Lịch Sử Văn Học Yiddish Thế Kỷ Xix

Lượt đọc: 224 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Xvi. Các Khía Cạnh Khác Của Văn Học

❊ ❊ ❊

Bất chấp sự phát triển rực rỡ của văn học Judeo-German trong năm mươi năm qua, những tác phẩm đạo đức cổ xưa của giai đoạn trước vẫn tiếp tục giữ vững vị thế và được tái bản đều đặn, chủ yếu tại các nhà in ở Warsaw và Lublin. Trong số này, chúng ta bắt gặp rất nhiều tiểu sử các giáo sĩ Rabbi nổi tiếng, những di huấn của các bậc hiền triết, các bài luận về lòng bác ái, đức tin cùng các nhân đức khác, bên cạnh một khối lượng vô tận các bình giải về Kinh Thánh và các sách tôn giáo khác. Phần lớn trong số đó là bản dịch từ tiếng Do Thái. Gần đây, những chuyên luận về luân lý được viết riêng bằng ngôn ngữ bình dân cũng bắt đầu xuất hiện. Chúng ta đã có dịp nhắc đến các tác phẩm của Zweifel. Những bài giảng đạo với giọng điệu lớn lao hơn cũng được biên soạn bằng tiếng Judeo-German, thậm chí các nhà truyền giáo còn sử dụng phương ngữ này để làm công tác tuyên truyền giữa lòng cộng đồng họ: những kẻ tiên phong thử nghiệm điều này là các nhà truyền giáo người Anh, và những kẻ đến sau cùng là các sứ giả từ Giáo hội Hy Lạp. Tất nhiên, những nỗ lực ấy hoàn toàn chẳng mang lại chút ảnh hưởng nào đối với tâm tư khối đông quần chúng. Một trong những nhánh phong phú nhất của văn học phụng vụ chính là Tchines, hay các Bài cầu nguyện. Chúng được thiết kế dành riêng cho phụ nữ, với một kho tàng vô cùng đa dạng phục vụ cho mọi hoàn cảnh trong đời sống. Một vài bài cổ xưa hơn mang đậm chất thơ, vốn là bản dịch hoặc phóng tác từ những mẫu mực hay. Song, nhiều bài mới hơn lại được nhào nặn chẳng ra đầu ra đũa bởi các học viên trẻ tại các chủng viện Rabbinical ở Wilna và Zhitomir. Những người này thường xuyên rơi vào cảnh túng quẫn mưu sinh, và thấu hiểu bản tính dễ xúc động trước những lời cầu nguyện mới mẻ đầy nước mắt ở phụ nữ, họ đã sáng tác theo đúng thị hiếu ấy. Chúng hầu như chẳng có giá trị gì, ngoại trừ việc cấu thành một chương buồn bã trong cuộc đời vốn dĩ đầy gian truân của những phụ nữ Do Thái ở Nga. Những câu chuyện cổ và các lời cầu nguyện xưa cũ hầu như là niềm an ủi duy nhất mà họ có được giữa cuộc đời trĩu nặng buồn đau.

Trong một cuốn tiểu thuyết của Abramowitsch, một người phụ nữ khi mua lời cầu nguyện từ một người bán sách dạo đã đưa ra lý do khiến cô gắn bó sâu nặng với chúng như sau: "Đối với chúng tôi, những người phụ nữ nghèo khổ, Tchines là phương thuốc duy nhất chữa lành những trái tim đầy rẫy vết thương và mủ nhọt; chúng mang lại cho chúng ta phương tiện duy nhất để khóc cho thỏa lòng, để tìm thấy sự giải thoát cho tâm hồn u uất trong dòng nước mắt ấm áp.... Thật sự bực bội và đau đớn khi thấy đàn ông — những kẻ chẳng thèm hiểu và cũng không muốn hiểu lòng dạ chúng ta — lại đem Tchines của phụ nữ ra giễu cợt và tiếc rẻ với chúng ta niềm an ủi duy nhất này. Cứ thử ngồi vào hàng ghế trong giáo đường của phụ nữ vào ngày Sa-bát hay một dịp lễ nào đó, và quan sát biết bao người phụ nữ nghèo khổ, bất hạnh phải khó khăn lắm mới dứt ra được khỏi nhà mình:—người thì gánh chịu số phận nghiệt ngã từ người chồng, kẻ thì vò võ góa bụa; người thì đang mang nặng đẻ đau, kẻ khác lại chán nản kiệt quệ vì thức trắng bao đêm bên giường đứa con thơ đang bú mớm; người với đôi bàn tay sưng vù, phồng rộp vì đứng bên lò sưởi, kẻ thì gương mặt hốc hác, nhợt nhạt vì lao động như nô lệ, vì lê bước ngàn đời dưới ách nặng cùm gông;—hãy nhìn ngắm tất cả những người phụ nữ đáng thương, bị giày vò đang đứng quanh vị Xướng ngôn viên, hãy lắng nghe họ khóc than với đôi mắt ngước lên đấng Cha nhân từ, đầy lòng trắc ẩn trên thiên đàng, đầm đìa nước mắt và sẵn sàng xé toạc cả lồng ngực mình ra. Nếu đàn ông tận mắt chứng kiến cảnh tượng ấy, tôi chắc chắn rằng họ sẽ không bao giờ há miệng ra để chế nhạo những lời cầu nguyện của phụ nữ nữa đâu."

Ngoài những lời cầu nguyện và chuyên luận đạo đức ấy, những cuốn sách phổ biến nhất kể từ giữa thế kỷ của chúng ta là hai tác phẩm vỡ lòng,—một cuốn về toán học, dạy nhữngh nền tảng của môn nghệ thuật này, cuốn kia là sách hướng dẫn viết thư. Có lẽ không quá lời khi nói rằng đã có tới hàng trăm ấn bản của cuốn sách sau xuất hiện trên thị trường. Nó do Lewin Abraham Liondor biên soạn, nhằm làm cẩm nang học đánh vần tiếng Judeo-German và tập viết thư cho trẻ em cùng phụ nữ. Đây hầu như là cuốn sách giáo khoa duy nhất được viết bằng và dành cho ngôn ngữ bình dân. Liondor biết cách làm cho nó trở nên thú vị bằng cách lồng ghép một chuỗi câu chuyện có liên quan dưới dạng thư từ cùng vài bài hát đan xen đây đó. Cuốn sách mở đầu bằng một đối thoại thú vị dưới hình thức thư từ giữa người viết thư và tác giả, và khép lại bằng hàng loạt bức thư gửi đi và gửi đến từ một schadchen, kẻ mai mối trong chuyện hôn nhân. Từ đoạn đối thoại ấy, người ta có thể thấy tác phẩm khiêm nhường này từng đạt được mức độ phổ biến lớn lao đến nhường nào trong thời đại của nó. Mười năm qua đã chứng kiến sự ra đời của một số sách hướng dẫn viết thư tương tự, phù hợp hơn với nhu cầu thời đại, nhưng sự ngây thơ trong sáng trong cuốn sách của Liondor đã hoàn toàn biến mất ở những trang sách ấy, và chúng chẳng còn mang lại chút hứng thú nào cho người đọc.

Các nhà văn Judeo-German chưa bao giờ có ý định đối xử với ngôn ngữ của họ theo phép tắc văn phạm. Tất cả đều khởi đầu với quan niệm rằng đó không phải là một ngôn ngữ, mà chỉ là một thứ phương ngữ lai tạp không thể chịu sự kìm kẹp của bất kỳ quy tắc ngữ pháp nào. Họ kiên trì giữ vững quan điểm ấy cho đến tận ngày nay. Dẫu vậy, những khi cảm thấy có trách nhiệm phải thiết lập một hệ thống nào đó, họ cũng chỉ giải quyết vấn đề chính tả; vì thế, gần đây một vài cuốn sách mỏng về chủ đề này nhưng không có giá trị khoa học đã ra đời từ tay họ. Nỗ lực lớn lao hơn nhiều của các tác giả Judeo-German là cung cấp cho đồng bào mình những cuốn sách giáo khoa để học ngoại ngữ. Ngay từ năm 1824, một cuốn ngữ pháp tiếng Ba Lan đã xuất hiện ở Warsaw. Bất cứ nơi nào điều kiện cho phép, người Do Thái đều cố gắng học ngôn ngữ của những người đồng hương ngoại giáo xung quanh. Nếu họ cứ mãi kiên trì sử dụng phương ngữ của mình ở Nga và Ba Lan lâu đến thế, lỗi là ở Chính phủ chứ không phải ở họ, như chúng ta sẽ sớm thấy rõ. Vào thập niên 70, thanh niên Do Thái được tự do tiếp nhận vào các trường trung học phổ thông (gymnasia) và đại học; họ đã hân hoan chớp lấy đặc quyền ấy và lao vào việc học tiếng Nga với tất cả sự nhiệt thành. Thời kỳ khích lệ nhất đối với họ là từ năm 1874 đến 1875, khi mọi thứ dường như báo hiệu những ngày tươi sáng hơn đang chờ đợi. Các trường học chật ních những đứa trẻ đầy tham vọng, và còn rất nhiều em ở nhà phải tự học tiếng Nga hoặc học qua các lớp gia sư tư gia. Để giúp đỡ những đối tượng này, hàng loạt cuốn sách giáo khoa xuất sắc ra đời, tiêu biểu là các tác phẩm của Skurchowitsch, Lifschitz, Zazkin, Chadak, Feigensohn. Tất cả đều xuất hiện trong khoảng thời gian ngắn ngủi vỏn vẹn hai năm. Sau đó, nhiều tác phẩm tương tự khác tiếp tục nối gót ra mắt. Lifschitz đồng thời cũng cho xuất bản một cuốn từ điển Nga-Judeo-German và Judeo-German-Nga, được xem là một trong những kho tàng quý giá nhất của tiếng Judeo-German mà chúng ta đang sở hữu. Mọi thứ đang dọn đường cho sự cáo chung của phương ngữ bản địa nhằm nhường chỗ cho ngôn ngữ văn học chính thống của đất nước, thì sự ươn hèn và thiếu tầm nhìn của Chính phủ lại một lần nữa đẩy họ quay trở lại với cuộc sống biệt lập của mình.

Trước thập niên 70, người ta chỉ có thể tìm thấy những cuốn ngữ pháp dùng để học tiếng Đức, tiếng Pháp, thậm chí cả tiếng Anh, chứ không hề có tài liệu nào giúp việc học tiếng Nga trở nên dễ dàng. Kể từ năm 1881, thời điểm cuộc di cư cưỡng bức bắt đầu, những mối quan tâm mới đã chiếm lĩnh tâm trí người Do Thái. Họ tản mác khắp bốn phương trời, lập nên các cộng đồng tại Đức và Pháp, nhưng đặc biệt đông đúc ở Anh, Nam Phi và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Hầu hết những kẻ đã đến vùng đất mới và những ai vẫn đang dự định dời chân đến đó hầu như chẳng biết ngôn ngữ nào ngoài tiếng Judeo-German. Thế nhưng họ buộc phải học tiếng nói của các quốc gia đã dung chứa mình, và vì thế chúng ta thấy có rất nhiều sách giáo khoa đủ mọi thể loại được biên soạn cho họ. Họ cũng bị đẩy dạt đến vùng Nam Mỹ, và những cuốn từ nguyên lẫn ngữ pháp tiếng Tây Ban Nha đã được viết riêng cho họ. Buồn thay, họ thậm chí còn bắt đầu mơ về viễn cảnh trở về quê hương xưa cũ ở Palestine, khiến những cuốn từ nguyên tiếng Ả Rập trở thành nhu cầu thiết yếu mới nhất của họ. Cần phải ghi nhớ rằng dòng ấn phẩm này hoàn toàn không có tham vọng được công nhận về mặt khoa học; dẫu đôi khi chúng được viết bởi những trí thức có học thức, mục đích duy nhất của chúng là phục vụ cho nhu cầu trước mắt của những kẻ tha hương lữ thứ. Do đó, chúng phản ánh chân thực — chẳng khác nào văn chương nghệ thuật — những nghịch cảnh mà người Do Thái đang phải quằn quại gánh chịu.

Vào buổi bình minh của kỷ nguyên mới, nửa đầu thế kỷ này, rất ít người nghĩ đến việc học ngoại ngữ. Quần chúng lúc bấy giờ quá ư dốt nát trong những vấn đề cốt lõi hơn để có thể sẵn sàng tiếp thu loại giáo dục ấy. Việc làm cho họ quen thuộc với những sự thật hiển nhiên nhất ngay trước mắt quan trọng hơn nhiều. Chúng ta từng thấy một trong những cuốn sách phổ biến nhất thời đó là 'Sự khám phá châu Mỹ', tác phẩm đồng thời cung cấp một số kiến thức cơ bản về địa lý tự nhiên. Đến thập niên 60, khi những cuốn sách giáo khoa lần đầu tiên được in ấn, lịch sử và địa lý là những lĩnh vực đầu tiên thu hút sự chú ý của những ai muốn đẩy mạnh phong trào giáo dục bình dân. Gần như một trong những ấn phẩm đầu tiên được phát hành lúc bấy giờ là 'Lịch sử thế giới' của Resser, và không lâu sau đó là một cuốn sách vỡ lòng về địa lý. Phải đợi đến sau các cuộc bạo loạn, một nỗ lực trực tiếp hơn mới được khởi xướng nhằm giáo dục quần chúng từ góc độ ngôn ngữ bình dân của họ; và kể từ đó, sách địa lý lẫn lịch sử của các tác giả ngoại quốc xuất sắc nhất đã được chuyển dịch, phóng tác cho phù hợp với những nhu cầu khiêm nhường của họ. Do đó, bên cạnh những tác phẩm khác, chúng ta còn tìm thấy cả bản dịch cuốn 'Lịch sử phổ thông về người Do Thái' của Graetz.

Khi bước sang thập niên 90, chúng ta có cả một nền văn học khoa học phổ thông. Ta có 'Khoa học tự nhiên' của Bernstein, các 'Khảo luận về loài vật' của Brehm, cùng một số lượng lớn các ấn phẩm phóng tác tương tự thuộc giai đoạn này. Việc phân phối những cuốn sách này một cách có hệ thống nhất do A. Kotik và Bressler đảm nhiệm, khi họ cho xuất bản một chuỗi sách giáo khoa về các ngành khoa học hữu ích. Trong số đó có vài cuốn bàn về nhân loại học, kinh tế chính trị, thậm chí cả học thuyết Darwin. Thế nhưng không một cuốn nào trong số này có thể sánh ngang về mặt giá trị văn học với những bài tiểu luận xuất sắc của Perez, hay thậm chí là một số bài báo đăng trên các ấn phẩm định kỳ khác nhau. Vài năm gần đây, những câu chuyện bình dân của Tannenbaum ở New York đã trở nên vô cùng thịnh hành tại Nga, nơi hầu như toàn bộ tác phẩm của ông được tái bản ngay khi vừa xuất hiện ở Mỹ. Một trong những dòng văn học kiên trì bám trụ nhất thuộc loại này chính là thể loại cung cấp kiến thức y học thường thức. Ta tìm thấy những tài liệu hướng dẫn cách xử trí trong trường hợp mắc bệnh tả từ nửa đầu thế kỷ, và sau đó trong gần bốn mươi năm, vô số bài luận hữu ích tương tự đã được viết bởi Tiến sĩ Tscherny. Điều này đã khép lại tủ sách khoa học nghèo nàn từng được sản xuất dành cho đại chúng.

Hoàn cảnh ở Nga không hề thuận lợi cho sự phát triển của một nền báo chí định kỳ — thứ mà các nhà lãnh đạo quần chúng vẫn luôn ấp ủ và các nhà văn giờ đây hằng mong mỏi được thấy ra đời. Chính phủ đã đặt ra quá nhiều chướng ngại vật trên con đường xuất bản của họ, khiến hầu như toàn bộ các ấn phẩm đều mang tính chất phù du, lần lượt phải nhường chỗ cho những tờ báo mới ra đời nhưng cũng yểu mệnh chẳng kém. Việc sử dụng tiếng Judeo-German sớm nhất — ít nhất là tiếng Đức được viết bằng ký tự Do Thái — xuất hiện trong một tờ công báo phát hành tại Prague vào đầu thế kỷ; tiếp theo đó là một tờ báo tương tự được ấn hành tại Warsaw vào năm 1824. Sau quãng thời gian dài chìm trong tĩnh lặng cho đến tận năm 1848, một bản hiến pháp và quyền tự do báo chí cuối cùng đã được công bố ở Áo. Tin vui ấy được mang đến cho người Do Thái ở Galicia thông qua một bản tuyên ngôn bằng tiếng Judeo-German do Jizchok Jehuda Ben Awraham ấn hành tại Lemberg. Bằng ngôn ngữ mộc mạc, tác giả thông báo cho đồng bào của mình về sự đổi thay đã giáng xuống cuộc đời họ, về việc thành lập lực lượng Cận vệ Quốc gia, về Quyền tự do Báo chí và về Hiến pháp. Ấn phẩm tiếp tục tường thuật những sự kiện mới xảy ra ở Lemberg, đồng thời bày tỏ niềm hy vọng về một khối liên minh khăng khít với cộng đồng ngoại giáo. "Và ngày hôm nay, khi những người ngoại giáo vứt bỏ mối thù hằn đối với chúng ta, thì chúng ta, những người Do Thái vẫn luôn mang trong mình trái tim nhân hậu, chắc chắn sẽ trở nên một thân thể và một tâm hồn với những người theo đạo Thiên Chúa." Một tháng sau, A. M. Mohr cho ra mắt một tờ báo chính trị dưới tên gọi Zeitung, sử dụng một thứ tiếng Đức lai tạp nhiều hơn là tiếng Judeo-German. Tờ báo này vẫn duy trì hoạt động cho đến tận ngày nay, dẫu trải qua một vài quãng gián đoạn và nhiều lần thay đổi hình thức. Năm tiếp theo, một tờ báo đối thủ ra đời mang tên Die jüdische Post, bổ sung thêm chuyên mục thương mại bên cạnh các tin tức chính trị.

Tại Nga, không có bất kỳ ấn phẩm định kỳ nào xuất hiện cho đến khi Zederbaum cho phát hành tờ phụ bản Kol-mewasser của tờ Hameliz vào năm 1863. Tờ tuần báo này không chỉ là một tờ công báo đưa tin tức chính trị mà đồng thời còn là một tạp chí văn học — như chúng ta đã thấy — từng nuôi dưỡng nền văn học Judeo-German và tạo tiền đề cho Abramowitsch lẫn Linetzki phát triển tài năng. Đến năm 1871, sinh mệnh của nó bị cắt đứt. Vào năm 1867, một nỗ lực yểu mệnh nhằm phát hành tờ tuần báo Die Warschauer jüdische Zeitung đã được thực hiện tại Warsaw, đi sát theo tiền lệ mà tờ Kol-mewasser đã thiết lập. Rất nhiều cộng tác viên của tờ tạp chí kỳ cựu ấy từng chấp bút cho tờ báo này. Vì lý do nào đó, chủ yếu xuất phát từ giới kiểm duyệt, không có bất kỳ ấn phẩm định kỳ nào bằng tiếng Judeo-German được xuất bản ở Nga trong suốt thập niên 70. Dẫu vậy, người Do Thái không hoàn toàn thiếu thốn tài liệu đọc thuộc thể loại ấy, bởi vì vào những thời điểm khác nhau, các tạp chí và công báo vẫn được ấn hành cho họ ở nước ngoài. Ấn phẩm đầu tiên thuộc loại này là tờ Jisrulik, xuất hiện tại Lemberg vào năm 1875 dưới sự đồng chủ biên của Linetzki và Goldfaden. Tờ này khác với những bậc tiền bối ở chỗ nó đặt phần văn học lên vị trí quan trọng nhất trên các cột báo của mình. Phần lớn nội dung do chính các biên tập viên cung cấp, hay đúng hơn là chỉ một mình Linetzki, bởi cái tên Goldfaden không còn xuất hiện trên đó sau vài số đầu tiên. Chưa đầy nửa năm sau, tờ Jisrulik buộc phải đình bản. Từ năm 1877 cho đến năm 1881, Brüll phát hành tại Mainz một tờ tuần báo mang tên Hajisroeli, chuyên phục vụ cho lợi ích của người Do Thái ở Nga. Trên các trang báo ấy, người ta thỉnh thoảng có thể bắt gặp tên tuổi của một số nhà văn thế hệ trước, nhưng nhìn chung nó dường như chỉ có mối liên hệ lỏng lẻo với những người đồng hương ở quê nhà. Một tờ tuần báo khác mang tính chất tương tự đã được khởi xướng vào năm 1880 với tên gọi Kol-leom tại Königsberg. Chỉ đến năm sau, Zederbaum mới thành công trong việc xin giấy phép từ chính quyền cho tờ Volksblatt của mình; tờ báo này xuất hiện liên tục không gián đoạn cho đến năm 1889, một thời gian ngắn sau khi các cộng tác viên chủ chốt của nó là Spektor và Rabinowitsch đã chấm dứt mối liên hệ và tự lập các ấn phẩm niên giám riêng. Kể từ đó, một vài tờ báo mới ra đời nhưng đều có đời sống vô cùng ngắn ngủi. Vào thời điểm viết những dòng này, chính quyền Nga vừa cấp phép cho một hội Zionist ở Warsaw xuất bản một tạp chí mang tên Bas-kol.

Báo chí định kỳ đã có những bước tiến vững chắc, đúng như những gì có thể mong đợi dưới những luật lệ kiềm tỏa ngặt nghèo áp đặt lên nền báo chí Judeo-German ở Nga. Tờ Volksblatt là một sự cải tiến rõ rệt cả về mặt định lượng lẫn định tính so với tờ Kol-mewasser, trong khi bản thân tờ Kol-mewasser lại vượt trội hơn hẳn những tờ công báo tiền nhiệm. Tờ Hausfreund và Volksbibliothēk, Dās hēilige Land, cùng Die Jüdische Bibliothēk đều mang tính hệ thống cao hơn và tiệm cận hơn với hình thức báo chí hiện đại so với tờ Volksblatt.

Đã và đang tồn tại một nhân tố vô cùng đắc lực khác trong công cuộc phổ biến tri thức hữu ích lẫn văn học chân chính, đó chính là các ấn phẩm niên giám, với số lượng lớn đã được phát hành vào nhiều thời điểm khác nhau. Những ấn phẩm xuất sắc nhất trong số này bắt đầu xuất hiện từ thập niên 70, đúng vào thời điểm báo chí định kỳ bị đình bản. Một trong những ấn phẩm sớm nhất thuộc loại này là Lịch Hữu ích (The Useful Calendar), với số đầu tiên phát hành tại Wilna vào năm 1875 bởi Abramowitsch. Bên cạnh những thông tin thông thường hay có trong các ấn phẩm dạng này, nó còn cung cấp các dữ liệu bảng biểu về địa lý, lịch sử, thống kê và các môn khoa học tương tự, tất cả đều được tổng hợp từ những nguồn uy tín và xuất sắc nhất. Đây là một bản sao chép sát sao các loại lịch tương tự bằng tiếng Nga. Không lâu sau đó, một chuỗi ấn phẩm tương tự được Linetzki khởi xướng, bổ sung thêm chuyên mục giai thoại bên cạnh những nội dung mang tính nghiêm túc hơn. Đến thập niên 90, khi phong trào xuất bản niên giám và tạp chí lại một lần nữa rơi vào khoảng lặng, thể loại lịch này đã hồi sinh nhưng với hình thức còn cải tiến hơn trước. Trên thực tế, giờ đây nó chẳng còn khác biệt mấy so với các ấn phẩm niên giám, bởi phần lịch chỉ chiếm phần phụ, trong khi mảng văn học lại được trau chuốt vô cùng công phu. Ấn phẩm tiên phong của dòng thể loại mới này do J. Bernas biên tập dưới tên gọi Lịch Thương mại Do Thái dành cho những năm 1891-1896. Trong số các cộng tác viên của ban văn học, chúng ta lại bắt gặp những cái tên quen thuộc như Perez, Dienesohn, Goldfaden, Frischmann. Kể từ năm 1893, Spektor đều đặn phát hành một ấn phẩm niên giám thường niên mang tên Lịch Gia đình Do Thái Warsaw, được xây dựng theo khuôn mẫu của ấn phẩm do Bernas thực hiện. Một chuỗi ấn phẩm tương tự khác là do Eppelberg ở Warsaw phát hành. Hoàn hảo nhất trong số các loại niên giám phải kể đến ấn phẩm do G. Bader khởi xướng vào năm 1894 tại Lemberg dưới tên gọi Lịch Phổ thông Do Thái, trong đó có không dưới hai phần ba dung lượng dành cho văn học. Những biên tập viên cộng tác được đề cập gồm có Abramowitsch, Frug, Perez, J. M. Rabinowitsch, và một vài cái tên khác chưa từng xuất hiện trước đây trong văn học Judeo-German. Những cuốn lịch này được kỳ vọng sẽ mang lại nhiều điều tốt đẹp cho đại chúng, bởi chúng được phát hành với số lượng bản in lớn hơn nhiều so với bất kỳ cuốn sách nào khác, và thường tránh được số phận bị tiêu hủy ít nhất là trong thời hạn một năm — trong khi người ta vẫn chưa học được thói quen bảo quản các tác phẩm in ấn lâu hơn khoảng thời gian họ đang nghiền ngẫm chúng. Tốc độ biến mất của sách khỏi thị trường và khỏi tủ sách cá nhân là một điều gì đó thật đáng kinh ngạc. Những cuốn sách in từ thập niên 60 hầu như chẳng thể hy vọng tìm thấy quá một cuốn trong số mười cuốn được hỏi đến, trong khi ngay cả những ấn phẩm được in muộn hơn một chút vào thập niên 80 cũng đã nhanh chóng trở thành hàng hiếm. Điều này một phần là do chúng được bán dưới dạng những trang giấy chưa cắt, chưa đóng gáy nên rất dễ rách nát. Nhưng thường xuyên hơn thế, đó là hệ quả của sự thờ ơ đối với con chữ in ấn — một thái độ mà đến một mức độ nào đó, cũng xuất hiện ở những tầng lớp tương ứng thuộc cộng đồng người ngoại giáo. Những tác phẩm được xuất bản trong hai mươi năm qua có cơ hội được bảo quản tốt hơn, bởi chúng được đóng gáy cẩn thận và không hiếm khi còn được bìa cứng đàng hoàng. Chúng cũng được in trên chất lượng giấy tốt hơn rất nhiều so với phần lớn sách thời kỳ trước.

Những cuốn sách Judeo-German hiếm hoi được phát hành ở Nga trước thập niên 60 hầu như đều được in tại các nhà in ở Wilna và Warsaw. Cho đến tận thập niên 40, những tác phẩm xuất xưởng từ địa danh đầu tiên đều mang tên các thợ in Manes và Simel, sau đó là sự trỗi dậy của hãng Romm vốn vẫn còn tồn tại cho đến nay; tuy nhiên, Romm không còn độc chiếm thị trường ở đó như suốt gần năm mươi năm trước nữa. Tại Warsaw, ta tìm thấy nhà in Levinsohn vào đầu thế kỷ của chúng ta, và đến thập niên 40, nhiều tác phẩm cũng được in tại nhà in của Orgelbrand. Trong thập niên 60 và 70, phần lớn các tác phẩm xuất sắc được xuất bản ở miền Nam. Các hãng Nitsche và Beilinsohn ở Odessa cùng Schadow và Bakst ở Zhitomir đã in ấn hầu như toàn bộ sách Judeo-German của nhóm tác giả miền Nam. Sách của các hãng ở Odessa nổi bật với chất lượng in ấn cực kỳ sắc nét và hình thức trình bày bắt mắt. Trong hai mươi năm qua, Berdichev, Kiev, Wilna, Warsaw đã vươn lên thành những trung tâm in ấn hàng đầu cho thể loại sách này, trong khi Lublin ở Ba Lan và Lemberg ở Galicia lại tung ra một khối lượng lớn các tác phẩm tôn giáo và truyện kể dân gian. Những cuốn sách khổ nhỏ (chapbooks) ở Lemberg quả thực không tài nào sánh kịp về sự cẩu thả và tồi tàn trong cách thức trình bày lẫn in ấn.

Thời xưa, các hiệu sách Do Thái chỉ có thể được tìm thấy ở những thành phố lớn. Tại các thị trấn và làng mạc, sách vở được phân phối bởi những người bán sách dạo — những kẻ mang theo bên mình đủ mọi thứ chẳng có chút điểm chung nào với nghề buôn sách, chẳng hạn như chân nến, chỉ khâu tua rua, khăn cầu nguyện cùng các vật dụng thiết yếu khác phục vụ cho việc tuân giữ Luật Mô-sê. Ngay cả đến tận bây giờ, những người bán sách lang thang ấy vẫn chưa hoàn toàn biến mất. Toàn bộ các câu chuyện của Abramowitsch đều được kể qua nhân vật Mendele Mōcher Sforim, tức Mendel Người bán sách — mà vai trò của ông trong việc phân phối văn học cũng như đưa tin đồn sẽ được hé lộ qua nhiều chi tiết thú vị trong các tác phẩm của ông. Thật thú vị khi ghi nhận rằng cách đây vài năm, một số người Nga từng đảm nhận sứ mệnh truyền bá sách hay đến quần chúng đã phải nhờ cậy đến chính phương thức mà người Do Thái đã áp dụng từ một thế kỷ trước, nếu không muốn nói là lâu hơn thế. Sách được gánh đi rao bán trên những cỗ xe ngựa từ làng này sang làng khác, và để thu hút nông dân, những hiệu sách di động ấy còn bày bán thêm nhiều vật dụng hữu ích khác.

Kể từ cuộc tán tích của người Do Thái Nga tại châu Âu và châu Mỹ, một số lượng lớn các ấn phẩm định kỳ đã trỗi dậy trong cộng đồng tha hương (diaspora), đóng vai trò làm trung gian cho công cuộc phổ biến mọi loại tri thức. Tại Anh, tờ tuần báo The Future và The Polish Jew xuất hiện vào thập niên 80, tiếp nối bằng nguyệt san The Free World vào thập niên 90. Một số bài tiểu luận xuất sắc về các vấn đề xã hội học, phần lớn mang khuynh hướng xã hội chủ nghĩa, đã được ấn hành bởi 'Thư viện Xã hội chủ nghĩa' và 'Thư viện Nhân dân' ở Luân Đôn. Tại Paris, tờ tuần báo The Hatikwoh xuất hiện từ năm 1896 dưới sự biên tập của Bernas, cựu biên soạn viên bộ lịch. Tại thành phố đó, Zuckermann cũng đang xuất bản một 'Thư viện Tiểu thuyết', nơi người ta có thể tìm thấy bản dịch của rất nhiều tác phẩm tiếng Pháp phổ biến. Romania từ thập niên 70 đã có một tờ công báo mang tên Hajōez, chuyên xuất bản hàng loạt tiểu thuyết dưới dạng sách đóng thành tập. Phần lớn trong số đó là các bản dịch; những tác phẩm nguyên tác hiếm hoi xuất hiện trong tập san ấy lại có giá trị không đáng kể. Vài tờ báo khác cũng có thể được tìm thấy ở Jassy và một số địa phương khác. Vào năm 1896, H. L. Gottlieb khởi xướng một tờ nguyệt san tại M.-Sziget thuộc Hungary, nhưng nó chỉ tồn tại vỏn vẹn hai tháng. Đa số các bài viết văn xuôi lẫn thơ ca đều do chính biên tập viên chấp bút, với văn phong phảng phất nét tương đồng của Linetzki và Goldfaden. Khoảng một tá cuốn sách — chủ yếu là các vở kịch hề hoặc trào phúng — viết bằng tiếng Judeo-German nhưng sử dụng con chữ tiếng Đức cũng đã được xuất bản. Hầu như toàn bộ chúng đều xuất hiện tại Áo và Hungary. Chúng chẳng hề đóng góp thêm chút gì vào kho tàng văn học Judeo-German.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.