GỬI
ĐẠI SỨ DR. DRYASDUST, F.A.S.
Cư ngụ tại Castle-Gate, York.
Thưa Ngài rất kính mến và thân thiết,
Hầu như chẳng cần phải kể ra những lý do muôn hình muôn vẻ và trùng hợp đã xui khiến tôi đặt tên tuổi ngài lên đầu tác phẩm dưới đây. Thế nhưng, phần lớn những lý do ấy có lẽ sẽ bị bác bỏ bởi chính sự kém cỏi của tác phẩm. Giả sử tôi có thể hy vọng làm cho nó xứng đáng với sự bảo trợ của ngài, công chúng hẳn đã nhận ra ngay sự phải lẽ của việc đề tặng một tác phẩm vốn nhằm minh họa cho những cổ vật gia đình của nước Anh, và đặc biệt là của tổ tiên người Saxon chúng ta, cho vị học giả uyên bác tác giả của các bài tiểu luận về Chiếc tù và của Vua Ulphus, cùng về những vùng đất do ông ban tặng cho thánh địa của St. Peter. Tuy nhiên, tôi nhận thức rõ rằng cách thức hời hợt, kém thỏa đáng và vụn vặt mà kết quả của những nghiên cứu khảo cổ của tôi được ghi lại trong các trang sau đây, đã đẩy tác phẩm ra khỏi nhóm mang câu châm ngôn kiêu hãnh: “Detur digniori” (Hãy trao cho người xứng đáng). Ngược lại, tôi sợ rằng mình sẽ vướng phải lời quở trách vì sự mạn phép khi đặt cái tên đáng kính của Tiến sĩ Jonas Dryasdust lên đầu một ấn phẩm mà có lẽ những nhà khảo cổ nghiêm cẩn hơn sẽ xếp vào hàng những cuốn tiểu thuyết và truyện tình cảm vẩn vơ của thời đại. Tôi rất nóng lòng muốn thanh minh cho bản thân khỏi lời buộc tội ấy; bởi mặc dù tôi có thể trông cậy vào tình bạn của ngài để tìm kiếm sự bào chữa trước mắt ngài, nhưng tôi không đành lòng chịu nhận tội trước công chúng về một tội danh nghiêm trọng đến mức những nỗi sợ hãi đang dẫn dắt tôi tiên đoán trước rằng mình sẽ bị gán cho.
Do đó, tôi phải nhắc ngài nhớ rằng, khi chúng ta lần đầu cùng nhau thảo luận về thể loại tác phẩm mà trong đó chuyện đời tư và gia đình của người bạn phương bắc uyên bác của ngài, ông Oldbuck xứ Monkbarns, đã bị phơi bày một cách bất công trước công chúng, một cuộc tranh luận đã diễn ra giữa chúng ta về nguyên nhân dẫn đến sự nổi tiếng mà những tác phẩm này đạt được trong thời đại nhàn rỗi này. Dù chúng có công trạng gì đi nữa, thì cũng phải thừa nhận rằng chúng được viết một cách vội vã và vi phạm mọi quy tắc dành cho sử thi. Lúc đó, dường như ngài cho rằng sức hấp dẫn hoàn toàn nằm ở nghệ thuật mà tác giả vô danh đã tận dụng, giống như một M’Pherson thứ hai, những kho tàng khảo cổ nằm rải rác xung quanh ông ta, bù đắp cho sự lười biếng hoặc nghèo nàn trong sáng tạo của chính mình bằng những sự kiện thực tế đã diễn ra ở đất nước ông không lâu trước đó, bằng cách đưa vào những nhân vật có thật và hầu như không giấu giếm tên thật.
Bạn nhận xét rằng, mới chỉ sáu bảy mươi năm trước, toàn bộ miền bắc Scotland vẫn nằm dưới một thể chế cai trị gần như đơn giản và mang tính gia trưởng chẳng kém gì những đồng minh tốt bụng của chúng ta là người Mohawks và Iroquois. Thừa nhận rằng bản thân tác giả không thể được cho là đã chứng kiến những thời kỳ đó, ngài nhận xét rằng ông ta hẳn đã sống giữa những người từng hành động và chịu đựng trong đó; và ngay trong vòng ba mươi năm trở lại đây, một sự thay đổi vô tận đã diễn ra trong phong tục tập quán của Scotland, đến mức con người nhìn lại những lề thói xã hội vốn thuộc về tổ tiên trực hệ của họ chẳng khác nào chúng ta nhìn vào thời Nữ hoàng Anne, hay thậm chí là giai đoạn Cách mạng. Với vô số tư liệu đủ mọi thể loại nằm ngổn ngang xung quanh như vậy, ngài nhận xét, tác giả chẳng có mấy điều phải bối rối ngoài khó khăn trong việc lựa chọn. Do đó, chẳng có gì lạ khi bắt đầu khai thác một mỏ vàng dồi dào đến thế, ông ta đã thu về từ các tác phẩm của mình nhiều uy tín và lợi nhuận hơn mức mà sự dễ dãi trong công sức của ông ta đáng được hưởng.
Dù thừa nhận (như tôi không thể phủ nhận) tính đúng đắn chung của những kết luận này, tôi vẫn thấy lạ lùng khi chưa từng có nỗ lực nào nhằm khơi dậy sự quan tâm đến các truyền thuyết và phong tục của nước Anh Cổ, tương tự như những gì đã đạt được cho những láng giềng nghèo khó và ít tên tuổi hơn của chúng ta. Sắc xanh Kendal, dù có niên đại cổ xưa hơn, chắc chắn cũng phải đáng trân trọng trong tình cảm của chúng ta chẳng kém gì những tấm vải tartan sặc sỡ của phương bắc. Cái tên Robin Hood, nếu được triệu hồi đúng cách, hẳn sẽ khơi dậy một tinh thần chẳng kém gì Rob Roy; và các anh hùng dân tộc của Anh quốc cũng xứng đáng có được tiếng tăm trong giới hiện đại của chúng ta chẳng kém gì những người nhà Bruce và Wallace của Caledonia. Nếu phong cảnh miền nam ít lãng mạo và hùng vĩ hơn những ngọn núi phía bắc, thì cũng phải thừa nhận rằng nó sở hữu sự dịu dàng và vẻ đẹp vượt trội tương ứng; và suy cho cùng, chúng ta cảm thấy mình có quyền thốt lên cùng vị tổng đốc ái quốc người Syria rằng: “Pharphar và Abana, những con sông của Đám-mách, chẳng phải tốt hơn tất cả các sông của Y-sơ-ra-ên sao?”
Những phản đối của ngài đối với một nỗ lực như vậy, thưa Tiến sĩ kính yêu, như ngài có thể nhớ, gồm có hai mặt. Ngài nhấn mạnh những lợi thế mà người Scotland có được nhờ sự tồn tại rất gần đây của thể trạng xã hội nơi bối cảnh của ông ta được đặt vào. Nhiều người hiện còn sống, ngài nhận xét, vẫn nhớ rõ những người chưa từng chỉ nhìn thấy nhân vật lừng danh Roy M’Gregor, mà còn từng dự tiệc, thậm chí từng chiến đấu với ông ta. Tất cả những chi tiết vụn vặt thuộc về đời sống riêng tư và tính cách gia đình, tất cả những gì mang lại vẻ chân thực cho một câu chuyện, và nét cá tính riêng biệt cho các nhân vật được giới thiệu, vẫn được biết đến và ghi nhớ ở Scotland; trong khi ở Anh, nền văn minh đã hoàn thiện lâu đến mức những ý tưởng của chúng ta về tổ tiên chỉ có thể được nhặt nhạnh từ những hồ sơ và biên niên sử mốc thếch, mà các tác giả của chúng hình như lại cố ý đồng lõa với nhau nhằm kìm nén mọi chi tiết thú vị trong tường thuật của họ, cốt để nhường chỗ cho những bông hoa hùng biện theo kiểu tu viện, hay những suy ngẫm sáo rỗng về luân lý.
Ngài cho rằng, việc đặt một tác giả người Anh và một tác giả người Scotland lên bàn cân trong nhiệm vụ cạnh tranh là hiện thân hóa và hồi sinh những truyền thuyết của quốc gia tương ứng của họ, sẽ là điều vô cùng bất công và khập khiễng. Nhà ảo thuật người Scotland, ngài nói, cũng giống như phù thủy trong thơ của Lucan, được tự do bước đi trên bãi chiến trường hãy còn nóng hổi, và lựa chọn để làm sống lại bằng những phép thuật của mình một cái xác mà các chi hãy còn run rẩy sự sống, và cổ họng vừa mới thốt lên tiếng kêu thảm thiết cuối cùng. Ngay cả vị phù thủy quyền năng Erictho cũng buộc phải chọn một đối tượng như vậy, vì đó là kẻ duy nhất có khả năng được hồi sinh nhờ phép thuật hùng mạnh “của ả” —
——gelidas leto scrutata medullas,
Pulmonis rigidi stantes sine vulnere fibras
Invenit, et vocem defuncto in corpore quaerit.
Mặt khác, nhà văn người Anh, mà ta không thể cho là kém tài ảo thuật hơn Phù thủy phương Bắc, ngài nhận xét, chỉ có sự tự do lựa chọn đề tài giữa đống bụi bặm của thời cổ đại, nơi chẳng tìm thấy gì ngoài những khúc xương khô khốc, xốp mục, mủn ra và rời rạc, giống như những thứ lấp đầy thung lũng Jehoshaphat. Hơn thế nữa, ngài còn bày tỏ mối lo ngại rằng những thành kiến thiếu lòng yêu nước của đồng bào tôi sẽ không đối xử công bằng với một tác phẩm như loại mà tôi đang nỗ lực chứng minh khả năng thành công của nó. Và ngài bảo rằng, điều này không hoàn toàn do thành kiến chung nghiêng về những gì thuộc về ngoại quốc, mà một phần còn nằm ở những điểm vô lý phát sinh từ hoàn cảnh mà độc giả Anh đang đặt vào.
Nếu bạn miêu tả cho người ấy một tập hợp những phong tục hoang dã và một trạng thái xã hội nguyên thủy tồn tại ở Cao nguyên Scotland, người ấy rất sẵn lòng chấp nhận tính chân thực của những gì được khẳng định. Và lý do rất chính đáng. Nếu là một độc giả thuộc tầng lớp thông thường, hoặc là họ chưa bao giờ nhìn thấy những vùng đất hẻo lánh ấy, hoặc họ đã lang thang qua những vùng đất hoang vu đó trong một chuyến du ngoạn mùa hè, ăn những bữa cơm dở tệ, ngủ trên những chiếc giường tồi tàn, lê bước từ chốn hoang tàn này sang chốn hoang tàn khác, và hoàn toàn sẵn sàng tin vào những điều kỳ quái nhất có thể được kể cho nghe về một dân tộc đủ hoang dã và kỳ quặc để gắn bó với phong cảnh phi thường đến thế.
Nhưng cũng chính con người đáng kính ấy, khi ngồi trong phòng khách ấm cúng của mình, được vây quanh bởi mọi tiện nghi bên lò sưởi của một người Anh, lại chẳng hề dễ tin chút nào rằng tổ tiên của chính họ từng sống một cuộc đời rất khác với họ; rằng tòa tháp đổ nát, giờ đây tạo thành một khung cảnh nhìn từ cửa sổ nhà mình, đã từng là nơi ngự trị của một vị Nam tước sẵn sàng treo cổ ông ta ngay trước cửa nhà mà không cần qua bất kỳ thủ tục xét xử nào; rằng những tá nông dân đang quản lý trang trại nhỏ yêu thích của ông ta, vài thế kỷ trước đã từng là nô lệ của ông ta; và rằng toàn bộ ảnh hưởng của chế độ bạo tàn phong kiến từng bao trùm cả ngôi làng lân cận, nơi mà nay vị luật sư lại là người có vai trò quan trọng hơn cả lãnh chúa trang viên.
Trong khi thừa nhận sức nặng của những phản đối này, tôi đồng thời cũng phải thú nhận rằng chúng không hề tỏ ra là hoàn toàn không thể vượt qua. Sự khan hiếm của tư liệu quả thực là một khó khăn đáng gờm; nhưng chẳng ai hiểu rõ hơn Tiến sĩ Dryasdust rằng đối với những ai uyên bác về cổ vật, những gợi ý về đời sống riêng tư của tổ tiên chúng ta nằm rải rác qua các trang của nhiều nhà sử học khác nhau, quả thực chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ bé so với các vấn đề khác mà họ bàn đến, nhưng khi được thu thập lại, chúng vẫn đủ sức rọi chiếu ánh sáng đáng kể vào đời tư của cha ông chúng ta.
Thật vậy, tôi tin chắc rằng dù bản thân tôi có thể thất bại trong nỗ lực sắp tới, nhưng với nhiều công sức sưu tầm hơn, hoặc sự khéo léo hơn trong việc sử dụng các tư liệu trong tầm tay, được minh họa qua công sức của Tiến sĩ Henry, cố ông Strutt, và hơn hết là ông Sharon Turner, một bậc tài năng hơn hẳn chắc chắn đã gặt hái thành công; và do đó, tôi xin phản đối trước bất kỳ lập luận nào có thể được xây dựng dựa trên sự thất bại của thử nghiệm hiện tại.
Mặt khác, tôi đã nói rồi, nếu có thể phác họa một bức tranh chân thực về phong tục Anh cổ, tôi sẽ đặt trọn niềm tin vào bản tính lương thiện và sự sáng suốt của đồng bào mình để đảm bảo cho nó một sự đón nhận nồng nhiệt.
Sau khi đã trả lời hết sức có thể cho loại phản đối đầu tiên của ngài, hoặc ít nhất là đã cho thấy quyết tâm vượt qua những rào cản do sự thận trọng của ngài dựng lên, tôi xin phép được nói ngắn gọn về điều mang tính cá nhân hơn đối với riêng tôi. Dường như ngài có ý cho rằng chính cái nghề làm nhà khảo cổ, với công việc nghiên cứu nghiêm cẩn và, như những kẻ phàm phu đôi khi hay phàn nàn, đầy nhọc nhằn và tỉ mỉ, phải được xem là tước đi khả năng nhào nặn thành công một câu chuyện kiểu này.
Nhưng xin phép ngài, thưa Tiến sĩ kính yêu, phản đối này mang tính hình thức nhiều hơn là bản chất. Đúng là những sáng tác nhỏ bé như vậy có lẽ không phù hợp với cái gu nghiêm nghị hơn của người bạn chúng ta là ông Oldbuck. Thế nhưng Horace Walpole đã viết một câu chuyện ma quái từng làm rung động biết bao trái tim; và George Ellis có thể truyền tải toàn bộ vẻ quyến rũ đầy tao nhã của một khiếu hài hước vừa thú vị vừa hiếm có vào bản Tóm lược các Truyền thuyết Thơ ca Cổ đại của ông. Cho nên, dù tôi có thể có dịp phải hối hận vì sự táo bạo hiện tại của mình, thì ít nhất tôi cũng có những tiền lệ đáng kính nhất ủng hộ.
Tuy nhiên, nhà khảo cổ nghiêm cẩn hơn có thể cho rằng, bằng cách đan xen hư cấu với sự thật như thế này, tôi đang làm vấy bẩn dòng suối lịch sử bằng những phát minh hiện đại, và khắc sâu vào thế hệ trẻ những quan niệm sai lầm về thời đại mà tôi đang miêu tả. Tôi không thể không thừa nhận phần nào sức nặng của lý lẽ này, nhưng tôi vẫn hy vọng sẽ vượt qua nó bằng những cân nhắc sau đây.
Đúng là tôi không thể, và cũng không hề ra vẻ, tuân thủ sự chính xác tuyệt đối, ngay cả trong các vấn đề y phục bên ngoài, huống chi là ở những điểm quan trọng hơn về ngôn ngữ và phong tục. Nhưng chính động cơ ngăn cản tôi viết các đoạn đối thoại của tác phẩm bằng tiếng Anglo-Saxon hay tiếng Norman-French, và cấm tôi cho ra mắt ấn phẩm này được in bằng kiểu chữ của Caxton hay Wynken de Worde, cũng ngăn cản tôi nỗ lực tự giới hạn bản thân trong khuôn khổ thời kỳ mà câu chuyện của tôi diễn ra.
Để khơi gợi bất kỳ sự quan tâm nào, điều cần thiết là đề tài được chọn phải được, có thể nói như vậy, dịch sang cả phong tục lẫn ngôn ngữ của thời đại chúng ta đang sống. Chưa từng có sự hấp dẫn nào gắn liền với văn học phương Đông sánh được với sức hút do bản dịch đầu tiên của ông Galland về những Câu chuyện Ả Rập tạo ra; trong đó, một mặt giữ lại sự lộng lẫy của y phục phương Đông, mặt khác giữ lại sự hoang dã của tưởng tượng phương Đông, ông đã hòa trộn chúng với lượng cảm xúc và diễn đạt thông thường vừa đủ để làm cho chúng trở nên thú vị và dễ hiểu, đồng thời ông đã rút ngắn những câu chuyện lê thê, cắt bỏ những suy ngẫm đơn điệu và loại bỏ những sự lặp lại vô tận của nguyên tác tiếng Ả Rập.
Do đó, những câu chuyện này, dẫu kém phần thuần chất phương Đông hơn so với lần nhào nặn đầu tiên của chúng, lại vô cùng phù hợp hơn với thị trường châu Âu, và đã giành được một mức độ ưu ái chưa từng có từ công chúng, điều mà chắc chắn chúng sẽ không bao giờ đạt được nếu phong cách và tập quán không được làm cho quen thuộc phần nào với cảm nhận và thói quen của độc giả phương tây.
Do đó, để tỏ sự công bằng với đông đảo độc giả, những người tôi tin sẽ ngấu nghiến cuốn sách này với sự hào hứng, tôi đã giải thích phong tục cổ xưa của chúng ta bằng ngôn ngữ hiện đại, đồng thời diễn tả chi tiết tính cách và tâm tư của các nhân vật đến mức mà độc giả hiện đại, tôi hy vọng, sẽ không cảm thấy quá vướng víu bởi sự khô khan đáng sợ của thuần túy cổ đại. Trong việc này, tôi trân trọng tranh luận rằng tôi hoàn toàn không vượt quá giới hạn cho phép chính đáng dành cho tác giả của một tác phẩm hư cấu.
Cố ông Strutt tài hoa, trong cuốn tiểu thuyết Queen-Hoo-Hall của mình, đã hành động dựa trên một nguyên tắc khác; và khi phân biệt giữa cái gì là cổ xưa và hiện đại, ông đã quên mất, theo như tôi thấy, cái khoảng đất trung gian rộng lớn ấy, tức là tỷ trọng lớn lao của những phong tục và tâm tư vốn chung cho cả chúng ta lẫn tổ tiên, đã được truyền lại từ họ cho chúng ta một cách nguyên vẹn, hoặc nảy sinh từ các nguyên tắc của bản chất chung, hẳn phải tồn tại giống nhau trong bất kỳ thể trạng xã hội nào. Bằng cách này, một người có tài năng và uyên bác khảo cổ học lớn đã tự giới hạn sự phổ biến của tác phẩm mình, bằng cách loại bỏ khỏi đó mọi thứ không đủ lỗi thời để có thể bị lãng quên hoàn toàn và trở nên khó hiểu.
Sức tự do mà tôi muốn biện minh ở đây rất cần thiết cho việc thực hiện kế hoạch của mình, nên tôi sẽ xin sự kiên nhẫn của ngài khi giải thích thêm một chút về lập luận của mình.
Ai lần đầu mở cuốn Chaucer, hay bất kỳ nhà thơ cổ đại nào khác, đều cảm thấy kinh ngạc trước lối chính tả lỗi thời, các phụ âm nhân lên và vẻ bề ngoài cổ kính của ngôn ngữ, đến mức họ dễ dàng đặt cuốn sách xuống trong tuyệt vọng, vì cho rằng nó bị bám lớp gỉ của thời cổ đại quá sâu, không cho phép họ đánh giá được giá trị hay thưởng thức những nét đẹp của nó.
Nhưng nếu một người bạn thông thái và uyên bác chỉ cho họ thấy rằng những khó khăn khiến họ giật mình chủ yếu là vẻ bề ngoài chứ không phải thực chất, nếu bằng cách đọc lớn cho họ nghe, hoặc đưa các từ ngữ thông thường về phép chính tả hiện đại, người ấy thuyết phục được học trò của mình rằng chỉ có khoảng một phần mười số từ được sử dụng là thực sự lỗi thời, thì người mới bắt đầu ấy có thể dễ dàng được thuyết phục bước đến “dòng suối tiếng Anh trong trẻo nguyên sơ,” với sự chắc chắn rằng một chút kiên nhẫn cạn cợt sẽ giúp họ tận hưởng được cả sự hài hước lẫn nỗi bi ai từng làm say đắm thời đại Cressy và Poictiers của vị danh nhân Geoffrey già dặn.
Để bàn sâu hơn một chút về điều này. Nếu người học đạo của chúng ta, tràn đầy tình yêu mới mẻ với cổ vật, tiến hành bắt chước những gì anh ta đã học cách ngưỡng mộ, thì phải thừa nhận rằng anh ta sẽ hành động rất thiếu khôn ngoan nếu chọn từ Bảng thuật ngữ những từ lỗi thời có trong đó, và sử dụng chúng một cách độc quyền thay cho mọi cụm từ và từ vựng vẫn được giữ lại trong thời hiện đại.
Đó chính là sai lầm của kẻ bất hạnh Chatterton. Để mang lại vẻ cổ kính cho ngôn ngữ của mình, anh ta đã loại bỏ mọi từ ngữ hiện đại, và tạo ra một thứ phương ngữ hoàn toàn khác biệt với bất kỳ thứ tiếng nào từng được nói ở Vương quốc Anh. Ai muốn bắt chước một ngôn ngữ cổ xưa thành công thì phải chú ý nhiều hơn đến đặc điểm ngữ pháp, khúc thức diễn đạt và cách sắp xếp của nó, hơn là nhọc công sưu tầm những thuật ngữ kỳ lạ và cổ kính vốn, như tôi đã khẳng định, không hề tiệm cận với số lượng từ vẫn còn đang được sử dụng trong các tác giả cổ đại — dẫu có phần nào thay đổi về ý nghĩa và cách đánh vần — theo tỷ lệ một trên mười.
Những gì tôi áp dụng cho ngôn ngữ thậm chí còn đúng hơn khi áp dụng cho tâm tư và phong tục. Những cảm xúc, cội nguồn từ đó chúng phải nảy nở trong mọi biến thể của chúng, nhìn chung đều giống nhau ở mọi tầng lớp và điều kiện, mọi quốc gia và thời đại; và điều đó dẫn đến một cách tất nhiên rằng các quan điểm, thói quen suy nghĩ và hành động, dù bị ảnh hưởng bởi thể trạng xã hội đặc thù đến đâu, nhìn chung vẫn phải mang lại sự tương đồng mạnh mẽ với nhau.
Tổ tiên chúng ta chắc chắn không khác biệt với chúng ta hơn người Do Thái khác với người Cơ Đốc giáo; họ cũng có “mắt, tay, cơ quan, kích thước, giác quan, tình cảm, đam mê;” cũng được “nuôi dưỡng bằng cùng thứ thức ăn, bị tổn thương bởi cùng thứ vũ khí, chịu chung những căn bệnh, được sưởi ấm và làm mát bởi cùng mùa đông và mùa hè” như chúng ta. Do đó, xu hướng của tình cảm và cảm xúc của họ hẳn phải mang tỷ lệ chung tương đương với của chính chúng ta.
Do đó, từ những tư liệu mà một tác giả phải sử dụng trong một cuốn tiểu thuyết, hay một tác phẩm hư cấu như tôi đã cả gan thử sức, ông ta sẽ thấy rằng một tỷ lệ lớn, cả về ngôn ngữ lẫn phong tục, đều thích hợp với thời hiện đại chẳng kém gì thời đại mà ông ta chọn làm bối cảnh hành động. Sự tự do lựa chọn mà điều này mang lại cho ông ta do đó lớn hơn rất nhiều, và khó khăn trong nhiệm vụ của ông ta bị giảm bớt đi nhiều so với vẻ bề ngoài ban đầu.
Lấy một minh họa từ một bộ môn nghệ thuật chị em, các chi tiết khảo cổ học có thể được coi là đại diện cho các đặc điểm riêng biệt của một bức phong cảnh dưới ngòi bút vẽ. Tháp phong kiến của ông ta phải sừng sững uy nghi; các hình tượng ông ta đưa ra phải có y phục và tính cách của thời đại họ; tác phẩm phải thể hiện các đặc điểm riêng biệt của khung cảnh mà ông ta đã chọn làm đề tài, với tất cả độ cao thích hợp của vách đá, hay dòng thác đổ ào ạt. Màu sắc chung của ông ta cũng phải được sao chép từ Tự nhiên: Bầu trời phải u ám hoặc quang đãng tùy theo khí hậu, và các tông màu chung phải là những sắc thái chiếm ưu thế trong một phong cảnh tự nhiên.
Đến mức đó, người họa sĩ bị ràng buộc bởi các quy tắc nghệ thuật của mình vào một sự bắt chước chính xác các đặc điểm của Tự nhiên; nhưng người ta không yêu cầu ông phải hạ mình sao chép tất cả các chi tiết nhỏ nhặt nhất của nó, hay thể hiện với độ chính xác tuyệt đối từng loại cỏ, hoa, cây cối tô điểm cho chốn đó. Những điều này, cũng như tất cả các điểm sáng tối nhỏ nhặt hơn, là những thuộc tính thích hợp của phong cảnh nói chung, tự nhiên đối với từng hoàn cảnh, và tùy thuộc vào sự định đoạt của người nghệ sĩ theo gu thẩm mỹ hoặc sở thích của ông ta.
Đúng là sự tự do này trong cả hai trường hợp đều bị giới hạn trong các biên giới hợp pháp. Người họa sĩ không được đưa vào bất kỳ vật trang trí nào mâu thuẫn với khí hậu hoặc đất nước trong phong cảnh của mình; ông ta không được trồng cây bách trên đảo Inch-Merrin, hay thông Scotland giữa những tàn tích của Persepolis; và tác giả cũng chịu một sự kiềm chế tương ứng.
Dù có mạo hiểm đi xa đến đâu trong việc miêu tả chi tiết hơn về các cảm xúc và tâm tư so với những gì được tìm thấy trong các tác phẩm cổ đại mà ông ta bắt chước, ông ta không được đưa vào bất kỳ điều gì mâu thuẫn với phong tục của thời đại; các hiệp sĩ, cận vệ, người hầu và nông dân của ông ta có thể được phác họa đầy đủ hơn so với những đường nét cứng nhắc, khô khan trong một bản thảo viết tay được minh họa cổ xưa, nhưng tính cách và y phục của thời đại phải được giữ gìn nguyên vẹn; chúng vẫn phải là những nhân vật đó, được vẽ bằng một cây bút tốt hơn, hay nói một cách khiêm tốn hơn, được thực hiện trong một thời đại mà các nguyên tắc nghệ thuật được thấu hiểu tốt hơn.
Ngôn ngữ của ông ta không được hoàn toàn lỗi thời và khó hiểu; nhưng nếu có thể, ông ta không nên dung nạp bất kỳ từ ngữ hay khúc thức diễn đạt nào phản bội nguồn gốc hoàn toàn hiện đại. Sử dụng ngôn ngữ và tâm tư vốn chung cho cả chúng ta lẫn cha ông là một chuyện, còn việc khoác lên mình họ những tâm tư và phương ngữ chỉ thuộc về hậu duệ của họ lại là chuyện hoàn toàn khác.
Thưa người bạn thân mến, tôi đã thấy đây là phần khó khăn nhất trong nhiệm vụ của mình; và thành thật mà nói, tôi hầu như không hy vọng làm hài lòng phán đoán ít thiên vị hơn và kiến thức uyên bác hơn của ngài về những chủ đề như vậy, vì bản thân tôi còn chả suôn sẻ làm hài lòng chính mình.
Tôi ý thức được rằng mình sẽ càng bị coi là thiếu sót hơn nữa trong tông điệu hòa hợp và y phục bởi những ai sẵn sàng săm soi khắt khe Câu chuyện của tôi, chiếu theo phong tục của đúng thời đại mà các nhân vật của tôi sinh sống; có thể là tôi đã đưa vào rất ít yếu tố có thể gọi một cách dứt khoát là hiện đại; nhưng mặt khác, rất có thể tôi đã làm lẫn lộn phong tục của hai hoặc ba thế kỷ, và đưa vào, dưới triều đại của Richard Đệ nhất, những tình tiết vốn thuộc về một thời kỳ sớm hơn đáng kể hoặc muộn hơn khá nhiều so với kỷ nguyên đó.
Niềm an ủi của tôi là những sai lầm kiểu này sẽ lọt qua mắt tầng lớp độc giả thông thường, và tôi có thể chia sẻ lời ca ngợi không đáng có với những kiến trúc sư, những người trong phong cách Gothic hiện đại của họ, không ngần ngại đưa vào, không theo quy tắc hay phương pháp nào, những đồ trang trí thích hợp cho các phong cách khác nhau và các thời kỳ khác nhau của nghệ thuật. Những ai có nghiên cứu uyên bác trao cho họ phương tiện phán xét những lầm lỗi của tôi một cách nghiêm khắc hơn có lẽ sẽ khoan dung tương ứng với sự hiểu biết của họ về độ khó khăn trong nhiệm vụ của tôi.
Người bạn chân thành nhưng bị lãng quên của tôi, Ingulphus, đã cung cấp cho tôi vô số gợi ý quý giá; nhưng ánh sáng được ban phát bởi Thầy tu xứ Croydon và Geoffrey de Vinsauff lại bị lu mờ bởi một sự hỗn độn gồm toàn những chất liệu kém thú vị và khó hiểu đến mức chúng ta vui mừng chạy trốn tìm kiếm sự giải thoát nơi các trang sách thú vị của vị danh nhân quả cảm Froissart, mặc dù ông sinh sống vào một thời kỳ xa xôi hơn rất nhiều so với niên đại trong lịch sử của tôi.
Do đó, thưa người bạn thân mến, nếu ngài có đủ sự rộng lượng để tha thứ cho nỗ lực kiêu ngạo nhằm tự chế tác cho mình một chiếc vương miện ca sĩ giang hồ, một phần từ những viên ngọc trai cổ kính tinh tuyết, và một phần từ những viên đá Bristol cùng thủy tinh nhân tạo mà tôi đã cố gắng dùng để bắt chước chúng, tôi tin chắc rằng quan điểm của ngài về độ khó của nhiệm vụ sẽ khiến ngài hòa giải với phương thức thực hiện còn nhiều thiếu sót của nó.
Về các tư liệu của mình, tôi chỉ có rất ít điều để nói. Chúng chủ yếu có thể được tìm thấy trong bản thảo Anglo-Norman độc đáo mà Sir Arthur Wardour gìn giữ bằng sự cẩn trọng ghen tị trong ngăn kéo thứ ba của chiếc tủ gỗ sồi của ông, hầu như không cho phép bất kỳ ai chạm vào nó, và bản thân ông cũng không thể đọc nổi một âm tiết nào trong nội dung của nó.
Tôi sẽ không bao giờ nhận được sự đồng ý của ông, trong chuyến ghé thăm Scotland của mình, để đọc những trang quý giá đó trong nhiều giờ liền, nếu tôi không hứa sẽ định danh nó bằng một hình thức in ấn đầy ấn tượng, với tên gọi {Bản thảo Wardour}; qua đó trao cho nó một cá tính quan trọng không kém gì Bản thảo Bannatyne, Bản thảo Auchinleck, và bất kỳ di tích nào khác thể hiện sự kiên nhẫn của một tay thư lại thời Gothic.
Tôi đã gửi để ngài xem xét riêng một danh mục các nội dung của tác phẩm kỳ thú này, mà có lẽ tôi sẽ đính kèm, với sự đồng thuận của ngài, vào tập thứ ba của Câu chuyện của tôi, trong trường hợp con quỷ nhà in vẫn tiếp tục sốt ruột đòi bản thảo khi toàn bộ tường thuật của tôi đã được xếp chữ xong.
Vĩnh biệt, người bạn thân mến; tôi đã nói đủ để giải thích, nếu không muốn nói là biện minh, cho nỗ lực mà tôi đã thực hiện, và bất chấp những ngờ vực của ngài cùng sự bất tài của chính mình, tôi vẫn sẵn lòng tin rằng nó không hoàn toàn trôi qua vô ích.
Tôi hy vọng ngài giờ đây đã hoàn toàn bình phục sau cơn gót chân mùa xuân của bệnh gút, và sẽ rất vui mừng nếu lời khuyên của vị bác sĩ uyên bác của ngài đề xuất một chuyến du ngoạn đến những vùng này.
Nhiều cổ vật gần đây đã được đào lên gần bức tường, cũng như tại trạm cổ Habitancum. Nhân nói về điều sau, tôi đoán là từ lâu ngài đã nghe tin tức rằng một kẻ thô lỗ cộc cằn cục mịch đã phá hủy bức tượng cổ, hay đúng hơn là bức phù điêu, thường được gọi là Robin xứ Redesdale.
Dường như danh tiếng của Robin đã thu hút nhiều du khách hơn mức tương thích với sự phát triển của thảm thạch thảo, trên một vùng hoang mạc vốn chỉ đáng giá một shilling mỗi mẫu đất. Dù mang danh vị mục sư, xin ngài hãy trả thù một lần cho phải phép, và hãy cầu nguyện cùng tôi để kẻ đó phải hứng chịu một cơn sỏi thận như thể hắn gom toàn bộ các mảnh vỡ của tội nghiệp Robin vào vùng nội tạng nơi căn cứ địa của chứng bệnh này.
Đừng kể điều này ở Gath, kẻo người Scotland lại vui mừng vì cuối cùng họ đã tìm thấy một trường hợp tương tự trong số các láng giềng của mình, sánh với hành động dã man từng phá hủy Lò nung của Arthur. Nhưng sẽ chẳng có hồi kết cho những lời than khóc, một khi chúng ta dấn thân vào những chủ đề như thế.
Xin gửi những lời chào trân trọng nhất của tôi đến cô Dryasdust; tôi đã cố gắng tìm mua đôi kính phù hợp với ủy thác của cô trong chuyến đi gần đây tới Luân Đôn, và hy vọng cô đã nhận được chúng an toàn và thấy hài lòng.
Tôi gửi thư này qua người đưa thư mù, thế nên có lẽ nó sẽ mất một khoảng thời gian trên đường đi. 6
Tin tức cuối cùng tôi nhận được từ Edinburgh là quý ông đang đảm nhận chức vụ Thư ký Hội Khảo cổ học Scotland 7 là người vẽ bản thảo nghiệp dư giỏi nhất ở vương quốc đó, và người ta đặt nhiều kỳ vọng vào kỹ năng cùng lòng nhiệt thành của ông trong việc phác họa những mẫu vật cổ xưa quốc gia vốn đang mòn mỏi dưới nhịp chạm khẽ khàng của thời gian, hoặc bị cuốn phăng đi bởi gu thẩm mỹ hiện đại, với cùng cây chổi hủy diệt mà John Knox từng sử dụng thời Cải cách.
Lần nữa xin vĩnh biệt; “vale tandem, non immemor mei” (mong ngài cuối cùng được bình an, chớ quên tôi).
Hãy tin tôi là,
Thưa Ngài Mục sư rất thân mến,
Đầy tớ trung thành và khiêm nhường nhất của ngài.
Laurence Templeton.
Toppingwold, gần Egremont, Cumberland, Ngày 17 tháng 11 năm 1817.