SOLOMON RABINOWITSCH bắt đầu viết cho tờ Volksblatt khoảng cùng thời gian với Spektor, và chẳng bao lâu sau sự xuất hiện của tờ Hausfreund, ông cho phát hành một ấn phẩm định kỳ mang tên Die Jüdische Volksbibliothēk, có tính chất phô trương hơn cả tờ báo đương thời của nó. Cả hai tác giả đều mang chung những tư tưởng khi bước chân vào sự nghiệp văn chương và khi bắt đầu cho ra mắt các ấn phẩm định kỳ của mình. Nhưng chỉ cần liếc qua các tác phẩm của cả hai là đủ để chúng ta thấy rõ có một khoảng cách lớn giữa phương pháp họ theo đuổi và thành quả họ đạt được. Rabinowitsch là một con người bốc đồng, nhiệt huyết, nhanh trí, châm biếm, và những phẩm chất ấy bộc lộ rõ trong mọi sáng tác của ông. Ông từng thử sức qua nhiều lĩnh vực — thơ ca, kịch bản, tiểu thuyết, phê bình — và đều gặt hái thành công. Ông vừa là một thương gia vừa là nhà văn, từng bước qua từ chủ nghĩa hiện thực thuần túy sang giấc mơ ảo ảnh của chủ nghĩa Phục quốc Do Thái (Zionism), và sẵn sàng theo đuổi những lý tưởng mới nếu chúng xuất hiện trước mắt ông. Ông mang bản chất nghệ sĩ trong từng câu chữ.
Khi còn gắn bó với tờ Volksblatt, ông đã viết nhiều bức họa phẩm chân dung và truyện ngắn. Tác phẩm đầu tiên thu hút sự chú ý của nhà phê bình trên tờ Voschod là 'Trò Chơi Trẻ Con' ('Child's Play'), sau đó những cuốn sách mới của ông liên tục nhận được những lời khen ngợi trên tờ tạp chí Nga này. Ông miêu tả những khung cảnh từ chính tuổi thơ của mình, hoặc từ tầng lớp trung lưu mà tài sản — một phần thừa kế từ người vợ — đã đưa ông vào. Bản tính bốc đồng ngăn ông không phát triển các bức họa phẩm của mình thành những cuốn tiểu thuyết dài hơi như Spektor và Dienesohn từng làm. Hiếm khi có một cốt truyện phức tạp trong tác phẩm của ông, nhưng từng hoàn cảnh riêng biệt lại được khắc họa với độ sắc nét cao và nổi bật rõ ràng. Người ta có thể quên câu chuyện, nhưng sẽ chẳng bao giờ quên được các nhân vật của ông. Tất cả bọn họ đều mang cá tính được định hình sắc sảo, ngôn từ riêng và vòng tròn tư tưởng riêng. Chúng ta làm quen với họ thông qua hành động nhiều hơn là qua lời miêu tả của tác giả, và chúng ta yêu mến họ không phải vì vai diễn của họ trong câu chuyện, mà vì nhân cách mạnh mẽ của họ, được thể hiện rõ nét không kém ở những đức tính cũng như ở các nhược điểm. Những người đàn ông và phụ nữ mà ông miêu tả là những kẻ chúng ta từng gặp đâu đó, và sẽ nhận ra lại nếu bắt gặp ngoài đời thực. Nhà phê bình người Nga, vốn dĩ rất am hiểu nền văn học nước nhà, vô tình liên tưởng đến nhân vật quen thuộc này hay nhân vật quen thuộc khác trong các tác phẩm của Gogol và Ostrovski khi bàn về những sáng tác của Rabinowitsch, và đôi khi ông thực sự gán cho chúng những cái tên Nga. Nhưng Rabinowitsch không bắt chước Gogol và Ostrovski, ít ra là không cố ý. Bản thân ông sở hữu một khiếu hài hước không khác biệt là mấy so với các tác giả Nga, và xã hội mà ông miêu tả cũng chẳng khác là bao so với xã hội mà Gogol từng biết cách đây nửa thế kỷ, hay điều mà Ostrovski thậm chí còn tìm thấy ở một thời điểm muộn hơn trong tầng lớp thương nhân ở Moscow. Ông là một nhà quan sát tinh tường, biết cách gạn đục khơi trong, chỉ trình bày cho độc giả những đặc điểm cốt lõi, chứ không làm nặng nề câu chuyện bằng những cuộc thảo luận mang tính chủ quan.
Mặc dù Rabinowitsch có thể bước chân vào lĩnh vực văn chương không với ý định nào khác ngoài ý định chung là nâng cao dân trí cho các tầng lớp hạ lưu, nhưng chắc chắn không có gì trong các tác phẩm của ông cho thấy điều đó đã duy trì lâu dài làm mục đích chính của mình. Ông viết để giải trí, chứ không phải để giáo dục. Hơn thế nữa, ông rút ra các đề tài từ một tầng lớp xã hội mà quần chúng lao động không thực sự quen thuộc lắm. Nơi ông, những tia lửa cuối cùng của lý tưởng giáo huấn thuộc phong trào Haskala đã biến mất hoàn toàn. Trên hết, ông là một nhà văn đang ngỏ lời với một lượng thính giả có gu thưởng thức văn học xuất sắc. Do đó, ông tỏ ra thích hợp hơn trong việc thu hút sự chú ý của các tầng lớp thượng lưu thay vì những kẻ khốn cùng thuộc giống nòi mình, có tác dụng uốn nắn lề thói của tầng lớp trung lưu hơn là giáo dục hay an ủi quần chúng.
Trong số các tác phẩm dài của ông, 'Stempenju' là tác phẩm được hình thành công phu nhất về mặt nghệ thuật và được thể hiện cẩn trọng nhất. Trong các sáng tác trước đó như 'Trò Chơi Trẻ Con' ('Child's Play') và 'Sender Blank', ông đã miêu tả một cách hài hước những bức tranh sinh hoạt từ đời sống của tầng lớp thương nhân. Ở tác phẩm đầu tiên, ông đưa chúng ta vào cuộc sống và chuyện tình của một cậu con trai được nuông chiều, học thức nửa vời của một người giàu có. Ở tác phẩm thứ hai, được ông gọi là một cuốn tiểu thuyết không có tình yêu, chúng ta có được bức tranh xuất sắc về một kẻ bạo ngược kiêm hà tiện, nỗi kinh hoàng của gia đình hắn, thương gia Sender Blank. Hắn đang nằm trên giường bệnh, và những đứa con tụ họp xung quanh đều đang, mỗi đứa theo cách riêng của mình, mơ về khoảnh khắc chúng được tự do làm theo ý thích, khi chúng không còn bị giam hãm trong cảnh nghèo đói nữa. Nhưng Sender Blank lại bình phục, và gia đình hắn giải tán, ai về nhà nấy với những hy vọng tiêu tan. Trong 'Stempenju', chúng ta bắt gặp một cốt truyện được bố cục kỹ lưỡng hơn, và là nỗ lực đầu tiên của ông trong một cuốn tiểu thuyết mà tình yêu lãng mạn đóng vai trò chủ đạo. Stempenju là một tay chơi vĩ cầm, trưởng một ban nhạc thường diễn trong các đám cưới. Anh có tài năng âm nhạc lớn và tự mày mò phát triển năng lực của bản thân hoàn toàn bằng cách tự học. Anh là một nghệ sĩ thực thụ, và giống như nhiều người khác cùng nghề, anh xem nhẹ cuộc sống và có bản tính đa tình. Anh từng nhiều lần tán tỉnh những phụ nữ Do Thái, nhưng những người này thường chẳng mảy may để tâm đến những lời cam kết của anh. Nhưng có lần anh vớ phải một cô gái coi những lời nói của anh là thật lòng, và theo một cách rất đỗi tầm thường, chẳng mảy may có ý niệm gì về tình yêu từ phía cô, ép anh phải kết hôn với mình. Cô túm lấy cuộc đời anh và muốn anh cũng phải sống một cuộc đời ổn định, tẻ nhạt. Nhưng anh tìm thấy sự giải thoát khỏi sự tồn tại bần tiện của mình mỗi khi cùng ban nhạc đi xa để biểu diễn ở đám cưới nào đó. Một lần, nhân dịp như thế, anh để ý thấy một phụ nữ trẻ đã có chồng — người khơi dậy trong anh tia hy vọng đầu tiên về một tình yêu lãng mạn thực sự. Rochel — tên cô ấy — vừa có vóc dáng đẹp vừa có tính cách hiền hậu, đáng yêu. Sau nhiều lần dò dẫm, cuối cùng anh suýt thành công trong việc chiếm lấy tình cảm của cô. Việc này càng dễ dàng hơn trong việc khuất phục trước những lời nài nỉ của Stempenju bởi vì cô có một người chồng ngốc nghếch, vô tích sự. Cuối cùng cô cũng vượt qua cuộc đấu tranh nội tâm một cách chiến thắng, vì niềm tin tôn giáo của cô về sự thiêng liêng của mối tơ duyên vợ chồng mạnh mẽ hơn lòng ham muốn tự nhiên. Stempenju trở về nhà, và cố gắng tìm kiếm sự an ủi cùng sự giải thoát khỏi người vợ hay cằn nhằn của mình bằng cách thường xuyên cầu cứu cây vĩ cầm hơn. Anh chơi đàn thậm chí còn ngọt ngào hơn và đượm buồn hơn trước.
Cuốn tiểu thuyết dài khác của ông, 'Jossele Ssolowee', cũng là một tác phẩm khắc họa bản chất cuộc đời của một nghệ sĩ, lần này là một ca sĩ. Trong số các truyện ngắn của ông, thật khó để chọn ra một câu chuyện xuất sắc nhất, bởi vì tất cả đều được viết rất hay. Chúng ta sẽ lấy ngẫu nhiên một truyện mang tựa đề 'Sự Thực Dân Hóa Đất Thánh Palestine' ('The Colonization of Palestine'). Selig, người thợ may, đã đọc được điều gì đó về kế hoạch thực dân hóa ở Palestine. Anh tham gia một hội nhóm nhằm cổ vũ cho ý tưởng đó, và cuối cùng bỏ bê công việc để đi đến thị trấn lân cận, nơi anh nghe nói có một hội có quỹ dùng để chi trả chi phí đi lại cho những người định cư tương lai tại Đất Thánh. Sau rất nhiều rắc rối, anh tìm được chủ tịch hội — người đang cảm thấy bực bội vì có người nộp đơn nhưng không có thành viên nào sẵn sàng làm người định cư để ủng hộ kế hoạch, bởi vì quỹ thì chẳng có xu nào. Người thợ may bèn đóng góp một đồng xu nhỏ như khoản đóng góp của mình, khoản đầu tiên được trao tặng, rồi trở về nhà với một cái đầu khôn ngoan hơn và cảm thấy bằng lòng hơn với số phận của mình. Câu chuyện được kể lại một cách hài hước, và mang ý nghĩa châm biếm sự sẵn sàng của người Do Thái trong việc lập ra các kế hoạch mới rồi ủng hộ chúng bằng tài hùng biện chứ không bằng một hành động thiết thực nào.
Rabinowitsch cũng thử sức với một thể loại văn xuôi mang âm hưởng thơ ca trong tác phẩm 'Bó Hoa' ('Nosegay'), nhưng ở mảng này ông không thành công cho lắm. Ông đạt phong độ cao nhất khi có thể vận dụng sự hóm hỉnh và châm biếm, và điều đó đã được ông áp dụng tốt hơn trong các truyện ngắn và hài kịch của mình. Trong số các vở kịch, 'Jaknehos' của ông là bức tranh sinh hoạt hay được rút ra từ đời sống của những kẻ buôn bán trên sàn chứng khoán. Lại một lần nữa, cốt truyện chỉ là phần phụ của vở kịch, nhưng các phân cảnh riêng lẻ lại được phác họa bằng những nét bút đậm đà.
Khi Rabinowitsch thừa hưởng gia tài, ông ấp ủ ý định đem sức lực và tiền bạc của mình cống hiến cho việc kiến tạo một ấn phẩm định kỳ chưa từng có tiền lệ trong nền văn học Judeo-German. Chỉ có hai tập xuất hiện thì những vụ đầu cơ thua lỗ trên sàn chứng khoán đã biến ông thành một kẻ nghèo khó. Hai tập niên giám này cho thấy nếu gặp nhiều may mắn hơn, ông đã sớm đưa văn chương Judeo-German lên một tầm cao sánh ngang hàng với những nền văn học ưu tú nhất châu Âu. Sự nhiệt thành, óc phán đoán sắc sảo cùng tài năng của ông đã tô điểm cho ông trở thành nhân vật vô cùng phù hợp với sứ mệnh đó. Mục tiêu của Spektor khi phát hành tờ Hausfreund khiêm tốn hơn nhiều, đó là cung cấp cho người dân những ấn phẩm đọc lành mạnh. Khó khăn nhường nào trong nhiệm vụ của ông có thể thấy rõ từ việc các bài viết cho tạp chí không hề được trả nhuận bút. Chúng hoàn toàn là những bài đóng góp tự nguyện từ những con người hằng mang nặng nỗi niềm với phúc lợi của quần chúng. Dù lực lượng có ưu tú đến đâu, thời buổi suy đồi này cũng không thể trông mong vào sự phát triển tự nhiên của một nền văn chương khi các nhà văn chẳng thể hy vọng kiếm nổi chút danh tiếng hay tiền tài từ sức lao động của mình. Chưa từng có một nhà văn Judeo-German nào đủ sức kiếm nổi một cái sống qua ngày dẫu là đạm bạc từ những cuốn sách của mình, và nếu có thì cũng chỉ thỉnh thoảng ngắt quãng mà thôi. Nhưng rồi Rabinowitsch xuất hiện, trả thù lao hậu hĩnh cho mọi bài viết gửi đến. Đó là một sự cải cách mang lại toàn điều tốt đẹp. Nhưng vị chủ bút không chỉ trả tiền cho những cộng sự; ông còn đòi hỏi những bài viết chất lượng và chỉ nhận những tác phẩm xuất sắc nhất trong số đó. Trong ấn phẩm niên giám của ông, chúng ta tìm thấy các chuyên mục — Văn Belles-Lettres, Phê Bình, Khoa Học, Thư Mục Học — mỗi chuyên mục đều được định hình rạch ròi trong phạm vi thích hợp của mình. Ở phân mục belles-lettres, chúng ta bắt gặp toàn những tác giả xuất sắc nhất thời bấy giờ. Nơi đây cũng lần lượt chứng kiến những bài viết đầu tiên từ ngòi bút của Frischmann, M. J. Rabinowitsch và Perez, những người thuộc hàng tài năng nhất trong các cây bút Judeo-German. Trong số các bài viết khoa học, có vài bài mang tính chất lịch sử như 'Về Lịch Sử Người Do Thái ở Podolia' của Litinski, 'Các Vụ Thảm Sát Gonto ở Uman và vùng Ukraine' của Tiến sĩ Skomarowski. Có một số cuộc tranh luận về y học bình dân, chủ yếu từ ngòi bút của vị cộng sự bền bỉ trong lĩnh vực đó hơn một phần tư thế kỷ, Tiến sĩ Tscherny, cùng một bài viết về 'Lịch Sử Văn Học Judeo-German' của A. Schulmann. Tác phẩm sau là thành quả của nhiều năm nghiên cứu và vô cùng phong phú về dữ liệu thư mục. Nó đủ sức làm rạng danh bất kỳ tạp chí khoa học nào. Phân mục dành cho thư mục học mang ý nghĩa hết sức trọng đại đối với giới nghiên cứu văn học Judeo-German, bởi vì thư mục học ở đây lâm vào cảnh tồi tệ đến mức ta không thể cung cấp những dữ liệu hoàn toàn chính xác cho một số giai đoạn nhất định, đặc biệt là các giai đoạn cổ xưa. Thế nhưng, chuyên mục thú vị nhất trong tờ ấn phẩm định kỳ lại chính là mục phê bình, một nhân tố mới mẻ trong văn học Judeo-German. Trước đó, người ta có thể tìm thấy một vài nhận xét rời rạc về sách báo trên tờ Volksblatt, nhưng một cách tiếp cận mang tính hệ thống đối với nhánh văn học này là điều xa lạ với các bậc tiền bối, và cũng chẳng đem lại ích lợi gì cho độc giả. Song tại đây, trong tờ Volksbibliothēk, chúng ta không chỉ tìm thấy bước ngoặt mới mẻ này, mà còn có không dưới tám mươi trang sách được dành riêng cho nó ngay trong tập đầu tiên.
Rabinowitsch từng cho xuất bản cách đó không lâu một tập sách mang tựa đề 'Bản Án của Schomer' ('Schomer's Mischpet'), tức 'Phán Quyết của Schaikewitsch', đánh dấu một kỷ nguyên mới. Trong tác phẩm này, tác giả điểm lại những sáng tác của Schaikewitsch và những kẻ đồng chí hướng từng cung cấp cho dân chúng một nền văn học vô giá trị. Sách được viết theo phong cách giải trí, dưới hình thức một phiên tòa xét xử, và ít nhiều đã tạo ra hiệu ứng như mong đợi: lượng tiêu thụ của những cuốn sách ấy sụt giảm nhanh chóng, và nhờ thế sân chơi lại rộng mở cho một tầng lớp tác giả mới mẻ và ưu tú hơn. Không thể nói rằng Rabinowitsch luôn công tâm với những kẻ đang đứng trước vành móng ngựa, nhưng nhìn chung phán quyết của ông rất xác đáng và những phán quyết ấy sẽ còn đứng vững với thời gian. Vì quá hăng hái, đôi khi ông đưa ra những tuyên bố vơ đũa cả nắm, qua đó tạo ra những kẽ hở cho phe đối thủ nắm lấy để công kích ông. Dù sao đi nữa, từ đây phê bình đã trở thành một thể chế vững chắc, và không một nhà văn nào có thể thoát khỏi sự soi mói tận tường. Người đầu tiên noi theo tấm gương của Rabinowitsch là Frischmann, người đã cho ra mắt vào cùng năm đó một số bài đánh giá sắc sảo trên tờ Hausfreund. Trong tờ Volksbibliothēk, nhiệm vụ đó do Rabnizki và chủ bút đảm nhận. Họ không chỉ chê bai những tác phẩm kém chất lượng, mà còn hướng sự chú ý đến những cuốn sách hay, đồng thời khích lệ các cây bút trẻ nếu họ xứng đáng được động viên. Tài năng của Rabinowitsch theo hướng này được thể hiện rõ nhất qua ngòi bút châm biếm cay độc khi điểm sách thơ của Perez (dù ông không hoàn toàn công bằng với nhà thơ này), và thậm chí còn xuất sắc hơn trong những lời phê bình dí dỏm về các lối hành văn khác nhau được sử dụng trong tiếng Judeo-German. Perez — một thiên tài không tầm thường và là người đã khơi mào những hướng đi mới trong văn chương — bằng cách nào đó đã khơi gợi sự bất mãn từ giới phê bình, những kẻ không tài nào chịu đựng nổi chủ nghĩa tượng trưng của ông. Frischmann từng chỉ trích ông vì sự tối nghĩa bịa đặt cùng những lỗi lầm tưởng tượng khác qua một loạt bức biếm họa bậc thầy. Frischmann cũng không tha cho những kẻ khác chuốc lấy cơn thịnh nộ của mình, và dẫu người ta không nhất thiết phải đồng tình với các phán quyết của ông, người ta vẫn không khỏi thu nhận những điều ích lợi qua những màn mổ xẻ sắc bén ấy. Qua đó, chúng ta thấy được, giữa nhiều thứ khác, sự tiến bộ mà tiếng Judeo-German đang đạt được; bởi vì cá tính phong cách phải thật nổi bật mới đáng được bắt chước và chế nhạo. Frischmann cũng viết một số truyện ngắn hay mang tính chất hoang đường, như truyện cổ tích, và một vài truyện từ đời sống thực tế. Các câu chuyện của ông đều rất đáng đọc, đặc biệt nhờ văn phong xuất sắc mà ông vun đắp. Các truyện ngắn của M. J. Rabinowitsch chủ yếu là bản dịch các tác phẩm tiếng Nga của chính ông. Tất cả đều là những bức tranh từ khu ổ chuột ở Nga và Romania, chẳng khác là mấy so với các tác phẩm của Bernstein và Kompert. Chúng thiếu đi tính tự phát của các nhà văn Judeo-German, nhưng được thể hiện rất cẩn trọng về mặt hình thức.
Nhân vật có lẽ nguyên bản nhất trong giai đoạn hậu kỳ này chính là Perez, người có các tác phẩm thơ ca từng được bàn đến trước đây. Cùng với ông, văn chương Judeo-German bước vào cuộc cạnh tranh với những tinh hoa của văn học thế giới, nơi một ngày nào đó ông sẽ chiếm giữ một vị trí đáng tự hào. Trong số các tác phẩm đồ sộ của ông, không có lấy một tác phẩm tầm thường, không có tác phẩm nào đánh mất dù chỉ một phần sự dễ hiểu khi được dịch sang ngôn ngữ khác. Dù thỉnh thoảng chúng đề cập đến những hoàn cảnh được rút ra từ đời sống người Do Thái, thứ thu hút ông lại là ý nghĩa nhân văn phổ quát của chúng, chứ không phải các đặc trưng chủng tộc cụ thể của chúng. Chỉ có sự ỳ ạch đơn thuần cùng khát vọng phục vụ dân tộc mới giữ ông ở lại trong hàng ngũ các nhà văn Judeo-German. Ông không thuộc về nơi đó theo bất kỳ tiêu chuẩn nào mà chúng ta áp dụng cho những người đồng nghiệp của ông — những kẻ bản thân họ cũng phàn nàn rằng chủ nghĩa tượng trưng của ông là thứ quá tầm với đối với đại đa số quần chúng mà ông mượn cớ để viết cho họ. Mặc dù lời buộc tội này chắc chắn đúng trong trường hợp một số tác phẩm của ông, nhưng nó lại không thể áp dụng cho nhiều trường hợp khác, nơi mà bất chấp ngụ ngôn, chủ nghĩa huyền bí hay chủ nghĩa tượng trưng ẩn chứa bên dưới câu chuyện, vẫn còn đó một phần cốt truyện thực sự dễ hiểu vừa đủ cho cả những độc giả khiêm nhường nhất. Ông cũng nhắm đến việc giáo dục dân tộc mình, nhưng theo một nghĩa rộng lớn hơn nhiều so với các bậc tiền bối. Đó không phải là khối lượng thông tin vật chất về những sự kiện đơn thuần, cũng không phải thứ văn hóa rộng lớn hơn của nhà trường mà ông muốn thay thế cho học thuyết Do Thái và nền giáo dục tôn giáo, và ông cũng chẳng thấy thỏa mãn như Spektor trong việc đánh thức ý thức dân tộc đang ngủ mê. Sự đồng cảm của ông hướng về toàn thể nhân loại, và người Do Thái chỉ là một trong số những cá thể cần được giải cứu khỏi ách nô lệ xã hội mà những kẻ khốn khổ trên thế giới đang rên siết dưới chân nó. Những kẻ trở nên nhút nhát dưới ách áp bức dưới bất kỳ hình thức nào, đã đánh mất năng lực tư duy, chỉ phát triển năng lực chịu đựng, những con người là thánh nhân mà chẳng hề hay biết — đó mới là những kẻ mà Perez hết lòng yêu thương. Chính họ là những người mà ông muốn trả lại các quyền con người bấy lâu nay bị tước đoạt, không phải bằng sự giải phóng chính trị và xã hội, mà bằng ý thức về phẩm giá con người phải có trước mọi cuộc cải cách. Những ai thuộc về Nước Trời cũng phải được trao cho cả Vương Quốc Trên Trái Đất. Dù vậy, khi những thứ vật chất bị tước đoạt khỏi tay họ, chẳng có lý do gì để những giá trị tinh thần lại không được chuyển giao cho họ. Về phần mình, Perez sẵn sàng hiến dâng tất cả những gì ông có — thiên tài của mình — để phục vụ những tầng lớp thấp kém. Theo ông, văn học không phải là một trò tiêu khiển phù phiếm của kẻ nhàn rỗi, mà là chốn an ủi cho những ai không còn niềm an ủi nào khác, là một chốn dung thân an toàn và tao nhã cho những sinh linh đang bơ vơ giữa biển đời bão táp. Vì những lý do này mà ông viết bằng tiếng Judeo-German chứ không phải bất kỳ ngôn ngữ nào khác mà ông thông thuộc, và cũng chính vì những lý do đó mà ông chọn sống cùng những kẻ bị đày đọa dưới đáy xã hội.
Ông dành trọn những năng lượng tốt đẹp nhất của mình cho những con người này, và ông sử dụng sự tỉ mỉ, chu toàn trong việc trau chuốt tác phẩm hệt như thể ông đang viết cho một công chúng được đào luyện trong những tư tưởng tinh hoa nhất của thế giới và quen thuộc với loại hình văn học cao cấp nhất. Tác phẩm văn xuôi đầu tay của ông, dẫu không phải là tác phẩm đầu tiên được in ấn, là một cuốn sách mỏng mang tựa đề 'Những Bức Tranh Quen Thuộc' ('Well-known Pictures'), bao gồm ba truyện ngắn: 'Người Đưa Thư' ('The Messenger'), 'Linh Hồn Là Gì?' ('What Is a Soul?') và 'Gã Sinh Viên Ăn Mày Điên' ('The Crazy Beggar-Student'). Trong câu chuyện đầu tiên, ông kể về chuyến đi cuối cùng của một người đưa thư già đang phải băng qua giá rét, mưa tuyết bằng đôi chân trần để đến một ngôi làng xa xôi nơi ông phải giao một tài liệu quan trọng. Ông lê bước trong cơn đói khát và đớn đau, nhưng không một lời phàn nàn nào thốt ra từ đôi môi. Vắt ngang qua đầu ông là những ký ức xưa cũ về thời điểm người vợ còn tại thế, khi các con ông còn quây quần đông đủ. Chúng đã rời bỏ ông, nhưng ông chắc chắn rằng chúng đang sống tốt ở những mái nhà mới, bởi vì — tự ông an ủi — tin dữ thường bay đi nhanh chóng. Sức lực cạn kiệt, ông ngồi bệt xuống một đống tuyết để chợp mắt nghỉ ngơi. Ông bắt đầu mơ về quán trọ không xa nơi người vợ của chủ quán sẽ chuẩn bị cho ông một bát canh ấm. Ông đã nhìn thấy mình ngồi vào bàn ăn khi những người lạ mặt bước vào phòng. Chẳng mấy chốc ông nhận ra họ chính là những người con trai của mình, và chúng ôm chầm lấy ông, hôn hít một cách cuồng nhiệt. Vô ích, ông nài nỉ chúng hãy thôi cái ôm bóp nghẹt ấy, bởi ông đã già và yếu sức. Ông van xin chúng hãy đối xử nhẹ nhàng với mình, vì ông đang mang trọng trách giao một khoản tiền phải đưa đến đúng nơi định hướng... Người đưa thư già được phát hiện đã qua đời, bàn tay đặt lên túi áo nơi ông cất giữ tài liệu được phó thác.
Bức họa phẩm thứ hai mang bầu không khí tươi vui hơn. Nó kể về vô vàn rắc rối và hoài nghi mà một cậu bé nọ trải qua trước khi khám phá ra linh hồn thực sự là gì. Khi còn rất nhỏ, cha cậu qua đời, và người ta bảo cậu rằng linh hồn ông đã bay về trời. Kể từ đó trở đi, cậu bé cứ đinh ninh linh hồn là một chú chim. Nhưng cậu lại bị chế nhạo vì niềm tin ấy bởi người giám thị của thầy giáo. Bản thân thầy giáo thì quen thói ngược đãi lũ trẻ và quất roi không thương tiếc. Thầy giải thích với chúng rằng việc trừng phạt thể xác là tốt cho linh hồn. Vậy thì, linh hồn là gì? Cậu bé tự hỏi bản thân lần nữa. Rồi thầy giáo kể cho lũ trẻ nghe nhiều câu chuyện cổ tích về cuộc sống tiền kiếp của linh hồn, khi thiên thần của sự sống hằng ngày dạy dỗ nó những bài học khôn ngoan trong Kinh thánh và Kinh Talmud. Và niềm tin ấy chẳng mấy chốc cũng bị cướp mất bởi người dạy chữ, một kẻ có xu hướng tư tưởng tự do. Cứ thế, cậu bé cứ dập dềnh dao động từ niềm tin sang sự nghi ngờ rồi lại quay về cho đến năm mười bảy, mười tám tuổi, khi cậu đang học kinh Talmud với một người thầy mới. Một lần, trong lúc thầy vắng mặt, cậu nảy ra ý định đi tìm kiếm câu trả lời từ Gütele — cô con gái xinh đẹp của thầy, nổi tiếng xa gần với danh xưng Gütele thông thái — về câu hỏi đã ám ảnh cậu bấy lâu nay, và vì nó cậu đã phải chịu đựng biết bao cay đắng trong đời. Với cơ thể run rẩy, cậu hỏi nàng:
"'Người ta đồn rằng, hỡi Gütele, nàng là người trí tuệ. Vậy xin nàng hãy bảo ta, linh hồn rốt cuộc là gì?'
Nàng mỉm cười và đáp:
'Thật lòng mà nói, ta chẳng biết chút gì cả.'
Chỉ bỗng chốc, gương mặt nàng trở nên đượm buồn, và dòng lệ ngập tràn khóe mắt.
'Ta vừa chợt nhớ ra,' nàng cất lời, 'khi người mẹ quá cố kính yêu của ta còn sống, cha ta thường hay bảo rằng mẹ chính là linh hồn của ông ấy... họ yêu nhau đến nhường nào!... '
Tôi chẳng hiểu vì sao bản thân lại hành xử như thế, chỉ biết rằng mình bỗng chốc nắm lấy bàn tay nàng, run rẩy thốt lên:
'Gütele, nàng có muốn làm linh hồn của ta không?'
Nàng khẽ khàng đáp:
'Vâng.' "
Từ hai câu chuyện đong đầy tình cảm và sự dịu dàng ấy, chúng ta bước sang một tác phẩm bi thảm không kém đồng thời là một công trình nghiên cứu tâm lý học uyên sâu hơn nữa. Gã sinh viên ăn mày, mắc chứng điên nhẹ nhàng, đã kiệt sức vì hai ngày nhịn ăn cùng chuỗi giờ dài mải miết chìm đắm trong kinh Talmud, đang tự biện luận với chính mình xem bản thân là một, là hai, hay nhiều hơn thế, và liệu hắn có thực sự là chính mình hay không. Cuối cùng, hắn hoài nghi hệt như vậy đối với Wolf Nhà Buôn, kẻ đang ngồi đọc kinh Talmud ngay đó. Hắn tưởng tượng có ba gã Wolf đang ngồi ở chỗ kia: một kẻ đang cố gắng lừa dối Chúa bằng sự sùng đạo của mình; một kẻ lừa gạt những người đồng loại ngay tại cửa hàng của hắn; và một kẻ chuyên đánh đập người vợ — người vẫn thỉnh thoảng ban phát cho gã sinh viên nghèo đói những bữa ăn qua ngày. Hắnâm ỉ căm ghét gã Wolf thứ ba đến tận xương tủy, và ước gì có thể tiêu diệt gã, nhưng hắn lại chẳng muốn làm tổn thương hai gã Wolf còn lại chút nào. Độc thoại nội tâm của gã sinh viên ăn mày này, được thể hiện qua khoảng hai mươi trang khổ lớn, là một trong những tác phẩm kỳ diệu nhất có thể tìm thấy trong bất kỳ nền văn học nào: nó phải được đọc bằng bản gốc thì mới thấu cảm trọn vẹn.
Với một cuốn sách như thế, Perez đã đặt chân vào địa hạt văn chương. Nói rằng các sáng tác tương lai của ông bộc lộ một tài năng chín muồi hơn thì chẳng khác nào đánh giá quá thấp cuốn sách đầu tay của ông — tác phẩm dẫu qua bao nhiêu trang viết xuất sắc vẫn đứng vững ở hàng ngũ những kiệt tác xuất chúng nhất. Năm 1891, khi tờ niên giám của Spektor tạm thời đình bản và ấn phẩm định kỳ của Rabinowitsch ngưng xuất bản, Perez cho ra mắt một ấn phẩm định kỳ mới mang tên Die jüdische Bibliothēk, dự định phát hành nửa năm một tập nhưng cho đến nay mới chỉ có ba tập ra mắt. Trong phần lời mở đầu của tập đầu tiên, Perez đưa ra lời kêu gọi thiết tha vì công cuộc giáo dục quần chúng, trong đó chứa đựng những lời lẽ vô cùng sâu sắc: "Hãy giúp chúng tôi giáo dục những con người khốn khổ, tội nghiệp; chớ để họ rơi vào nanh vuốt của những kẻ cuồng tín, những kẻ sẽ hút cạn giọt máu cuối cùng lẫn tủy xương cuối cùng từ thân hình gầy guộc của họ. Đừng bỏ mặc họ trong tay những kẻ ảo tưởng, những kẻ sẽ dụ dỗ họ đi lạc vào chốn hoang mạc! Chớ để những đứa trẻ con và học trò dắt mũi — hãy rủ lòng thương lấy nhân dân! Đừng để họ ngã quỵ! Bản thân nhân dân ẩn chứa một nguồn sức mạnh sinh tử, một quỹ đạo năng lượng dồi dào. Nhân dân chính là những kẻ chuyên chở một nền văn minh mà thế giới không hề xem nhẹ, những tư tưởng sẽ mang lại ích lợi lớn lao cho nhân loại. Nhân dân tựa như một đóa hoa bất tử... Ban ngày, khi ánh dương rạng ngời, khi linh hồn con người trỗi dậy vươn lên, nó hồi sinh và xòe rộng những chiếc lá; nhưng chẳng đợi đến lúc màn đêm đen kỉnh sập xuống, nó lại khép mình, quắt quéo và thu mình trở lại... Đó là lúc nó mang vẻ ngoài của một đám cỏ dại tầm thường... và khi mặt trời một lần nữa ló dạng, phải mất một khoảng thời gian trước khi ánh dương tìm thấy đóa hoa và đóa hoa nhận ra mặt trời đang chiếu rọi... Về đêm, nó phủ đầy bụi bặm và nhơ nhớp, khiến những tia sáng chẳng thể dễ dàng len lỏi vào được! Hãy giúp nhân dân nhận ra vầng dương ngay từ sớm tinh mơ!... Nhưng điều quan trọng nhất, các phương kế phải được vạch ra để nhân dân tự mưu sinh..."
Phù hợp với cương lĩnh đó, Perez gọi ấn phẩm định kỳ mới của mình là một tờ tạp chí văn học, xã hội và kinh tế. Không chỉ gánh vác nhiệm vụ biên tập vô cùng nan giải cho tờ tạp chí mới mẻ này, Perez còn phải tự mình cung cấp phần lớn các nội dung văn học, bởi chẳng hề có nhà văn nào trên nền văn học Judeo-German đủ sức theo chân ông một cách thuận lợi trong hướng đi mới mẻ ấy. Ông phải viết phần lớn các chuyên mục khoa học, toàn bộ các bài đánh giá, toàn bộ các xã luận. Thêm vào đó, ông còn cung cấp phần lớn thơ ca và tiểu thuyết. Một vài nhà văn hiếm hoi khác công bố bài viết trên tờ tạp chí này đều mang ơn sự cưu mang dìu dắt của vị chủ bút: hầu như tất cả bọn họ đều lần đầu tiên được khích lệ bởi chính bàn tay ông. Trong số các bài viết khoa học của ông, cần phải đặc biệt nhắc đến bài tiểu luận dài 'Về Các Ngành Nghề' ('On Trades'), một công trình phổ biến hóa kinh tế học chính trị, được hạ mức xuống ngang tầm với độc giả khiêm nhường nhất. Văn phong đáng ngưỡng mộ, mang tính giải trí cao, sự thích hợp của các hình ảnh minh họa cùng việc vắng bóng tư tưởng giáo điều biến nó thành một trong những sáng tác đáng kinh ngạc nhất trong lĩnh vực khoa học thường thức. Thậm chí còn mang đậm chất văn chương và hoàn mỹ hơn về mặt hình thức chính là tác phẩm 'Những Bức Tranh Về Chuyến Đi Tỉnh Lẻ' ('Pictures of a Provincial Journey'). Dường như Perez đã được cử đi thực tế đến các vùng tỉnh lẻ với sứ mệnh thu thập dữ liệu thống kê về tình cảnh của những người Do Thái sinh sống tại đó. Bài tiểu luận này rõ ràng là một cuốn nhật ký ghi lại những trải nghiệm của ông trong chuyến đi ấy. Chúng tôi không tài nào nhớ nổi mình từng đọc được trong bất kỳ nền văn học nào một cuốn nhật ký nào sánh ngang với tác phẩm này về giá trị văn chương. Điều làm cho nó trở nên vô cùng hấp dẫn chính là việc nó được viết sao cho có thể thu hút chính những con người vô cùng bé nhỏ tầm thường mà ông đang viết về họ. Bức tranh bi thương mà ông mở ra trước mắt chúng ta, dẫu buồn bã và đau đớn đến nhường nào, lại được tô điểm trở nên cuốn hút đến mức qua cách kể chuyện ấy, người ta chẳng thể gấp sách lại cho đến khi đọc xong trọn vẹn bảy mươi trang khổ lớn.
Perez đã viết hơn năm mươi truyện ngắn, tất cả đều mang giá trị kim cương hệt như ba tác phẩm đã được mô tả ở trên. Mỗi tác phẩm mới ra đời lại là một viên ngọc quý bổ sung vào chiếc vương miện mà ông đang tự tay kiến tạo cho chính mình. Tất cả chúng đều được khắc họa bởi cùng một nỗi niềm bi cảm dịu dàng, cùng một văn phong xuất sắc, cùng một sự tinh tế trong cảm xúc. Ông thường ưa chuộng những khoảnh khắc bi kịch trong đời sống như những đối tượng phù hợp cho ngòi bút đầy đồng cảm của mình, nhưng ông cũng từng xử lý một cách xuất sắc tình cảm dịu dàng của tình yêu. Thế nhưng, đó lại là một thứ hoàn toàn khác biệt với tình yêu lãng mạn mà ông cho là xứng đáng nhận được sự quan tâm. Đó là tình nghĩa phu vợ của những gia đình khiêm nhường nhất, được vun đắp giữa muôn vàn gian khó, được tôi luyện qua nghịch cảnh, thăng trầm bởi cơ cực; đó chính là thứ tình yêu thánh thiện nhất trong tất cả các loại tình yêu mà ông kể lại theo cách chưa từng có ai kể trước đây. Tương tự như vậy, ông thích đắm mình trong mọi đức tính được khơi gợi từ nỗi đau thương, được tiến hóa qua khốn cùng và áp bức, những đức tính dịu dàng hơn, vị tha hơn, thần thánh hơn, khi chúng ta càng đi xuống sâu hơn trên bậc thang nhân loại. Cũng chẳng cần phải phỏng đoán rằng để tô điểm cho các nhân vật của mình từ khía cạnh có lợi nhất ấy, tác giả phải viện đến lớp ngụy trang của sự lý tưởng hóa. Họ chẳng tốt hơn và cũng chẳng xấu hơn những con người ta vẫn gặp mỗi ngày và xung quanh ta; nhưng họ chính là những mẫu người chỉ được thấu hiểu bởi kẻ không hề chùn bước trước vẻ bề ngoài tơi tả cùng sự nhếch nhác trong chốn dung thân nghèo nàn của họ để đến làm quen thân thiết. Họ không mang những đức tính của mình ra phô bày, họ không quyên góp tiền bạc cho các quỹ từ thiện, họ không tham gia các hội nhóm nhằm thúc đẩy những cơ quan nhân đạo, họ không thuyết giảng về bổn phận đối với Thiên Chúa hay về cuộc sống mai hậu, họ thậm chí chẳng bộc lộ sự phẫn nộ luân lý khi chứng kiến tội lỗi. Thế nhưng họ vẫn sở hữu những tình cảm thanh cao chỉ trỗi dậy ở vòng tròn bé nhỏ của gia đình, trong mối tương quan với những kẻ cùng khổ như họ. Ngay cả vị luật sư hùng biện của quần chúng nhìn chung cũng chẳng màng bước chân vào cái không gian xa lạ ấy như cách Perez đã làm. Tình cảm của ông dành cho những con người hèn mạt nhất trong giống nòi mình không chỉ đơn thuần là thứ tình cảm thuần lý thuyết. Ông không chỉ biết rõ điều mình đang cất lời: ông thực sự cảm nhận nó; và nhờ thế chúng ta có được những câu chuyện bi thương nhất, dịu dàng nhất, ngọt ngào nhất từ đời sống của những người Do Thái khốn cùng nhất từng được viết ra.
Vào năm 1894, Perez cho xuất bản một tập sách tổng hợp mang tựa đề 'Văn Học và Đời Sống' ('Literature and Life'), bao gồm, giống như ấn phẩm định kỳ của ông, phần lớn là các sáng tác của chính tác giả. Do chúng được sáng tác ở một thời điểm muộn hơn so với những tác phẩm được đề cập ở trên, và do chúng bao chứa một số chất liệu trong đó ông xuất hiện ở một vai trò hoàn toàn mới mẻ, chúng ta sẽ dành thời gian bàn luận về tập sách này một cách tường tận. Trong phần lời mở đầu, ông đúc kết những mục tiêu tổng quát của mình, vốn chẳng có gì khác biệt so với những điều từng được bày tỏ trong ấn phẩm trước đây của ông. Những lời cuối cùng của phần ấy là: "Chúng ta muốn người Do Thái cảm nhận như một con người, tham gia vào mọi điều thuộc về con người, sống và phấn đấu như một con người, và nếu bị xúc phạm, hãy cảm thấy bị xúc phạm như một con người!" Bức họa phẩm đầu tiên mang tựa đề 'Dưới Căn Hầm' ('In the Basement'). Đó là câu chuyện về mầm mống tình yêu phu vợ của một cặp đôi trẻ nghèo đến mức họ phải sinh sống trong một căn hầm tối tăm, trong một căn phòng đóng vai trò là mái ấm cho nhiều gia đình mà những 'căn phòng' riêng biệt của họ chỉ bị chia cắt với nhau bởi những vách ngăn mỏng manh, thấp lè tè. Tác phẩm thứ hai là 'Bontsie Câm Lặng' ('Bontsie Silent'), được trích dẫn trong phần Sách Đọc Mẫu (Chrestomathy) của chúng tôi. Nó thuộc cùng một thể loại họa phẩm như truyện ngắn 'Người Đưa Thư' ('The Messenger') của ông. Nó khắc họa, có lẽ là xuất sắc hơn bất kỳ tác phẩm nào khác, quan niệm của tác giả về bản chất các đức tính của quần chúng kiên cường chịu đựng qua năm tháng. Nào ai có thể đọc nó mà không bị lay động đến tận đáy tâm hồn? Chẳng hề có sự phóng đại nào trong đó, chẳng có kịch tính rẻ tiền nào, chẳng có gì ngoài thực tại đắng cay. Nó bày tỏ, theo một phương thức trực diện hơn bất kỳ điều gì khác mà ông từng viết, niềm tin của ông rằng Nước Trời thuộc về những kẻ hạ lưu.
Bức họa phẩm mang tên 'Chiếc Mũ Lông Thú' ('The Fur-Cap') là một trong số rất ít những sáng tác được ông viết ra như một đòn tấn công nhắm vào vị Giáo sĩ phái Khassidim. Tuy nhiên, ở đây lại có một sự khác biệt lớn lao trong phương thức của Perez và của Linetzki. Trong khi người sau tiến công một cách trực diện, tay lăm lăm cây gậy và phũ phàng giáng thẳng nó xuống cái đầu của kẻ cuồng tín, thì Perez trên hết lại tâm niệm về hình thức văn chương mà ông khoác lên cho đòn tấn công của mình, và qua đó chúng ta nhận được một câu chuyện đậm chất nghệ thuật có thể làm hài lòng người đọc dẫu những cú đâm thọc có thể không vừa ý họ. Vị Giáo sĩ không bao giờ xuất hiện trước công chúng mà thiếu đi chiếc mũ lông thú khổng lồ của ông, thứ thực chất là phù hiệu quyền uy cho chức vị của ông. Trong câu chuyện này, chúng ta bắt gặp người thợ may áo lông thú đang chìm đắm trong một màn độc thoại nội tâm, nơi ông ta kể về niềm hân hoan khi được tự tay chế tác chiếc mũ cho vị Giáo sĩ. Ông ta cảm thấy chính mình mới là kẻ ban phát mọi tầm vóc quan trọng cho vị chức sắc ấy, bởi vì chính chiếc mũ mới làm nên vị Giáo sĩ. Ông ta kể về sự chuyển hóa từ một người phàm trần bình thường thành một kẻ thông dịch đầy uy nghiêm cho thánh ý của Thiên Chúa trên mặt đất. Không một sự kiện trọng đại nào trong đời sống, không một lễ sinh ra, kết hôn hay qua đời nào có thể diễn ra mà không có sự chấp thuận của kẻ đội chiếc mũ lông thú ấy. Chính chiếc mũ, chứ không phải con người cùng trí tuệ của y, mới là thứ chuẩn y và hợp pháp hóa mọi hành vi của y. Nếu không có chiếc mũ ấy, người ta sẽ chẳng tài nào phân biệt được đâu là phải trái đúng sai. Mẩu châm biếm tinh tế này không đơn thuần là một đòn tấn công nhắm vào giáo phái Khassidim; nó còn mang ý nghĩa là một lời buộc tội toàn bộ hệ thống xã hội của chúng ta, với những lời nói dối mang tính quy ước của nó. Perez không bộc lộ qua các tác phẩm của mình rằng ông thuộc về phe phái cụ thể nào, nhưng chắc chắn ông không đứng về phía những kẻ bảo thủ. Ông đứng về phía những người cổ vũ cho tiến trình cải cách ở dạng thức tiên tiến nhất. Ông chống lại mọi thứ đồng nghĩa với sự nô dịch hóa bất kỳ tầng lớp con người nào. Tại Nga, nơi người ta không được phép tự do bày tỏ những quan điểm đi ngược lại với tâm thức của tầng lớp cầm quyền, các nhà văn thường xuyên phải viện đến hình thức ngụ ngôn, truyện ngụ ngôn hay ẩn dụ xa vời, thay vì con đường trực diện của các nhà văn ở các quốc gia theo thể chế hiến pháp. Vì những lý do đó, văn học thuần túy đối với người Nga nhìn chung mang nhiều ý nghĩa hơn là những tác phẩm nghệ thuật đơn thuần. Cuốn tiểu thuyết thường đóng vai trò thay thế cho một tờ truyền đơn chính trị, một bài tiểu luận về các vấn đề xã hội. Các câu chuyện của những nhà văn Judeo-German tất nhiên cũng chịu chung số phận với văn nhân Nga, và hệ quả là không thể tránh khỏi việc mang 'xu hướng' bất cứ khi nào các tác giả nung nấu ý định đề cập đến những chủ đề sẽ bị xử lý nghiêm khắc bởi bàn tay kiểm duyệt. Phần lớn sự tối nghĩa bịa đặt trong các sáng tác của Perez chính xuất phát từ khát vọng lẩn tránh ngòi bút xanh của giới kiểm duyệt, và việc tiếp cận một cách trực diện trở nên nguy hiểm chừng nào, thì lối ẩn dụ lại càng đòi hỏi phải tinh vi chừng ấy. Những tác phẩm xuất sắc nhất thuộc thể loại văn học ấy được dung chứa trong tập sách này qua một loạt bài mang tựa đề 'Những Truyện Ngắn Cho Người Lớn' ('Little Stories for Big Men').
Tác phẩm đầu tiên trong số đó mang tên 'Vũng Nước Tù Đọng' ('The Stagnant Pool'). Chúng ta được dẫn dắt vào thế giới của loài sâu bọ sống trong vũng nước, những kẻ coi lớp váng bọt màu xanh lá là thiên đường của mình, và những mảnh vỏ trứng rơi vào đó chính là những vì sao và mặt trăng lấp lánh trên bầu trời ấy. Một bầy bò bước xuống vũng nước đã xé rách thiên đường của chúng và tiêu diệt tất cả những kẻ không kịp trốn kỹ vào lớp bùn nhão. Chỉ có duy nhất một con sâu sống sót để kể lại câu chuyện về thảm họa ấy, và nó gợi ý với đồng loại của mình rằng đó không phải là thiên đường từng bị tàn phá, rằng vẫn còn một thiên đường khác tồn tại vĩnh cửu. Vì điều này mà kẻ kể chuyện bị coi là điên loạn và bị tống vào nhà thương điên. Tác phẩm thứ hai, 'Bài Thuyết Giáo Của Những Ngọn Đèn' ('The Sermon of the Lamps'), trong đó chiếc đèn treo trần giáo huấn chiếc đèn bàn nhỏ bé hãy hướng ngọn lửa lên thiên đường thay vì nhấp nháy theo kiểu vô chính phủ, là một ngụ ngôn tuyệt mỹ nơi trật tự xã hội vạn vật được đem ra mổ xẻ châm biếm. Tổng cộng có mười bài ngụ ngôn xuất sắc như thế, hay những truyện ngụ ngôn, nằm trong tuyển tập, tất cả đều mang giá trị đồng đều. Bài viết cuối cùng của Perez trong cuốn sách là một cuộc bàn luận phổ thông về những yếu tố cấu thành tài sản; nó được viết theo hệt phong cách của các tác phẩm khoa học từng được nhắc đến trước đó của ông.
Từ năm 1894 đến năm 1896, Perez liên tục cho phát hành những ấn phẩm mỏng dày khoảng ba mươi trang khổ lớn vào những khoảng thời gian không cố định. Chúng mang tên 'Những Chiếc Lá Ngày Lễ' ('Holiday Leaves'), và mỗi tập đều mang một cái tên đặc biệt thích hợp cho từng dịp lễ riêng biệt. Một phần nhất định của những ấn phẩm này bao gồm các câu chuyện và các cuộc bàn luận phù hợp với những dịp lễ mà chúng được viết ra, nhưng nhìn chung nội dung của chúng chẳng khác biệt là bao so với các ấn phẩm định kỳ của ông. Lại một lần nữa, Perez đóng góp phần lớn chất liệu. Các tác giả khác gồm có David Pinski, J. Goido, Solomon Grossglück, M. J. Freid — những người từng cộng tác cho các tạp chí thời kỳ đầu của ông. Hiển nhiên là họ noi theo người thầy của mình trong phương thức sáng tác tổng quát, dẫu chỉ đứng ở một khoảng cách đáng nể. Trong số đó, Freid đã viết một số bức họa phẩm xuất sắc về đời sống loài vật. Tác phẩm 'Mursa' của ông là câu chuyện về một cô chó vừa sinh ra bấy nhiêu chú cún con: — tình mẫu tử dành cho bầy con thơ, sự điên dại khi nó phát hiện ra lũ con bé bỏng của mình bị dìm chết và mất hút, cùng cái chết trong cơn ngạt thở. 'Caroline Đỏ, Một Cuốn Tiểu thuyết Về Đời Sống Loài Vật' ('Red Caroline, a Novel of Animal Life'), là một câu chuyện tương tự từ đời sống của một nàng bò. Chúng được kể lại rất khéo léo và bộc lộ tài năng của tác giả. Trong số những người còn lại, Pinski xứng đáng được nhắc đến đặc biệt, cả về số lượng lẫn chất lượng trong các sáng tác của anh. Hầu hết các bức họa phẩm của anh không vượt qua được mức trung bình, nhưng có một số tác phẩm xuất sắc ngang ngửa các tác phẩm của Spektor. Những sáng tác ưu tú nhất của anh mang tựa đề 'Những Kẻ Bị Áp Bức' ('The Oppressed'), trong đó phần đầu tiên xuất hiện trong tập 'Văn Học và Đời Sống'. Trong tác phẩm này, anh kể về sự bạo ngược do một chủ tiệm trút xuống đầu người nhân viên của mình, cùng sự nhút nhát của người cận vệ khốn khổ chỉ biết chắt chiu sự sống bằng cách làm việc cho gã từ lúc rạng đông cho đến tận đêm khuya từ đầu năm chí cuối. Tên chủ tiệm tàn bạo, gã nhân viên hèn nhát, bị đọa đày, cô con gái dũng cảm của gã thúc giục cha mình rời khỏi cửa hàng dẫu cho sự phản đối của tên chủ tiệm, khung cảnh trong ngôi nhà nơi người vợ vừa sinh hạ một đứa con, nơi chẳng có lấy một đồng xu để đốt lò sưởi hay mua thuốc men — tất cả những điều đó được phác họa một cách đầy kịch tính và tự nhiên. Goido bắt đầu cho ra mắt một chuỗi truyện ngắn tại Vilnius theo phong cách 'Những Chiếc Lá Ngày Lễ' của Perez, và chúng thu hút sự chú ý của Perez, người đã khích lệ anh trên con đường văn chương. Về sự nghiệp của anh tại châu Mỹ, chúng ta sẽ thấy anh được nhắc đến cụ thể hơn trong chương kế tiếp.
Sau sự sụp đổ tài chính của các tạp chí khác nhau ra đời từ năm 1887, chỉ có tờ Hausfreund của Spektor là còn đủ sức sống sót với một mức độ đều đặn nhất định. Tập cuối cùng của chuỗi này xuất hiện vào năm 1896, sau đó văn chương Judeo-German dường như bị kìm hãm hoàn toàn. Vẫn tiếp tục có những ấn phẩm xuất bản bởi các hội đoàn, nhưng tất cả chúng đều mang bản chất phục quốc Do Thái (Zionistic). Thật khó để tiên đoán tương lai của nền văn học này sẽ ra sao. Nhưng một khi đã kiến tạo nên một sự đa dạng phong phú các phong cách trong mười lăm năm qua, nó khó lòng tránh khỏi việc tiếp tục trình diễn những nét đặc trưng thú vị mà chúng ta vừa làm quen, trừ phi, quả thực, các tầng lớp trí thức từ bỏ địa hạt này để chuyển sang các ngôn ngữ châu Âu khác và giao phó nó cho tầng lớp nhà văn chỉ nhăm nhăm lấp đầy túi tiền thay vì màng đến phúc lợi của nhân dân. Khi ấy nó sẽ thụt lùi trở về chốn hỗn mang từng được dẫn dắt bởi Schaikewitsch và đồng bọn. Dù trong trường hợp nào đi nữa, nó cũng sẽ phản chiếu những hoàn cảnh từ bên ngoài; nó sẽ hưng thịnh tương ứng với mức độ người Do Thái bị áp bức bởi chính quyền và dư luận công chúng; nó sẽ biến mất khi các quyền lợi đầy đủ được ban phát cho họ. Điều sau cùng là thứ không thể trông mong trong bất kỳ tương lai gần nào có thể định lượng được, do đó văn học Judeo-German sẽ vẫn tiếp tục là một dị biệt tại Nga, Galicia và Romania trong một khoảng thời gian sắp tới.
Mặc dù nền văn học này đã đạt được những tầm vóc vô cùng vĩ đại và sản sinh ra khoảng hai mươi nhà văn xuất sắc hoặc hơn thế nữa, nó vẫn mãi là một ẩn số đối với đông đảo tầng lớp thượng lưu — những kẻ vẫn chưa hoàn toàn cắt đứt dây rốn với tiếng mẹ đẻ của họ. Họ tiếp tục nhìn thứ ngôn ngữ bình dân ấy bằng ánh mắt khinh miệt và qua đó gây ra muôn vàn khó khăn cho những ai cống hiến cuộc đời cho sứ mệnh phục vụ nhân dân nhằm tạo ra hiệu ứng mong muốn; bởi vì, một khi không thu nhận được sự ủng hộ từ những kẻ có tư tưởng đủ sức nặng lấn át quần chúng, bản thân quần chúng cũng trở nên dửng dưng phần nào. Một nhân tố bất hạnh khác trong tiến trình phát triển của nền văn học này chính là sự đố kỵ vặt vãnh của nhiều nhà văn, thứ đã hết lần này đến lần khác ngăn cản họ đoàn kết lại vì một hành động chung tay đồng lòng. Nếu bất chấp tất cả những điều đó, nó vẫn trụ vững được và vươn lên đạt đến độ hoàn mỹ như thế, tất cả là nhờ vào những nỗ lực phi thường, vô ngã vị tha và cao cả của Zederbaum, Spektor, Rabinowitsch và Perez. Xin muôn vàn vinh danh những con người ấy!