Mùa hạ, Tôn Tẫn cuối cùng cũng đến Hàm Dương.
Thành quách Hàm Dương dưới ánh chiều tà mới tráng lệ làm sao, tựa lưng vào dãy Bắc Phản hùng vĩ, mặt hướng ra dòng Vị Kiến Thuỷ cuồn cuộn. Một cây cầu đá trắng khoác lên mình ánh chiều vàng đỏ vắt ngang mặt nước, trông như cầu vồng nằm trên sóng, lầu thành nguy nga rợp bóng cờ xí vẫy vùng từ xa đối diện với dãy Nam Sơn xanh thẳm, khí thế vô cùng hoành tráng. Tôn Tẫn dừng xe đứng ngắm một hồi lâu, trong lòng không khỏi vô cùng cảm thán — người ta vẫn nói thành cao hào sâu, thiên hạ chắc chắn không đâu ngoài Hàm Dương này!
Đánh xe lên cầu dài, chỉ thấy trên mặt cầu có hai vạch đen to bản phân định rõ ràng. Xe ngựa đi giữa, người đi hai bên, trật tự đâu vào đấy theo làn đường riêng tiến vào trong thành. Phóng tầm mắt nhìn ra, trên các ô chắn của mười dặm tường thành treo kín đèn lồng, khi màn đêm buông xuống bừng sáng lên như một con rồng lửa, soi sáng rực rỡ một góc dưới thành, hệt như một thành phố không bao giờ ngủ. Nhưng điều khiến Tôn Tẫn kinh ngạc nhất là cửa thành Hàm Dương không có cầu treo, đại cầu Vị Thu lại thông thẳng tới con đường cái quan rộng rãi ẩn mình dưới hàng liễu rủ để dẫn thẳng tới cửa thành! Dưới cửa thành cũng không có quân canh gác, mà chỉ có hai hàng môn lại mang gươm đang tiếp đón xe cộ công vụ. Người đi đường bình thường không cần tra xét, cứ thế trực tiếp tiến vào thành, ở thời chiến tranh loạn lạc này, quả thực là chuyện khó tin!
Bước vào trong thành, lúc này đèn đóm vừa chói lọi. Chỉ thấy hai bên đường lớn rộng rãi, cứ cách mười mấy bước lại có một cây cổ thụ, bóng râm ngợp đường, mát mẻ vô cùng. Tất cả các cơ quan công quyền, nhà dân, cửa tiệm đều ẩn mình sau những con đường lát đá phía sau hàng cây, xe cộ giữa phố lưu thông thông suốt không vướng bận. Nhưng điều khiến Tôn Tẫn bất ngờ nhất vẫn là sự sạch sẽ ngăn nắp của Hàm Dương — xe ngựa lộc cộc, nhưng khắp phố không thấy một giọt phân ngựa phân bò! Khói bếp lượn lờ, bên đường lại chẳng có một đống tro tàn nào tích tụ! Một đô thị lớn nhường ấy mà lại phảng phảt hương thơm tươi mát của cỏ cây, khiến lòng người sảng khoái vô cùng.
Trong mắt các sĩ tử Trung Nguyên, những đại đô lớn trong thiên hạ ngày nay không gì bằng bốn thành lớn Đại Lương, Lâm Tư, An Ấp, Lạc Dương. Lạc Dương thì khỏi phải bàn, lớn thì lớn thật, nhưng sự già nua cũ kỹ cùng vẻ tiêu điều xơ xác của nó thì từ lâu đã không còn dám nhắc tới nữa. An Ấp là cố đô nước Ngụy, sự phồn hoa gấm vóc thì có đấy, thế nhưng dẫu sao cũng là đô thị vùng biên được mở rộng, bố cục chật hẹp chồng chéo, khiến chẳng ai dám khen ngợi. Tân đô Đại Lương, vương thành được quy hoạch rất có khí thế, sự phồn hoa thương mại của nó cũng có thể coi là bậc nhất thiên hạ, nhưng phố xá hỗn độn, thường xuyên thấy tạp vật và tro cỏ vứt bừa bãi khắp nơi, dưới chân cũng hay gặp phân ngựa phân bò, rất là chướng mắt. Lâm Tư phất lên từ mấy chục năm nay, chợ búa nước Tề đã được mệnh danh là "đại thị trấn số một thiên hạ", sự phồn hoa đông đúc của khu chợ này từng khiến Tôn Tẫn kinh ngạc không thôi. Khi du ngoạn nước Tề trở về, hắn từng nói với thầy của mình rằng: biển người ở chợ Tề có thể "tay áo kết thành mành, vung tay đổ mồ hôi". Người thầy đã bị những lời miêu tả sinh động của Tôn Tẫn làm cho cười lớn không ngừng. Thế nhưng, Lâm Tư ngoại trừ Túc Hạ học cung và vương thành có rừng cây che phủ khá trang nghiêm ra, thì phố xá lại chật hẹp ngoằn ngoèo, hoàn toàn không có cây xanh, hoa cỏ lại càng cực kỳ ít ỏi; hai mùa đông xuân, đường phố trơ trọi thường xuyên có gió cát lớn; mùa hạ mùa thu oi bức, dưới cái nắng gay gắt khó mà tìm được một bóng râm, tuy thỉnh thoảng có gió biển, nhưng cũng khiến người ta bức bối khó chịu.
So sánh ra mà nói, Hàm Dương quả thực không chê vào đâu được! Nơi địa thế hiểm yếu, khí hậu dễ chịu, trang nghiêm ngăn nắp, phồn hoa có trật tự, mang một phong thái của một đại quốc. Sĩ tử miền Đông đều bảo người Tần ngu muội bẩn thỉu, ngủ giường sưởi khói ám làm răng vàng khè, quần áo bẩn chấy rận bò lúc nhúc, trên đường phố phân bò khắp nơi. Lúc lên đường, đại tẩu còn đặc biệt nhét cho Tôn Tẫn một gói bột thảo dược, vừa cười vừa dặn dò hắn: khi gặp người Tần, hãy rắc bột thảo dược lên cổ áo để phòng ngừa chấy rận của người Tần bò khắp người! Thế nhưng khi đặt chân vào phố xá Hàm Dương, người đi đường chỉnh tề, đường sá sạch sẽ, rõ ràng là tươi mát hơn nhiều so với các đại đô thị của Sáu nước miền Đông. Khoảnh khắc ấy, Tôn Tẫn cảm nhận một cách chân thực sự thay đổi trời lạch đất của chốn chiến quốc miền Tây này, tựa hồ như nhìn thấy một ngọn núi lớn đang cuồn cuộn bốc lên giữa đại dương, đang vươn mình trỗi dậy giữa muôn trùng sóng dữ!
"Tiên sinh, trọ điếm chứ? Dạo phố không được đỗ xe đâu."
Tôn Tẫn quay đầu lại, chỉ thấy một người phụ nữ trung niên đang đứng phía sau, tóc dài áo đen, gương mặt nở đầy nụ cười tươi tắn.
Tôn Tẫn ngẩn người chắp tay: "Dám hỏi đại tỷ, đây là phố nào? Cách cung thành bao xa?"
"Trường Dương Nhai. Đi thẳng đến cuối đường, rẽ đông một tầm tên bắn là tới cung thành, gần lắm đấy." Người phụ nữ vừa khoa tay vừa cười đáp.
"Nếu vậy, ta sẽ trọ ở quán của ngươi." Tôn Tẫn sảng khoái nhận lời.
"Vinh hạnh cho tiểu điếm. Tiên sinh đứng tránh ra, để ta đánh xe cho." Người phụ nữ đón lấy dây cương từ tay Tôn Tẫn, thuần thục hô lên một tiếng "vù", rồi vung nhẹ dây cương, chiếc xe hai bánh liền lượn sang trái, rẽ vào một cánh cổng gỗ nằm trên lối đi bộ phía sau hàng cây lớn. Người phụ nữ quất một tiếng roi lanh lảnh, hai cánh cổng gỗ liền kêu kẽo kẹt mở ra, xe nhẹ nhàng lăn bánh đi vào. Người phụ nữ quay người bước ra cười nói: "Tiên sinh xin mời đi lối này vào quán. Hành lý trên xe tự có người đưa vào phòng, không phải lo lắng đâu." Vừa nói, nàng ta vừa dẫn Tôn Tẫn đi đến cửa chính của khách sạn.
Tôn Tẫn lúc nãy mải ngắm phố xá nên không để ý đến khách sạn này, đến khi đến gần quan sát mới thấy trên chiếc đèn lồng trước cửa khách sạn có viết rõ những chữ lớn — Lịch Dương Khách Du! Dưới ánh đèn đường, có thể thấy ba gian cửa chính rộng mở, tấm bình phong đối diện đã che khuất tầm nhìn từ bên ngoài. Trước cửa nghiêm trang đứng hai tên gia nhân áo đen, cung kính cúi mình chào khách.
Tôn Tẫn chợt hiểu ra: "Đây là khách sạn do người Tần gốc Lịch Dương mở à?"
Người phụ nữ cười tủm tỉm đáp: "Tiên sinh tinh mắt thật. Khách sạn này chính là quán cũ ở Lịch Dương, cùng dời chuyển với quốc phủ đấy."
Tôn Tẫn gật đầu cười: "Khách sạn có mặt tiền thế này, ở Đại Lương hay Lâm Tư cũng không coi là xoàng xĩnh đâu."
Người phụ nữ lại cười nhạt: "Người Tần thật thà, không coi trọng mặt tiền. Tiên sinh cứ mời vào trong, xem sự thoải mái bên trong thế nào đã."
Vòng qua tấm bình phong là một khoảng sân lớn, hai hàng liễu rủ, một nhúm rừng trúc xen kẽ vài chiếc bàn đá ghế đá, rất mộc mạc và tĩnh lặng. Đi xuyên qua con đường nhỏ lát sỏi bên rừng trúc, đập vào mắt là hai tòa cổng đá xanh không có cánh cửa, trước cửa đèn lồng treo cao, mỗi bên cửa đều đứng ngay ngắn hai thiếu nữ. Đèn lồng bên trái viết dòng chữ lớn "Vô Ưu Viên", đèn lồng bên phải viết dòng chữ lớn "Thiên Lạc Đường".
Tôn Tẫn dừng bước cười hỏi: "Vô Ưu với Thiên Lạc này có ý nghĩa gì thế?"
Người phụ nữ cười đáp: "Vô Ưu Viên là nơi ở của quý khách, để gối cao ngủ kỹ không phải lo nghĩ mà. Thiên Lạc Đường là nơi ăn uống tiệc tùng. Bậc thầy nào đã nói nhỉ? Dân lấy ăn làm trời mà."
Tôn Tẫn không khỏi cười lớn tán thán: "Hay! Đều có điển tích cả, thật hiếm có! Bố cục thế này, ở Trung Nguyên cũng một chín một mười với nhà trạm của quốc phủ rồi. Ở Hàm Dương, chắc chắn là đứng đầu bảng chứ nhỉ?"
Người phụ nữ cười khúc khích không ngừng: "Tiên sinh quá khen rồi! Khách sạn của ta xếp đến vị trí thứ mười còn chưa tới nữa là, dám nhận đứng đầu bảng sao?"
"Ồ? Thế quán nào đứng đầu?" Tôn Tẫn không khỏi vô cùng kinh ngạc.
Người phụ nữ đáp: "Đương nhiên là Vị Phong Cổ Du rồi. Quán cũ của họ Bạch nước Ngụy ở Lịch Dương, dời sang Hàm Dương, bị người Tần mua lại rồi. Mười vàng một ngày, nếu tiên sinh muốn ở, ta sẽ dẫn ngài sang đó."
“Mười vàng một ngày?” Tôn Tẫn trong lòng nghi ngờ khó hiểu, nhưng ngoài miệng lại cười nói: “Người Tần làm thương nghiệp đúng là kỳ lạ, lại đi đẩy khách sang nhà khác sao?”
“May đo theo vóc dáng, chỉ mong quý khách hài lòng thôi.” Người phụ nữ cười rạng rỡ: “Vị Phong Cổ Du phần lớn khách trọ là thương nhân, còn Lịch Dương Khách Du của ta phần lớn khách trọ là sĩ tử. Ta thấy xe ngựa của tiên sinh thanh cao cổ nhã, chắc chắn là sĩ tử du học mới đến Hàm Dương, nếu không, ta đã không dám ngỏ lời mời.”
Tôn Tẫn nhìn người phụ nữ buôn bán trong bóng đèn mờ ảo ấy, bỗng sinh lòng thiện cảm lớn với sự tinh ranh của nàng, bắp tay chắp lại nói: “Đa tạ phu nhân chỉ điểm, ta sẽ trọ ở đây vậy, chỉ có điều ngày tháng chưa thể xác định được.” “Ối giời, phu nhân gì chứ? Không dám nhận đâu, cứ gọi ta là đại tỷ đi.” Giọng điệu thân thiết của người phụ nữ tựa như người nhà người thân vậy: “Cần gì ngày tháng định kỳ? Đã ra cửa đi xa, việc đời đâu phải do người tính được đâu. Tiên sinh mời.”
Bước vào trong Vô Ưu Viên, Tôn Tẫn lại một lần nữa cảm nhận được một sự mới lạ độc đáo. Những khách sạn hạng nhất ở các thành lớn Trung Nguyên thông thường đều là các dãy sảnh phòng liên tiếp, tu sửa hoa lệ lộng lẫy, hoàn toàn không thể có không gian trống hay non nước. Nơi đây lại là một khoảng sân rộng lớn, ẩn hiện giữa rừng trúc và bãi cỏ là những dãy nhà nhỏ, nhìn vào ban đêm, đốm đèn lấp lánh, tiếng người thấp thoáng, hệt như một thung lũng tĩnh lặng. Trong phút chốc, Tôn Tẫn dường như trở về trang viên họ Tôn ở vùng ngoại ô Lạc Dương, cảm giác thân thuộc nhân lên gấp bội. Người phụ nữ dẫn hắn đến trước một ngôi nhà được bao bọc bởi rừng trúc, Tôn Tẫn nhờ ánh đèn lồng trước nhà nhìn thấy chính giữa hiên cửa có viết ba chữ lớn “Tu Tiết Cư”, không khỏi vô cùng tán thán: “Tu tiết minh chí! Quả là một nơi ở tuyệt vời!”
Người phụ nữ thấy Tôn Tẫn vui mừng, mỉm cười dịu dàng nói: “Hồi mùa xuân có một vị tiên sinh ở đây, chính là do ngài ấy đặt tên đấy.”
“Ồ? Vị đó tôn tính đại danh là gì?”
“Tên nghe lạ lắm, hình như là… phải rồi, Tê Ngưu? Không đúng, Tê — Thủ.”
“Tê Thủ?” Tôn Tẫn khá kinh ngạc: “Họ Công Sơn? Người nước Ngụy à?”
Người phụ nữ áy náy lắc đầu: “Để ta nghĩ lại xem.”
Tôn Tẫn lại cười: “Thôi khỏi, ngươi không nhớ ra được đâu, ngài ấy có nói đâu.” Nói xong liền bước vào hiên cửa. Người phụ nữ lại lanh lẹ vòng ra phía trước cất cao giọng: “Kình Tam Nhi, tiếp khách quý kìa.” Dứt lời, một thiếu niên chân chất gọn gàng xách đèn lồng từ trong nhà bước ra, cúi gập người chào Tôn Tẫn: “Kình Tam Nhi hầu hạ tiên sinh. Mời.” Người phụ nữ nhanh nhảu dặn dò: “Ngươi hãy hầu hạ tiên sinh vào ở đi. Ta đi bảo người mang hành lý của tiên sinh tới.” Đợi thiếu niên vâng lời xong, người phụ nữ lại mỉm cười với Tôn Tẫn: “Tiên sinh nghỉ ngơi cho khỏe, ta đi trước đây.” Nói rồi bước đi uyển chuyển với những bước chân nhỏ xíu.
Ngôi nhà độc lập này gồm ba gian hai lớp, khá rộng rãi. Sảnh giữa ngăn cách, tạo thành hai khu vực sinh sống. Thiếu niên dẫn Tôn Tẫn đến khu vực phía đông mở cửa ra, cung kính nói: “Tiên sinh xem có vừa ý không? Không vừa ý có thể đổi phòng khác đấy.” Tôn Tẫn vốn không định đổi phòng, nhưng nghe thiếu niên nói vậy, trong lòng cũng muốn xem thử “Tu Tiết Cư” mà vị Tê Thủ từng ở rốt cuộc ra sao? Ngước mắt đánh giá, đập vào mắt chính là một phòng khách lớn, trải thảm đỏ, bài trí gọn gàng. Điều khiến người ta hài lòng nhất là trên bức tường phía đông trổ hai ô cửa sổ lớn, khung cửa được căng giấy trắng nẹp rất phẳng phiu, ban ngày nhất định sẽ vô cùng sáng sủa. Góc đông nam phòng khách có một tấm bình phong gỗ màu đen, vòng qua phía sau hóa ra là một thư phòng nhỏ tinh xảo! Hai bên đều là giá sách bằng gỗ mun, rất cao và vững chãi. Trên chiếc bàn dài ngoài bút mực nghiên mực thường dùng, lại còn có cả dao khắc và một hộp thẻ tre đơn! Vòng qua góc bình phong bằng gỗ là phòng ngủ. Ở giữa là một chiếc giường nằm cực lớn treo một bức màn vải mộc mạc, các bức tường xung quanh được quét bột trắng phẳng phiu chắc chắn càng làm cho căn phòng thêm phần trắng trẻo sáng sủa không một hạt bụi.
“Ồ? Sao chỉ có phòng ngủ được làm tường trắng thế?” Tôn Tẫn hỏi.
“Dạ thưa tiên sinh, phòng ngủ cần sự tĩnh lặng, không có cửa sổ, tường trắng sẽ có thêm ánh sáng.” Thiếu niên cung kính đáp.
Tôn Tẫn gật đầu, thầm thán phục sự chu đáo tỉ mỉ của chủ nhân, đang định cất bước đi ra thì thiếu niên lại nói: “Tiên sinh, vẫn còn một lớp nữa.”
“Còn một lớp nữa?” Tôn Tẫn không khỏi khó hiểu, phòng ốc khách sạn trong thiên hạ, xa hoa nhất cũng chỉ có sảnh đường, thư phòng, phòng ngủ, khác biệt chỉ ở chỗ lớn nhỏ văn dã mà thôi, nơi đây lại còn có thêm một lớp nữa, thì dùng để làm gì? Hơn nữa, tường trắng khắp nơi, cũng chẳng có cửa ra vào, làm sao mà còn một lớp nữa được? Hay là thiếu niên ngây ngô, nhầm cả hậu viện thành một lớp rồi. Trong lúc Tôn Tẫn còn đang hoài nghi, thiếu niên đẩy nhẹ góc phòng, tường trắng bất ngờ tự động mở ra một cánh cửa nhỏ! Thiếu niên đứng ở cửa cung kính nói: “Tiên sinh, bên trong là phòng tắm và phòng vệ sinh, để tránh hơi nước lọt vào phòng ngủ, ở đây đã lắp một bức tường giả, đẩy là mở, rất tiện lợi ạ.”
“Phòng vệ sinh?!” Tôn Tẫn lại càng kinh ngạc, phòng vệ sinh nào lại đặt trong phòng ở bao giờ? Xem ra, thói quen hoang dã của người Tần vẫn chưa quét sạch hoàn toàn. Trong khoảnh khắc, như thoáng thấy cái đuôi chồn hoang, Tôn Tẫn suýt phì cười. Nghĩ ngợi một lúc, thôi cứ vào xem thế nào đã, không chịu được thì lập tức dọn đi. Bước vào trong phòng, chỉ thấy rất sáng sủa, rộng gần bằng hai phòng thư phòng, ba mặt tường đều có cửa sổ lớn, nhưng được lắp khá cao, gió thoảng hiu hiu trong phòng, hoàn toàn không có mùi hắc khó chịu của phòng vệ sinh thông thường, nghĩ chắc ban ngày cũng sẽ sáng sủa khô ráo.
“Cửa sổ cao thế này, là vì sao thế?” Tôn Tẫn ngẩng đầu hỏi.
“Tiên sinh…” Thiếu niên cười chất phác, có chút ngượng ngùng.
Tôn Tẫn cười lớn: “À, tắm rửa đi vệ sinh, tự nhiên phải cần cửa sổ cao. Tiểu ca chê cười rồi.”
“Dám đâu.” Thiếu niên khôi phục dáng vẻ cung kính: “Tiên sinh, bên này là phòng tắm, tối nào cháu cũng sẽ mang nước nóng tới.”
Trong phòng được ngăn thành hai phần bằng các tấm đá màu đen. Phần lớn hơn ở lối vào là phòng tắm, tường và sàn đều được lát bằng đá đen hoàn toàn, ở giữa là một chiếc chậu gỗ lớn được nẹp hai vòng sắt, trong chậu còn có một tấm ván bắc ngang và một chiếc gáo gỗ cán dài. Tôn Tẫn nhìn qua là biết ngay, đây là chậu tắm lớn được chế tác cực kỳ tinh xảo ở Đại Lương. Xem ra, phần nhỏ còn lại chính là phòng vệ sinh rồi. Tôn Tẫn cẩn thận vòng qua bức tường đá cao hơn đầu người, trước mắt bỗng sáng bừng lên — hóa ra, trên tường treo một chiếc đèn lồng lớn sáng rực suốt ngày đêm! Sàn nhà là tấm đá đen sáng bóng như gương đồng, tường nhà thì dùng ván gỗ ốp lên tận trần; áp vào bức tường phía bên ngoài là một chiếc vạc đá hình vuông cao hơn một thước, trong vạc đầy ắp nước trong; bên cạnh vạc là một chiếc bàn đá nhỏ, trên bàn trong chiếc mâm gỗ có một chồng vải mềm đã gấp gọn gàng; ngay sát bên cạnh vạc đá bàn đá trên mặt đất úp ngược một chiếc “tấm ván” hình lồi to bằng mặt trống. Ngoài những thứ đó ra, không còn vật gì khác, chỉ có thể nghe thấy tiếng nước chảy róc rách thoang thoảng.
“Cái này? Chính là phòng vệ sinh ư?” Tôn Tẫn có chút ngẩn ngơ, căn phòng sạch sẽ ngăn nắp thế này, thì đi vệ sinh ở đâu?
“Tiên sinh xin mời xem —” Thiếu niên cúi người nhấc tấm ván lồi lên, tiếng nước róc rách lập tức nghe rõ mồn một: “Đây là nơi đi vệ sinh, xong xuôi đậy lại là được.” Thiếu niên lại chỉ vào vạc đá và bàn đá, “Ở đây rửa ráy, những miếng vải mềm này dùng để lau chùi.”
Tôn Tẫn lại cúi người chằm chằm nhìn xuống nơi đi vệ sinh, chỉ thấy làn nước lấp lánh trong bóng tối, ngẩn ngơ hỏi: “Nước này từ đâu tới? Vậy mà không có mùi hôi thối ư?”
“Dâm thưa tiên sinh, đây là nước Vị Thu dẫn vào khi xây thành Hàm Dương. Ống gốm chôn dưới đất, chảy qua dưới lòng đất của cung thành, công sở, chợ quan, xưởng thợ và các quán lớn, chảy ra ngoài thành rồi dẫn vào ruộng đồng, không chảy ngược lại sông Vị Thu nữa. Nước chảy từ cao xuống thấp, rất lớn và rất xiết, bất kỳ chất uế tạp nào cũng không thể đọng lại, nên không có mùi hôi thối đâu ạ.” Thiếu niên vẫn cung kính như mọi khi.
Tôn Tẫn nghe xong ngẩn người mất một hồi lâu, cuối cùng chỉ biết cảm thán một tiếng: “Hay! Liền ở đây đi, rất vừa ý.”
Thiếu niên mừng rỡ: “Đa tạ tiên sinh. Mang cơm tới đây ăn? Hay là ra Thiên Lạc Đường tự dùng?”
“Ta tự ra Thiên Lạc Đường, xem phong vị nước Tần thế nào đã.” Tôn Tẫn cười nói.
“Vậy để cháu đi gánh chậu nước nóng, tiên sinh tắm xong rồi hãy đi cũng không muộn, chợ đêm náo nhiệt lắm đấy.” Thiếu niên nhanh nhẹn bước ra.
Tê Thủ vốn hiếu động, dùng bữa tối xong thấy xung quanh không có việc gì, bèn đổi một bộ thường phục bước ra khỏi Thượng khanh phủ, thong thả tản bộ hướng về phía phố xá Hàm Dương.
Chợ đêm của Hàm Dương khá đặc biệt, khác với các thành lớn Trung Nguyên, đường phố vắng vẻ như thường, thế nhưng các quán trọ tửu điếm lại náo nhiệt vô cùng. Đó là vì người Tần cần cù giản dị, cộng thêm luật pháp hạn chế uống rượu, hễ đến ban đêm, ngoại trừ những người thực sự có nhu cầu mua sắm ra đường tản bộ, phần lớn thứ dân thợ thuyền đều đi ngủ sớm để chuẩn bị sáng sớm hôm sau thức dậy lo toan trăm nghề. Thế nhưng, nước Tần đối với thương nhân ngoại quốc và người nước ngoài đến Hàm Dương có việc công lại không hạn chế rượu chạp. Thế nên, cứ mỗi khi màn đêm buông xuống đèn đóm vừa thắp sáng, các thương nhân ngoại quốc, sĩ tử du học, khách du lịch phương xa và các lại nhân đến Hàm Dương làm việc công, lại tụ tập tại các tửu điếm khách trọ khác nhau, thoải mái uống rượu giao du.
Tê Thủ bước ra, cũng là muốn tìm một tửu điếm nhâm nhi vài chén, giải tỏa những u uất trong lòng.
Buổi trưa yết kiến Tần công rồi, hắn đã biết rõ mồn một rằng nước Tần sẽ không áp dụng chủ trương “Bá thống” của mình, lòng hắn ngược lại bình tĩnh trở lại. Kể từ năm làm lễ đội mũ trưởng thành, hắn đã bắt đầu chu du khắp các chư hầu, lần lượt làm quan ở mười ba nước lớn nhỏ khác nhau, thời gian lâu nhất là ở nước Tề hơn ba năm, ngắn nhất là ở nước Tống chỉ khoảng nửa năm. Nguyên nhân từ quan tuy mỗi nơi mỗi khác, nhưng nguyên nhân lớn nhất, vẫn là sự bẽ bàng khi làm quan cao mà không có việc gì làm. Hắn tinh anh hơn người, lại thêm làm việc cẩn thận, luôn có thể trong một thời gian rất ngắn mà xử lý thỏa đáng chính xác các công việc thuộc quyền quản lý mà không tốn chút sức lực nào, đồng liêu luôn dành cho hắn những lời ca ngợi hết lời, quốc quân cũng luôn thường xuyên khen ngợi, ai ai cũng hòa nhã với hắn, lúc bình xét tước vị cũng đều đồng thanh tiến cử hắn, tiếng tăm uy tín lan tỏa khắp nơi. Thế nhưng, điều kỳ lạ là: cho dù tước vị của hắn có cao đến đâu, thế nào đi nữa hắn cũng không thể nắm quyền thực tế, toàn làm những chức vụ “hữu danh vô thực” như Thiếu phu, Thái phu, Thiếu sư, Thái sư, Thái sử thừa, Thái miếu lệnh mà thôi! Ai ai cũng biết, sở trường của hắn là ở binh gia, ở quyền mưu, ở trị quốc trị dân, thế nhưng những chức vụ trọng yếu có thực quyền như Thượng tướng quân, Thừa tướng, Thượng đại phu, Lệnh doãn, Đại tư thổ, tuyệt nhiên không đến phiên hắn, kết quả là luôn cảm thấy vô cùng buồn chán, bèn treo ấn từ quan.
Lần vào Tần này, là lần mưu tính nghiêm túc nhất của Tê Thủ. Thế nhưng, khi Tần công ngay tại trận phong hắn làm Thượng khanh, trong lòng hắn lại vô thức lẫy lên một tiếng “cộc”, một điềm gầm bọc lấy tâm can. Chức vụ Thượng khanh, thời Xuân Thu vô cùng hiển hách, như Thượng khanh Triệu Thuẫn của nước Tấn, bản thân chính là tướng quốc (thừa tướng). Nhưng ở thời Chiến Quốc, cấu trúc quyền lực tương đối ổn định cũng tương đối đơn giản, quốc quân, thừa tướng, thượng tướng quân tam quyền phân lập trị quốc, Thượng khanh từ lâu đã trở thành chức vị hữu danh vô thực. Nước Tần xưa nay cách trở với Trung Nguyên, danh hiệu quan chức khác biệt rất lớn với Trung Nguyên, một là thứ trưởng trị quốc (Đại thứ trưởng, Tả thứ trưởng, Hữu thứ trưởng), đại phu phò tá (Thượng đại phu, Trung đại phu, Hạ đại phu); hai là không có chức vị hữu danh vô thực, Thái sư, Thái phu, Thượng khanh đều hoàn toàn không có. Kể từ khi Tần Hiếu Công và Thương Yến biến pháp, chế độ quan lại nước Tần mới bắt đầu ngả về phía Trung Nguyên, dần dần thực hiện chế độ tam quyền cộng trị “Quân — Tướng — Tướng”, những cái tên kỳ quái của các chức quan cũng dần phai nhạt. Đối với những biến cố lịch sử này của nước Tần, Tê Thủ nắm rất rõ. Thế nhưng hiện tại, Tần công bất ngờ phong cho mình một chức “Thượng khanh” không có thực quyền trong tay, rõ ràng chỉ là thủ đoạn quyền mưu ngẫu hứng ứng phó tại chỗ mà thôi; cho đến khi Tần công gác lại “Bá thống”, kể lể khốn đốn, Tê Thủ đã hiểu rõ, bản thân mình nếu muốn ở lại nước Tần, tương lai vẫn sẽ là tước cao mà vô sự.
Thời thế ư? Mệnh trời ư? Chợt giật mình, Tê Thủ sinh ra một cảm giác túc mệnh sâu sắc — một mưu sĩ nuôi chí lớn nắm quyền làm việc, thế nhưng dù thế nào cũng không thể thoát khỏi vú quý buồn chán, chẳng phải là tạo hóa trêu ngươi sao? Suy ngẫm một hồi, Tê Thủ bật cười. Hắn nhớ lại lời tự trào của Khổng lão phu tử khi chu du liệt quốc không được trọng dụng: “Cả ngày ăn no, không có việc gì làm, chi bằng chơi cờ vây ư?” Khổng phu tử không thiếu sự hào sảng lạc quan biết mệnh, cầu quan không thành thì đi đánh cờ, biên soạn Kinh Thi, nghiên cứu Kinh Dịch, dạy dỗ đệ tử, cũng bận rộn đến mức vui quên cả trời đất, thế còn mình thì sao?
"Tiên sinh! Ngài còn nhớ tiểu điếm chứ?" Một tiếng hỏi lanh lảnh đầy ngạc nhiên vang lên, chỉ thấy một người phụ nữ mặc váy dài đang cúi mình hành lễ ngay giữa đường.
Trong lúc mải tản bộ, Tê Thủ lại bất giác đi đến trước Lịch Dương Khách Du nơi mình từng ở, không ngờ lại gặp lại nữ chủ quán nhiệt tình dễ mến, hắn cười lớn: "Được được được, ta đang định ôn lại chốn xưa, uống một trận cho sảng khoái đây."
"Vừa mới nhập về một xe rượu mạnh An Ấp đấy! Tiên sinh mời." Người phụ nữ mừng rỡ khôn tả.
Thiên Lạc Đường của Lịch Dương Khách Du, thực chất là một tửu điếm rất trang trọng. Đại sảnh có hình chữ nhật dài theo hướng Đông Tây, hai mặt Bắc Nam không có tường mà chỉ có các trụ tròn màu đỏ, tạo thành hai hành lang cột rộng rãi; mặt hướng Nam quay ra cái ao lớn trong sân, sóng nước lấp lánh; mặt hướng Bắc giáp với một rừng trúc, đung đưa bóng râm; bức bình phong bằng gỗ đã chia đại sảnh rộng lớn thành vô số gian ngồi tĩnh lặng, mỗi gian có khoảng hai ba chiếc bàn hoặc năm sáu chiếc không đều nhau, thế nhưng đều vô cùng vừa vặn giáp trúc giáp nước, mỗi nơi có một vẻ đẹp riêng; khi đêm về hành lang cột treo kín đèn lồng đỏ, bên ngoài mỗi gian ngồi lại có thêm hai chiếc đèn lồng đồng khắc danh hiệu, sáng rực rỡ lấp lánh, ngăn nắp tao nhã; phần lớn các gian ngồi đều có khách, tiếng cười nói thấp thoáng văng vẳng bên tai, nhưng tuyệt nhiên không hề có vẻ ồn ào náo tạp.
Tê Thủ rất quen thuộc nơi này, cứ thế thong thả bước đi, đến thẳng một gian ngồi giáp hồ: "Được thôi, vẫn là 'Tiện Ngư Đình' này đi."
Người phụ nữ lẽo đẽo đi theo suốt dọc đường, cười nói: "Cái tên này là do tiên sinh đặt, tiên sinh chắc chắn sẽ đến đây mà. Thúy Tử, hầu hạ tiên sinh."
Một nữ tì uyển chuyển bước tới, hạ mình hành lễ cười hỏi: "Tiên sinh, ba món cũ không đổi chứ?"
Tê Thủ không khỏi cười lớn: "Phải vậy chứ! Rượu mạnh An Ấp, thịt dê béo Lịch Dương, rau đắng đất Tần."
"Cái tên này đặt không hay." Một giọng nói lạnh lùng từ góc phòng vang lên.
“Ồ?” Tê Thủ kinh ngạc quan sát, mới phát hiện ra trong gian ngồi vẫn còn một người nữa, đang ngồi ở chiếc bàn gần tấm bình phong, mặc áo đỏ tóc xõa, tự rót tự uống, vô cùng thong thả.
“Ối, hóa ra là tiên sinh!” Nữ chủ quán ngạc nhiên mừng rỡ cười lên: “Tiên sinh, vị tiên sinh này hôm nay mới vào ở, ở ngay Tu Tiết Cư đấy ạ. Tiên sinh, vị tiên sinh này chính là vị tiên sinh trước đây, hai vị tiên sinh……”
Tê Thủ không để ý đến những lời nói vòng vo của nữ chủ quán, trừng mắt nhìn người mặc áo đỏ nhạt giọng nói: “Ý của túc hạ, nên đặt tên là gì mới phải?”
“Kết Võng Đình.” Người mặc áo đỏ cũng nhạt giọng đáp.
“Kết võng?” Tâm trí Tê Thủ lóe lên, nghiêm trang chắp tay: “Ý của tiên sinh là gì?”
“Lâm trì tiện ngư, chi bằng thối nhi kết võng?” Người mặc áo đỏ cũng chắp tay đáp lễ.
“Hay! Lâm trì tiện ngư, chi bằng thối nhi kết võng? Tiên sinh cao hơn ta một bậc rồi.”
Nữ chủ quán thấy hai vị này lúc đầu đều ra vẻ kiêu ngạo, chớp mắt một cái lại cung kính lễ độ với nhau như vậy, liếc nhìn hai bên ngẩn ngơ cười nói: “Ối chà, hai vị tiên sinh đều thích bắt cá cơ à, không nói nhiều nữa, ngày mai ta chuẩn bị thuyền nhỏ, ra vịnh Vị Thu, một mẻ bắt chục cân cá cho coi!”
Lời chưa dứt, Tê Thủ và người áo đỏ đồng thanh cười lớn. Cười đến mức nữ chủ quán cũng vui lây: “Nói vậy là quyết định thế nhé, ngày mai đi bắt cá!” Tê Thủ cười đến mức thở hổn hển: “Cá này, không phải cá kia đâu. Hãy ghép hai cái bàn này lại với nhau, ta muốn cùng uống rượu với vị tiên sinh này.”
“Cũng phải đấy. Cùng thuyền bắt cá, chung bàn uống rượu, hợp cạ ghê gớm.” Nữ chủ quán cũng chẳng gọi nữ tì nữa, vừa nói vừa tự tay làm lấy, nhanh nhẹn gọn gàng ghép hai bàn rượu lại với nhau. Nữ tì vừa nãy hầu hạ cũng vừa vặn bưng mâm bước tới, bày biện xong xuôi rượu thức ăn, liền quỳ gối sang một bên mở nắp rót rượu.
“Hai vị tiên sinh, từ từ thưởng thức nhé.” Nữ chủ quán cười một tiếng rồi cứ thế quay người đi thẳng.
“Xin chỉ giáo tiên sinh, cao danh đại tính?” Tê Thủ đợi chén rượu được rót đầy, liền nghiêm trang chắp tay.
“Dám đâu, tại hạ Lạc Dương Tôn Tẫn.” Người áo đỏ cung kính chắp tay đáp.
“Tôn Tẫn?” Tê Thủ không khỏi cười lớn: “Hay lắm! Đích thị là người ta nói đời người hà huống không tương phùng chứ? Ta là Tê Thủ nước Ngụy.”
“Tiên sinh bước vào cửa, tại hạ nhìn qua là biết ngay, nếu không sao dám đường đột?” Tôn Tẫn cũng phấn khích không kém.
“Ồ, ngươi biết ta chính là Tê Thủ à? Xem ra, ngươi và ta đúng là duyên trời định rồi, nào, cạn chén này đi!”
Tôn Tẫn vội vàng xua tay: “Ta không uống nổi rượu mạnh An Ấp đâu, hay là dùng rượu Lăng Lăng này đi, đậm đà hơn chút.”
“Thôi được, sở thích của quân tử vốn dĩ khác nhau mà. Nào, cạn!” “Cọang” một tiếng, hai chiếc chén đồng va vào nhau, hai người uống cạn một hơi.
Tôn Tẫn đặt chén rượu xuống cười nói: “Công Sơn huynh từ bỏ nước Sở vào nước Tần, phong thái hoàn toàn khác biệt. Tôn Tẫn xin kính huynh một chén, coi như bày tỏ chút thành ý chúc mừng.” Nói xong liền cầm chiếc muôi gỗ từ tay nữ tì, múc đầy chén rượu cho cả hai: “Nào, Tôn Tẫn uống trước coi như kính cẩn!”
Tê Thủ lắc đầu, thế nhưng lại không chút thoái thác nâng chén uống cạn một hơi, đặt chén rượu xuống cảm thán nói: “Tôn huynh chẳng lẽ vào Tần để dâng sách lược ư?”
“Đúng vậy.” Tôn Tẫn thẳng thắn gật đầu.
“Không sợ Tê Thủ ta vào trước, ngươi chẳng còn sách lược nào để nói nữa sao?” Ánh mắt Tê Thủ sáng rực.
“Cùng một đại điện mà có hai sách lược, chính là lúc để phân cao thấp văn dã, mong cầu còn không được, có gì mà phải sợ chứ?” Tôn Tẫn mỉm cười đón lấy ánh mắt của Tê Thủ.
“Hay!” Tê Thủ ngửa cổ cười lớn: “Tôn Tẫn quả nhiên danh bất hư truyền, xem ra trong ngực chắc chắn có kỳ trân dị bảo rồi.” Lại bỗng nhiên thu lại nụ cười, hạ thấp giọng nghiêm túc hỏi: “Tôn Tẫn huynh, có biết ta dâng sách lược gì không?”
Tôn Tẫn thong thả mỉm cười: “Xưng vương mưu bá mà thôi, nào còn có gì khác nữa chứ?”
“Ngươi? Từ đâu mà biết được?” Tê Thủ không khỏi ngạc nhiên.
“Nước Tần hùng mạnh, phàm là kẻ có kiến thức hiểu biết đều sẽ đưa ra sách lược này, việc gì phải đoán non đoán già hay thăm dò chứ?”
Lời nói này bề ngoài thì có vẻ nhẹ nhàng bâng quơ, thực chất lại kiêu ngạo tột cùng, Tê Thủ sao lại không nhận ra cơ chứ? Thế nhưng, tâm trạng lúc này của hắn đã thay đổi lớn, không những không lấy làm tức giận, ngược lại còn cảm thấy Tôn Tẫn thẳng thắn gần gũi, vui vẻ cười lớn nói: “Sách lược lớn lao như thế, vậy mà Tôn huynh lại coi nhẹ như trò mèo con, Tê Thủ bội phục! Thế nhưng, Tôn huynh có biết tâm tình của Tần công ra sao không?”
“Ném lên gác cao, kính nhi viễn chi.”
Tê Thủ đột ngột chấn động! Cú này, quả thực khiến hắn phải nhìn bằng con mắt khác đối với vị mưu sĩ trẻ tuổi sớm nghe danh nhưng chưa từng quen biết này. Biết đại sự thì biết một điều đã khó, biết điều thứ hai lại càng khó hơn, Tôn Tẫn không những đoán được sách lược của hắn, lại còn đoán được thái độ của Tần công, đủ thấy hắn thấu triệt nước Tần đến mức nào, và cũng đủ thấy sách lược của chính mình tầm thường đến mức nào. Trong khoảnh khắc, tâm trí Tê Thủ lóe lên, cảm thấy việc tình cờ gặp gỡ Tôn Tẫn chính là một lời cảnh báo của ông trời dành cho số phận của hắn — nếu còn chìm đắm trong con đường mưu sĩ, chắc chắn sẽ phải chuốc lấy cảnh thân bại danh liệt! Tư duy lóe lên như điện xẹt, hắn chắp tay mỉm cười nói: “Tê Thủ từ biệt nước Tần, ngày đó không còn xa nữa, vốn dĩ không đáng để bận tâm. Thế nhưng, Tôn huynh vào Tần, là dâng sách lược gì? Có thể cho biết được không?”
“Không có sách lược mới, nhưng có thuyết lý mới.” Tôn Tẫn tự tin đáp.
“Như thế nào?” Tê Thủ thoạt đầu thì ngạc nhiên, tiếp theo đó lại cười lớn: “Ngươi vẫn có thể dùng thuyết lý vương bá để thuyết phục Tần công ư?”
Tôn Tẫn đương nhiên cảm nhận được sự giễu cợt và hoài nghi của Tê Thủ, thế nhưng vẫn nhạt giọng mỉm cười nói: “Chuyện này vốn dĩ không phải là hoang đường. Nước Tần vốn dĩ đã có tâm vương bá, lời lẽ của huynh chưa thấu đáo mà thôi. Phàm là sách lược lớn dựng lên được hay không, ở chỗ có khả thi hay không mà thôi. Công Sơn huynh chỉ bàn sách lược lớn, bỏ qua tính khả thi. Tần công kiêng dè những khó khăn, đương nhiên sẽ ném lên gác cao.”
Tê Thủ nghe rất kỹ, cảm thấy lời nói của Tôn Tẫn tuy có lý, nhưng lại tự tin đến mức có chút sai vị, bèn muốn cảnh cáo vị danh môn mưu sĩ tuổi trẻ tài cao này một chút, liền thở dài một hơi nói: “Theo cái nhìn của Tê Thủ, nếu Tôn huynh không có sách lược kỳ lạ nào khác, tốt nhất không nên du thuyết ở nước Tần nữa, để tránh tự chuốc lấy sự tẻ nhạt mất mặt.”
Tôn Tẫn không khỏi cười lớn: “Công Sơn huynh đã ở Hàm Dương, sao không mở to mắt mà chờ xem?”
“Dù ở bất cứ nơi đâu, Tê Thủ cũng sẽ biết thôi. Nào, cạn thêm một chén nữa……” Bỗng nhiên, đôi mắt say lờ đờ của Tê Thủ đã mờ ảo.
“Chén này coi như để tiễn chân Công Sơn huynh. Cạn!” Hào khí trong lòng Tôn Tẫn bỗng trào dâng, uống cạn một hơi, cất cao giọng dặn dò nữ chủ quán đang mỉm cười bước tới: “Đại tỷ, dùng xe của ta đưa tiên sinh về.”
Sau một hồi bận rộn, chiếc xe ngựa bằng đồng cuối cùng cũng lộc cộc khởi hành. Tê Thủ vị lấy cột đồng của lọng che trên xe lẩm bẩm tự nói: “Hì hì hì, hóa ra lại là vương xa? Hèn chi…… A ha ha ha ha ha!”