất kỳ cán bộ nào của khu đến thăm nhà máy chúng ta cả, dù chỉ là người giữ cổng ở sân địa ủy hay hành thự!" Hách Trí nhận ra, người sư phụ già này họ Lữ, chính là một trong những người đã đến địa ủy khiếu nại vào ngày ông mới nhậm chức.
Trong một xưởng sản xuất lớn tỏa ra mùi lông cừu hôi thối, giăng đầy mạng nhện, Hách Trí ngồi bên một chiếc bàn, trò chuyện với hơn một trăm công nhân. Hách Trí nói, dù đến lúc nào, khu vẫn luôn quan tâm đến vận mệnh của nhà máy từng có đóng góp to lớn cho Lộ Sơn này, nhất định sẽ nghĩ đủ mọi cách để giúp đỡ mọi người. Đồng thời cũng phải dựa vào quần chúng công nhân, phát huy vai trò tiên phong gương mẫu của đảng viên, chung sức đồng lòng vượt qua khó khăn, thoát khỏi tình trạng khốn đốn.
"Thoát kiểu gì? Nhà máy chúng tôi dù có thần tiên tới cũng không cứu nổi!" Công nhân bàn tán xôn xao, rõ ràng là không mấy hứng thú với lời nói suông của ông. "Bí thư Hách, ông là lãnh đạo từng trải, nếu mời ông về làm giám đốc, ông sẽ làm cụ thể thế nào?" Có người thách thức hỏi.
Hách Trí nhận ra đây chính là người đàn ông để râu quai nón từng đánh nhau với nông dân ở địa ủy hôm đó, ông cười đáp: "Vị sư phụ này nói không sai, có lẽ tôi thật sự không làm được. Nhưng đối mặt với khó khăn, nếu con người ngay cả một ý tưởng cũng không có, ngồi chờ chết thì chẳng phải càng không có lối thoát sao?" Ông phân tích tiếp, nhà máy dệt muốn thoát khỏi khốn cảnh, trước tiên phải hoàn thành cải cách quy phạm, thực hiện tách biệt hai quyền, còn phải chia nhỏ để hoạt động linh hoạt, đi theo con đường cổ phần mô phỏng, một nhà máy đa chế độ.
Thấy ông định nói sâu hơn, sư phụ Lữ ngắt lời: "Bí thư Hách, những đạo lý này ông nói chúng tôi có cái hiểu, có cái không, nhưng tôi xin phép nói thẳng, ông vẫn chưa hiểu rõ nhà máy chúng tôi, chưa nắm bắt được tình hình cụ thể. Hiện tại, chúng ta còn chưa đủ trình độ để làm những công việc phức tạp đó, trước mắt còn có chuyện cấp bách hơn cả cải cách."
Hách Trí nghe vậy có chút thắc mắc: Doanh nghiệp không khởi sắc thì nên cải cách chứ, lẽ nào còn có chuyện gì cấp bách hơn cải cách?
Sư phụ Lữ nói ông vào nhà máy từ năm 15 tuổi, nhà máy từ nhỏ đến lớn, từ hưng thịnh đến chết yểu, ông đều trải qua cả. Nhà máy sụp đổ, chủ yếu là do lòng người sụp đổ, lòng người hư hỏng rồi. Ông lấy ví dụ, lúc nhà máy thu mua len, len tốt của người dân đem đến tận cửa không thu, lại đi mua giá cao của công ty cá nhân, vì sao? Vì len của công ty cá nhân trộn lẫn cát bụi, có thể cân được trọng lượng, chuyện trong đó chẳng phải rõ như ban ngày sao? Là để ăn hoa hồng! Khuyến khích cá nhân bán len nhưng lại không thu được tiền mặt, hàng hóa đối trừ nợ về thì đủ loại, có ô tô, máy kéo, tivi, dược liệu, lốp xe, bao tải, còn có cả một xe băng vệ sinh phụ nữ. Ngay cả mấy thứ đó để trong kho cũng không cánh mà bay, không ai hỏi han. Sau này vì chất lượng sản phẩm có vấn đề nên phải nhập khẩu len Úc, nhà máy lấy sạch tiền lương mấy tháng của công nhân, nhưng mấy xe len mua về cũng chẳng ai biết rốt cuộc trị giá bao nhiêu tiền. Người ta chẳng hay nói trên thế giới có Canada, ở Trung Quốc có "đại gia cầm" (mọi người cùng lấy) sao. Dù sao thì nhà máy chúng tôi cũng sớm thành nơi "đại gia cầm" rồi. Đưa hai tấn len đã giặt vào dây chuyền sản xuất, cuối cùng tung ra thị trường còn không được một tấn rưỡi. Hỏi nửa tấn đó đi đâu, thì "đại gia cầm" chứ sao! Ai dám nói chưa từng lấy len, vải dạ của nhà máy, thì giơ tay lên cho tôi xem nào. Sư phụ Lữ nhìn mọi người đầy nặng nề, quả nhiên không ai giơ tay. Việc ăn cắp sản phẩm đã sớm là bí mật công khai. Lúc đầu công nhân lợi dụng ca đêm để gấp vải dạ vào hộp cơm, quấn quanh người, thậm chí nhét vào trong quần, sau này phát triển đến mức ai cũng lấy như lấy đồ nhà mình một cách công khai trắng trợn. Có người khi ra cổng nhà máy còn bạo dạn ném cho bảo vệ một miếng, dám đứng ngay ở phòng bảo vệ để so sánh chất lượng vải, bàn luận tốt xấu. "Chuyện mờ ám trong nhà máy nhiều lắm! Cho nên nói nhà máy chúng tôi việc gì là quan trọng nhất, việc gì là gấp gáp nhất? Đó không phải là cải cách doanh nghiệp, mà là chỉnh đốn nạn tham nhũng của lãnh đạo! Không phải công nhân chúng tôi không muốn cải cách, mà là tham nhũng của cán bộ đã làm biến chất doanh nghiệp rồi. Khối u độc ác mang tên tham nhũng này vẫn còn đó, chúng tôi làm được gì đây?" Một công nhân nói còn thấm thía hơn: "Không có tiền không sợ, không có thị trường cũng không sợ, chúng tôi sợ nhất là cán bộ không có lương tâm. Lãnh đạo hiện nay đều lòng tham không đáy, cũng không biết họ vơ vét bao nhiêu mới là đủ nữa?!!"
Cuộc trò chuyện này khiến Hách Trí bị tác động rất lớn, vì vậy ông không chút do dự chỉ thị Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật khu chủ trì, nhất định phải điều tra rõ ngọn ngành. Sau đó, tổ công tác của khu tiến trú vào nhà máy dệt, kéo theo một loạt sự kiện như Vương Đại Hữu khẩn cấp bỏ trốn, Dương Vệ bị kết án vì vấn đề kinh tế, và việc truy thu hơn sáu triệu nhân dân tệ nợ nước ngoài.
Tuy nhiên, việc giải quyết vấn đề tham nhũng không khiến bộ mặt cơ bản của nhà máy dệt được cải thiện, nhà máy tiếp tục ngừng hoạt động, đời sống công nhân vẫn không được đảm bảo, Hách Trí cảm thấy rất xót xa. Vài ngày trước, sau khi nhìn thấy một bản thông báo của công an khu, ông càng ngồi không yên. Theo bản thông báo này, theo sự triển khai thống nhất của Sở tỉnh, công an khu gần đây đã tổ chức một đợt hoạt động "quét vàng đánh phi" (quét sạch tệ nạn mại dâm và ấn phẩm đồi trụy), kiểm tra hơn 50 quán karaoke và trung tâm tắm rửa trong thành phố Lộ Sơn. Trong số 15 cặp đôi mua dâm và bán dâm bắt quả tang tại chỗ, có tới 7 người là nữ công nhân nhà máy dệt. Qua điều tra sâu hơn phát hiện, trong số hàng trăm hàng nghìn cô gái phục vụ, có hơn 30% là nữ công nhân của nhà máy này. Đồng thời, cảnh sát đồn công an Nam Thành phát hiện, gần bến xe khách đường dài thường xuyên có hàng chục nữ công nhân từ 30 đến hơn 40, thậm chí 50 tuổi câu kết với chủ các nhà nghỉ tư nhân gần đó, lợi dụng ban ngày để dụ dỗ khách qua đường và một số đàn ông độc thân, ông lão về hưu tại địa phương. Giá giao dịch tình dục của họ rất rẻ, thường chỉ cần 10 đến 20 nhân dân tệ, phần lớn là thực hiện trong giờ làm việc, vì sau khi bán dâm còn phải vội về nhà nấu cơm cho con và chồng. Ví dụ, một người phụ nữ họ Cao 46 tuổi, cả hai vợ chồng đều là công nhân nhà máy dệt, không chỉ cả hai đều bị mất việc, mà chồng còn mắc bệnh viêm thận nặng, hai con một đứa đang học đại học ở tỉnh, đứa còn lại học cấp hai ở Lộ Sơn, cuộc sống gia đình vô cùng khó khăn. Chiều hôm đó lúc 4 giờ, cô ta và một ông lão hơn 70 tuổi đang hú hí trong nhà nghỉ thì bị công an bắt quả tang. Ông lão là cán bộ về hưu, sau khi nhận được cam kết của cảnh sát là sẽ không nói với con cháu, liền rút ngay tiền phạt từ ngân hàng ra, còn người phụ nữ kia thì nức nở không ra nước mắt, không những không nộp tiền phạt mà còn tiếp tục đòi ông lão 10 tệ đã thỏa thuận, vì chỉ khi cầm được 10 tệ này cô mới mua nổi rau về cho gia đình ăn tối... Bản thông báo chưa đọc xong, nước mắt Hách Trí đã tự nhiên trào ra, trái tim ông bị những công nhân này bóp nghẹt, vì vậy ông quyết tâm, để lãnh đạo khu đích thân dẫn đầu giải quyết vấn đề thể chế của nhà máy. Chọn ai đây? Ông suy tính hồi lâu, Ngụy Hữu Lượng là một đồng chí tốt, nhưng người quá tốt thì có những việc làm không chắc đã khéo, hay là mời Ngô Phàm đích thân xuất trận, dù là kinh nghiệm làm việc hay khả năng ứng biến, ông ấy đều rất phù hợp. Đúng lúc này phía Mỹ có tin tức gửi về.
Nhà máy dệt nằm ở ngoại ô phía Bắc Lộ Sơn, có một tuyến đường chuyên dụng dài nửa cây số nối với quốc lộ 307. Hai bên đường trồng hàng cây ngô đồng Pháp thẳng tắp, có lẽ không thích nghi được với thổ nhưỡng địa phương, cây mọc còi cọc thấp bé, cành lá lơ thơ. Cổng nhà máy cao lớn trông rất bệ vệ như lão địa chủ trong phim, những tảng đá hoa cương đã mất đi độ bóng loáng vẫn đứng vững ở đó, như đang lặng lẽ khoe khoang vẻ huy hoàng ngày xưa. Hách Trí bảo tài xế đỗ xe bên ngoài, ông vừa định xuống xe thì thấy chiếc cổng điện lùa kiểu cũ kia sáng đèn đỏ, kêu kèn kẹt từ từ mở ra. Điều này khiến lòng ông cảm thấy chấn động, ông tiếp tục bước xuống xe nhìn vào bên trong. Khu sân nhà máy mà lần trước đến cỏ dại mọc cao quá đầu, nay được dọn dẹp sạch sẽ, còn có những đóa hoa hồng đang đua nhau khoe sắc trong bồn hoa ven đường.
"Là Bí thư Hách ạ! Cảm ơn ông đã lại đến thăm nhà máy chúng tôi." Ông lão giữ cổng họ Lữ vội vàng đặt chiếc lồng chim đang đan dở trong tay xuống, lấy bàn tay nổi đầy gân xanh chùi mạnh lên quần áo mình.
"Sư phụ Lữ, ông khỏe chứ!" Hách Trí chìa tay nắm chặt lấy tay ông, cảnh tượng lần trước đến nhà máy hiện rõ mồn một trước mắt, như thể mới xảy ra ngày hôm qua.
Hơn một năm trôi qua, đầu sư phụ Lữ càng bạc trắng hơn, trên mái đầu đầy tang thương gần như không tìm thấy một sợi tóc đen nào. Bộ quần áo bảo hộ lao động bằng vải thô sớm đã giặt đến mức không rõ là màu trắng hay đen, ở khuỷu tay và đầu gối đều được vá víu tỉ mỉ. Thấy Hách Trí quan tâm đến chiếc lồng chim, sư phụ Lữ vội giải thích đây là nghề phụ ông làm thêm, các cán bộ về hưu đều thích nuôi chim trồng hoa gì đó, nên ông mới để ý làm nghề đan lồng này. Nhưng bây giờ người làm nhiều người mua ít, vừa bán được vài cái đã kéo theo một đám người bán lồng chim, gần đây khó bán rồi. Trong lúc trò chuyện, thấy giám đốc mới dẫn theo vài người vội vã chạy tới, đón bí thư Hách cùng đoàn người đến tòa nhà hai tầng. Nói một cách chính xác, tòa nhà nhỏ không phải là văn phòng gì cả, nơi đây vốn là xưởng giặt len, tầng một giặt, tầng hai sấy khô. Sau khi ban lãnh đạo mới được kiện toàn, nhân viên hành chính trong nhà máy cũng như các công nhân khác, đều nhận trợ cấp sinh hoạt, nhưng mọi người nói không có việc cũng phải đi làm, họ nói đây là ngôi nhà chung của mọi người. Tòa nhà văn phòng 12 tầng từng huy hoàng năm xưa bị đóng cửa mấy năm nay đã không còn khả năng đưa vào sử dụng, mọi người dọn dẹp xưởng giặt len, dùng phế liệu làm vách ngăn, đóng đồ dùng văn phòng đơn giản, sắp xếp thành văn phòng làm việc. Họ còn bán một ít phế liệu để đặt mua vài tờ báo lớn nhỏ, bình thường mọi người tụ tập lại, hoặc là đọc báo, thảo luận công việc, hoặc là quét dọn vệ sinh, thu gom phế liệu. Nhiều người nói, con người sinh ra đâu phải để ngồi không, cứ ở nhà suốt ngày lòng dạ bồn chồn lắm!
Hách Trí đề nghị trước tiên đến thăm gia đình công nhân, xem tình hình đời sống của mọi người. Lãnh đạo nhà máy nói thôi đừng đi nữa, công nhân chưa chuẩn bị gì, đến nhà họ sẽ thấy khó xử. Nghe họ nói vậy, Hách Trí nghĩ ngay đến chuyện trong bản thông báo của công an, cảm thấy đường đột đến nhà người khác quả thực sẽ khiến một số người cảm thấy khó xử, đành phải bỏ ý định, số tiền mấy trăm tệ chuẩn bị sẵn cũng tiếp tục để trong túi áo.
Trong không gian rộng rãi của nhà xưởng, ông lại trò chuyện với mọi người như lần trước, khác biệt là lần này ông dẫn theo vài người phụ trách các ban ngành liên quan, còn có cả phóng viên báo chí. Hách Trí nói một hồi về vấn đề doanh nghiệp quốc doanh thường gặp phải khó khăn, thảo luận làm thế nào để thoát khỏi khốn cảnh. Thấy mọi người đều lắc đầu, ông liền hỏi mọi người có đồng ý cải cách hay không. Một công nhân già nhìn quanh rồi do dự nửa ngày mới nói: "Cải cách tất nhiên là tốt, chúng tôi cũng hiểu đại khái đạo lý của cải cách, nhưng nói thật, vốn là nhà máy của quốc gia, đùng một cái bị mọi người chia năm xẻ bảy, biến thành tài sản tư nhân của chúng tôi, đồ của quốc gia mà cầm trong tay mình, thật sự không dám nhận, trong lòng cứ thấy thế nào ấy."
Công nhân của chúng ta vẫn thật thà như vậy, cuộc sống của mình đã thế này mà vẫn còn nghĩ đến lợi ích của quốc gia. Hách Trí giảng giải đạo lý này: Cải cách nông thôn đã thực hiện khoán hộ gia đình tự chủ kinh doanh, nhưng những mảnh đất đó vẫn là của quốc gia. Vậy thì cải cách doanh nghiệp quốc doanh của chúng ta không có đất, chỉ có tư liệu sản xuất, hơn nữa chúng ta không phải chia tư liệu đến từng hộ gia đình, mà chỉ chia nhỏ đơn vị quản lý, là để thể hiện quyền làm chủ của công nhân chúng ta, khiến sự hưng thịnh của nhà máy liên quan trực tiếp đến lợi ích của mỗi người chúng ta. Chẳng phải chúng ta vẫn nói công nhân là chủ của doanh nghiệp sao! Lúc mới giải phóng, công nhân là chủ về chính trị và kinh tế, nhưng do lúc đó thực hiện thể chế kế hoạch cũ, công nhân là chủ nhưng không quyết định được người lãnh đạo nhà máy, lãnh đạo là do đảng ủy cấp trên quyết định. Công nhân không thể quyết định cán bộ, sao có thể làm chủ được? Nhưng hiện nay sau khi cải cách, công nhân từ chỗ là chủ về quyền sở hữu phát triển thành người chủ quyết định cán bộ, người có năng lực quản lý thì làm chủ quản lý, người có vốn thì làm chủ cổ phần, công nhân trở thành người chủ danh chính ngôn thuận cụ thể hơn, các vị quyết định mọi công việc trong nhà máy.
Nói đến đây, ông nhận được những tràng pháo tay nhiệt liệt của mọi người. Nhưng sau tiếng vỗ tay, có công nhân hỏi: "Bí thư Hách, ông nói chúng tôi là chủ, nhưng chính những người chủ như chúng tôi còn không biết mình nên làm gì, thì nhà máy còn hy vọng gì nữa?"
"Người chủ này hỏi rất hay! Thực ra hôm nay tôi đến, chính là để trưng cầu ý kiến của những người chủ như các vị. Gần đây có một công ty may mặc của Mỹ muốn hợp tác với các vị, họ dùng nguồn vốn, thị trường và kỹ thuật dồi dào, các vị dùng sức lao động, nhà xưởng rộng rãi, cùng với nguồn nguyên liệu phong phú của Lộ Sơn và thị trường rộng lớn ở phương Tây, cùng đi theo con đường chấn hưng doanh nghiệp quốc doanh."
Công ty này là Hách Trí nhờ người vợ cũ Tô Khiết liên hệ. Khi ông gửi email về nhà máy dệt Lộ Sơn cho Tô Khiết, có lẽ vì muốn bù đắp cho những khoản nợ tình cảm của chính mình, cô ấy không ngờ lại tạm gác công việc lại, liên tục chạy tới một số công ty dệt may, còn tự bỏ tiền túi lên báo tìm kiếm đối tác hợp tác. Trùng hợp thay, có một công ty con ở Đông Á của Công ty may mặc Toàn cầu Thác Niagara (Niagara Global Apparel) của Mỹ chuyên về các sản phẩm dệt bông đang chuẩn bị tiến quân vào khu vực phía Tây Trung Quốc. Sau khi xem tài liệu về Lộ Sơn, ông chủ liên tục nói, đây quả thực là sự sắp đặt của Chúa!