Bí Mật Của Phu Nhân Audley

Lượt đọc: 141 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 39
Điều Mà Người Sắp Chết Phải Kể Lại.

❊ ❊ ❊

Chúa mới biết những suy nghĩ của ông Audley có thể đã trôi dạt đến đâu nếu ông không giật mình trước một cử động đột đẳng của người bệnh, kẻ vừa chồm dậy trên giường và gọi mẹ mình.

Bà cụ giật mình tỉnh giấc, uể oải quay sang nhìn đứa con trai.

– Có chuyện gì thế, Luke cưng? – Bà dịu dàng hỏi. – Đã đến giờ uống thuốc của bác sĩ đâu nào. Ông Dawson dặn là phải hai tiếng sau khi ông ấy về con mới được uống, mà ông ấy đi chưa được một tiếng cơ mà.

– Ai bảo con muốn thuốc của bác sĩ? – Ông Marks nóng nảy kêu lên. – Con muốn hỏi mẹ một chuyện. Mẹ có nhớ ngày mùng bảy tháng Chín vừa rồi không?

Robert giật mình, đăm đăm nhìn người bệnh. Sao hắn cứ nhai đi nhai lại cái đề tài cấm kỵ này làm gì? Sao hắn cứ khăng khăng gợi lại cái ngày xảy ra vụ sát hại George? Bà cụ lắc đầu trong sự bối rối mụ mẫn.

– Trời ạ, Luke, – bà nói, – sao con lại hỏi mẹ những câu như thế? Trí nhớ của mẹ đã kém đi từ tám, chín năm nay rồi; mà mẹ vốn chẳng bao giờ nhớ được ngày trong tháng hay mấy chuyện loại ấy cả. Một người đàn bà nghèo khó đầu tắt mặt tối thì sao mà nhớ nổi những thứ đó chứ.

Luke Marks bực bội nhún vai.

– Mẹ đúng là tài thật đấy khi cứ làm theo ý mình, – hắn cáu kỉnh nói. – Con đã chẳng dặn mẹ phải nhớ ngày hôm đó là ngày nào rồi sao? Con đã chẳng bảo mẹ rằng sẽ có lúc người ta bắt mẹ ra làm chứng và thề độc trước Kinh Thánh về chuyện ấy hay sao? Con đã bảo mẹ thế cơ mà?

Bà cụ tuyệt vọng lắc đầu.

– Nếu con đã nói vậy thì chắc chắn là có rồi, Luke, – bà mỉm cười xoa dịu đáp, – nhưng mẹ không tài nào nhớ nổi đâu, cục cưng ạ. Trí nhớ của mẹ đã kém đi từ chín năm nay rồi thưa cậu, – bà nói thêm, quay sang hướng Robert Audley, – và tôi cũng chỉ là một kẻ nghèo hèn đầu óc mụ mị.

Ông Audley đặt tay lên cánh tay của người bệnh.

– Marks, – ông nói, – tôi nhắc lại để anh rõ, anh không có lý do gì phải bận tâm lo lắng về chuyện này cả. Tôi không hỏi anh điều gì, và tôi cũng chẳng có nhu cầu muốn nghe bất cứ thứ gì.

– Nhưng nhỡ tôi muốn kể thì sao, – Luke thốt lên với vẻ phấn khích đến sốt người, – nhỡ tôi cảm thấy mình không thể chết đi với một bí mật đè nặng trong lòng, và đã cất công mời ông đến chính là để kể lại cho ông nghe; nhỡ là như vậy, thì những gì ông nghĩ tới sẽ hoàn toàn là sự thật đấy. Tôi thà bị thiêu sống còn hơn là hé lộ nửa lời với ả ta. – Hắn nghiến chặt răng thốt ra những lời này, mặt cau có gớm ghiếc. – Tôi thà bị thiêu sống còn hơn. Tôi đã bắt ả phải trả giá cho thói hỗn xược kiêu kỳ; tôi đã bắt ả phải trả giá cho cái vẻ ta đây đài các; đời nào tôi thèm nói cho ả biết — không bao giờ, không bao giờ có chuyện đó! Tôi nắm thóp được ả, và tôi giữ chặt lấy thứ quyền lực ấy; tôi giữ bí mật của mình và được trả công sòng phẳng; và chẳng có một chút khinh miệt nhỏ nhặt nào mà ả từng giáng xuống đầu tôi hay người nhà tôi mà tôi lại không bắt ả trả lại gấp hai mươi lần!

– Marks, Marks, vì Chúa, hãy bình tĩnh lại, – Robert tha thiết nói. – Anh đang nói gì thế? Có chuyện gì mà anh có thể kể cơ chứ?

– Tôi đang định kể đây, – Luke đáp, vừa lau môi. – Rót cho tôi ngụm nước nào, mẹ.

Bà cụ rót nước mát vào một chiếc vại rồi mang lại cho con trai.

Hắn vội vã tu ừng ực, như thể cảm thấy quãng đời ngắn ngủi còn lại của mình phải là một cuộc đua tranh với kẻ lữ hành vô cảm mang tên Thời gian.

– Cứ ngồi yên đấy, – hắn bảo mẹ, chỉ tay về phía chiếc ghế ở cuối giường.

Bà cụ vâng lời, ngoan ngoãn ngồi xuống đối diện với ông Audley.

– Tôi hỏi mẹ câu này nữa nhé, – Luke nói, – và tôi nghĩ sẽ thật lạ nếu mẹ không trả lời được. Mẹ có nhớ hồi tôi làm thuê ở nông trại của Atkinson không; cái dạo trước khi con lấy vợ ấy, và khi con còn đang sống ở dưới này với mẹ ấy?

– Có, có chứ, – bà Marks đáp, gật đầu đắc thắng, – mẹ nhớ chứ, con yêu của mẹ. Hồi cuối mùa thu, đúng vào lúc người ta đang thu hoạch táo trong vườn cây ăn quả phía bên kia ngõ nhà mình, và là dạo con có chiếc áo ghi-lê mới thêu cành lá ấy. Mẹ nhớ chứ, Luke, mẹ nhớ rõ lắm.

Ông Audley tự hỏi tất cả những chuyện này rồi sẽ dẫn đến đâu, và ông sẽ phải ngồi bên giường người bệnh bao lâu nữa để nghe một cuộc trò chuyện chẳng có chút ý nghĩa gì với mình.

– Nếu mẹ nhớ chừng ấy, có lẽ mẹ sẽ nhớ nhiều hơn, mẹ ạ, – Luke nói. – Mẹ có nhớ chuyện con dẫn ai về nhà mình vào một đêm nọ, lúc nhà Atkinson đang chất những xe lúa cuối cùng lên kho ko?

Một lần nữa, ông Audley giật mình thon thót, và lần này ông đăm đăm nhìn vào khuôn mặt của người nói, lắng nghe với một sự tò mò kỳ lạ, nghẹt thở đến mức chính ông cũng khó lòng hiểu nổi những gì Luke Marks đang kể.

– Mẹ nhớ con đưa con Phoebe về chứ, – bà cụ hào hứng đáp. – Mẹ nhớ con đưa con Phoebe về uống chén trà, hay ăn chút quà vặt lót dạ, không biết bao nhiêu là lần.

– Lại Phoebe với chả Phởn, – ông Marks cáu kỉnh kêu lên, – ai đang nhắc đến Phoebe làm gì? Phoebe là cái thá gì mà khiến người ta phải bận tâm cơ chứ? Mẹ có nhớ việc con đưa một quý ông về nhà sau mười giờ đêm, vào một đêm tháng Chín nọ không; một quý ông bị ướt sũng nước mưa, người dính đầy bùn lầy, chất nhầy màu xanh cùng thứ bùn nhão đen sì từ đỉnh đầu xuống tới gót chân, lại bị gãy tay và trật khớp vai sưng vù lên trông đến hãi; một con người tơi tả đến mức chẳng ai có thể nhận ra; một quý ông mà quần áo ở một số chỗ phải dùng kéo cắt đi mới cởi ra được, ngồi thừ bên bếp lò, đăm đăm nhìn những cục than hồng như thể đã phát điên hoặc ngớ ngẩn đến nơi, chẳng còn biết mình đang ở đâu hay mình là ai; một người cần được chăm sóc như trẻ sơ sinh, được thay quần áo, lau khô, tắm rửa và đút cho từng thìa brandy phải cạy răng ra mới nhét vào miệng được, mãi mới giành giật lại được chút hơi tàn? Mẹ có nhớ chuyện đó không?

Bà cụ gật đầu, lẩm bẩm điều gì đó đại ý rằng giờ đây, khi Luke tình cờ nhắc lại, bà mới nhớ như in tất cả những chi tiết ấy.

Robert Audley phát ra một tiếng kêu hoảng loạn và quỵ xuống bên mép giường người bệnh.

– Lạy Chúa! – Ông thốt lên. – Con cảm tạ Ngài vì những phép màu kỳ diệu. George Talboys vẫn còn sống!

– Chờ đã nào, – ông Marks nói, – đừng có mà mừng vội thế. Mẹ, lấy hộ con cái hộp thiếc trên chiếc kệ ngay phía trên cái tủ có ngăn kéo xuống đây xem nào?

Bà cụ vâng lời, sau một hồi khua khoắng lục lọi giữa những chiếc tách trà mẻ, bình sữa vỡ, hộp đựng chỉ bằng gỗ không nắp và một đống giẻ rách lẫn đồ sành sứ lộn xộn, bà lôi ra một chiếc hộp đựng thuốc hít bằng thiếc có nắp trượt; quả là một chiếc hộp trông vừa tồi tàn vừa bẩn thỉu.

Robert Audley vẫn quỳ bên giường bệnh, hai tay đan vào nhau che kín khuôn mặt. Luke Marks mở chiếc hộp thiếc ra.

– Đáng tiếc là chẳng có đồng xu nào trong này cả, – hắn nói, – mà nếu có thì cũng chẳng giữ được lâu đâu. Nhưng trong này có thứ mà có lẽ các người sẽ thấy giá trị chẳng kém gì tiền bạc, và đó chính là thứ tôi sẽ đưa cho các người như một bằng chứng cho thấy một kẻ vũ phu nát rượu vẫn biết ơn những ai đã đối xử tử tế với mình.

Hắn lấy ra hai tờ giấy gấp đôi đưa vào tay Robert Audley.

Đó là hai trang giấy được xé ra từ một cuốn sổ tay, viết bằng bút chì và bằng một nét chữ hoàn toàn xa lạ đối với ông Audley — một nét chữ nguệch ngoạc, cứng nhắc nhưng lại ngoằn ngoèo, như thể do một tên thợ cày viết ra.

– Tôi không nhận ra nét chữ này, – Robert nói khi sốt sắng mở tờ giấy đầu tiên ra. – Cái này có liên quan gì đến bạn tôi chứ? Sao anh lại cho tôi xem những thứ này?

– Chi bằng ông đọc chúng trước đi đã, – ông Marks nói, – rồi hãy đặt câu hỏi với tôi sau.

Tờ giấy đầu tiên mà Robert Audley vừa mở ra có những dòng chữ sau, được viết bằng nét chữ nguệch ngoạc, cứng nhắc mà vô cùng xa lạ ấy:

– BẠN THÂN MẾN — Tôi viết thư cho anh trong trạng thái hoang mang tột độ mà có lẽ chưa từng có ai phải chịu đựng trước đây. Tôi không thể kể cho anh nghe chuyện gì đã xảy ra với mình, tôi chỉ có thể nói rằng đã có chuyện xảy ra khiến tôi phải rời khỏi nước Anh như một kẻ tan nát cõi lòng, để tìm một góc nào đó trên trái đất này mà sống và chết trong sự vô danh và lãng quên. Tôi chỉ có thể cầu xin anh hãy quên tôi đi. Nếu tình bạn của anh có thể giúp ích gì cho tôi, tôi đã cầu cứu đến nó rồi. Nếu lời khuyên của anh có thể giúp ích gì cho tôi, tôi đã tâm sự với anh rồi. Nhưng cả tình bạn lẫn lời khuyên đều chẳng thể giúp gì cho tôi cả; và tất cả những gì tôi có thể nói với anh lúc này là: xin Chúa phù hộ cho anh vì quãng thời gian qua, và dạy anh cách quên đi tôi trong tương lai. G.T.

Tờ giấy thứ hai được gửi cho một người khác, và nội dung của nó vắn tắt hơn tờ thứ nhất.

– HELEN — Xin Chúa xót thương và tha thứ cho những gì cô đã làm ngày hôm nay, giống như tôi vẫn thực sự tha thứ cho cô. Hãy yên nghỉ nhé. Cô sẽ chẳng bao giờ còn nghe tin tức gì về tôi nữa; kể từ nay về sau, đối với cô và đối với thế giới này, tôi sẽ mãi là kẻ mà ngày hôm nay cô muốn tôi phải trở thành. Cô không cần phải lo sợ bất kỳ sự quấy rối nào từ phía tôi. Tôi rời khỏi nước Anh và sẽ không bao giờ trở lại.

G.T.

Robert Audley ngồi trân trân nhìn những dòng chữ ấy trong sự bàng hoàng tuyệt vọng. Chúng không phải là nét chữ quen thuộc của người bạn ông, thế nhưng chúng lại được cho là do chính tay anh viết và được ký bằng các chữ cái viết tắt tên anh.

Ông dò xét nét mặt của Luke Marks, thầm nghĩ rằng biết đâu hắn đang giở trò bịp bợm gì với mình.

– Đây không phải là do George Talboys viết, – ông nói.

– Chính là anh ấy viết đấy, – Luke Marks đáp, – chính ngài Talboys viết, từng dòng một. Anh ấy tự tay viết lấy; nhưng là viết bằng tay trái, vì tay phải không sao dùng được do bị gãy cánh tay rồi.

Robert Audley chợt ngẩng phắt đầu lên, và bóng mây hoài nghi vụt tan biến khỏi gương mặt ông.

– Tôi hiểu rồi, – ông nói, – tôi hiểu rồi. Hãy kể cho tôi nghe tất cả; hãy kể cho tôi nghe vì sao người bạn tội nghiệp của tôi lại được cứu sống.

– Hồi tháng Chín năm ngoái, tôi làm việc ở nông trại của Atkinson, – Luke Marks bắt đầu kể, – phụ giúp việc đưa xe lúa cuối cùng lên kho, và vì con đường ngắn nhất từ nông trại về nhà mẹ là đi qua những thảm cỏ ở phía sau trang viên Audley Court, nên tôi hay đi lối ấy, và thỉnh thoảng con Phoebe lại đứng chờ sẵn ở bờ tường khu vườn phía ngoài lối đi rợp bóng cây đoạn cây bách đoạn để trò chuyện với tôi, vì nó biết giờ tôi thường hay đi làm về.

Tôi không rõ tối mùng bảy tháng Chín con Phoebe làm gì — tôi nhớ rõ ngày đó là vì lão nông dân Atkinson trả dứt điểm tiền công cho tôi vào đúng ngày hôm đó, và tôi phải ký một tờ biên nhận tiền lão đưa cho — tôi không biết con nó làm gì, nhưng tối đó nó không ra cái cổng sát lối đi rợp bóng cây bách đoạn, thế nên tôi đành vòng ra phía bên kia khu vườn và nhảy qua con mương cạn, bởi tối đó tôi có việc rất cần gặp nó, vì hôm sau tôi phải đi làm ở một trang trại tuốt đằng tận Chelmsford mất rồi. Đồng hồ nhà thờ Audley đánh chuông chín tiếng khi tôi đang băng qua cánh đồng giữa trang trại của Atkinson và Audley Court, và chắc phải tầm hơn chín giờ kém một chút khi tôi vào tới khu vườn rau.

Tôi băng qua vườn rồi bước vào lối đi rợp bóng cây bách đoạn; con đường ngắn nhất dẫn về phòng người hầu buộc tôi phải đi xuyên qua bụi rậm và ngang qua cái giếng cạn. Đêm hôm đó trời tối như mực, nhưng tôi thừa rành đường đi lối lại trong cái dinh thự cũ kỹ này, và ánh đèn từ cửa sổ phòng người hầu hắt ra đỏ rực, ấm áp giữa màn đêm. Tôi vừa đi sát đến miệng giếng cạn thì nghe thấy một âm thanh khiến máu trong người tôi đông cứng lại. Đó là một tiếng rên rỉ — tiếng rên của một người đang đau đớn, nằm ẩn nấp đâu đó giữa những lùm cây. Tôi không sợ ma quỷ và nói chung chẳng sợ cái gì trên đời này cả, nhưng nghe thấy tiếng rên rỉ ấy khiến tôi lạnh toát cả tim gan, và có đến một phút tôi đứng chết trân tại chỗ, chẳng biết phải làm sao. Thế rồi tôi lại nghe thấy tiếng rên ấy lần nữa, và lúc đó tôi bắt đầu sục sạo tìm kiếm trong các lùm cây. Tôi tìm thấy một người đàn ông nằm ẩn mình dưới một đám lá nguyệt quế, và thoạt đầu tôi tưởng hắn có ý đồ mờ ám gì, tính tóm cổ lôi hắn vào nhà, thì hắn đã chộp lấy cổ tay tôi mà không cần chồm dậy khỏi mặt đất, chỉ đăm đăm nhìn tôi với vẻ rất nghiêm trọng — tôi có thể nhận ra điều đó qua cách hắn quay mặt về phía tôi trong bóng tối — rồi hỏi tôi là ai, làm nghề gì, và có quan hệ thế nào với những người ở dinh thự Audley Court.

Cách hắn nói chuyện phảng phất điều gì đó cho tôi biết hắn là một quý ông, dẫu tôi chẳng tài nào nhận ra hắn là ai và cũng chẳng nhìn rõ mặt; thế nên tôi bèn đàng hoàng trả lời các câu hỏi của hắn.

– "Tôi muốn rời khỏi nơi này," hắn nói, "mà không bị bất kỳ sinh linh nào nhìn thấy, nhớ lấy điều đó nhé. Tôi đã nằm đây từ bốn giờ chiều nay rồi, và tôi sắp chết đến nơi, nhưng tôi muốn rời đi mà không bị ai nhìn thấy, hãy nhớ kỹ điều đó."

Tôi bảo hắn chuyện đó thì dễ ợt, nhưng lúc ấy tôi lại đâm ra ngờ ngợ rằng suy nghĩ ban đầu của mình hóa ra lại đúng chóc, rằng hắn chắc chắn có tật giật mình nên mới muốn lẻn đi một cách kín đáo đến thế.

– "Anh có thể đưa tôi đến nơi nào có thể thay một bộ quần áo khô ráo không," hắn bảo, "mà không để nửa tá người nhìn thấy?"

Lúc này hắn đã ngồi dậy được, và tôi thấy rõ cánh tay phải buông thõng sát sườn, còn bản thân hắn thì đang vô cùng đau đớn.

Tôi chỉ tay vào cánh tay hắn và hỏi xem nó bị làm sao thế; nhưng hắn chỉ điềm tĩnh đáp: "Gãy rồi anh bạn ạ, gãy rồi. Không phải là chuyện to tát gì đâu," hắn lại lẩm bẩm bằng một giọng khác, giống như đang tự nói một mình hơn là nói với tôi. "Có những trái tim tan nát cũng có những chiếc xương gãy, và chúng chẳng dễ gì hàn gắn được."

Tôi bảo hắn tôi có thể đưa hắn về nhà mẹ tôi, và ở đó hắn cứ tự nhiên thay quần áo khô ráo.

– "Mẹ anh có biết giữ bí mật không?" hắn hỏi.

– "Ầy, bà ấy giữ bí mật tốt chán nếu như bà nhớ được," tôi bảo hắn; "nhưng tối nay dù anh có đem tất cả những bí mật của hội Tam Điểm, hội Thợ rừng, hội Trâu mộng hay hội Anh em thiện ích nào trên đời này ra kể cho bà ấy nghe chăng nữa, thì sáng mai bà ấy cũng quên sạch sành sanh cho mà xem."

Hắn có vẻ hài lòng với câu trả lời đó, rồi vịn vào người tôi để đứng dậy, vì hình như các cơ bắp của hắn bị chuột rút, tê cứng gần như mất hết cảm giác. Khi hắn áp sát người vào tôi, tôi thấy quần áo hắn ướt sũng và dính đầy bùn nhão.

– "Anh không lỡ ngã xuống ao cá đấy chứ, thưa ngài?" tôi hỏi.

Hắn chẳng buồn trả lời câu hỏi của tôi; thậm chí có vẻ như hắn còn chẳng nghe thấy nó nữa kìa. Lúc này khi hắn đã đứng thẳng người lên, tôi mới thấy hắn là một người đàn ông cao ráo, vóc dáng đẹp đẽ, cao hơn tôi cả cái đầu lẫn bờ vai.

– "Đưa tôi đến nhà mẹ anh đi," hắn nói, "và kiếm cho tôi bộ quần áo khô nếu anh có thể; tôi sẽ trả công anh xứng đáng cho phiền phức này."

Tôi biết chìa khóa thường được cắm sẵn ở cái cổng gỗ trên bức tường vườn, thế nên tôi liền dẫn hắn đi lối đó. Thoạt đầu hắn đi lại rất khó khăn, và chỉ nhờ tì thật nặng lên vai tôi, hắn mới lê bước đi nổi. Tôi đưa hắn qua cổng, để nguyên khóa đấy không khóa lại, và đánh cược vào sự may rủi là tay phó làm vườn — kẻ giữ chìa khóa và vốn là một đứa vô lo cẩu thả — sẽ không để ý đến điều đó. Tôi đưa hắn băng qua cánh đồng, rồi dẫn thẳng về đây, vẫn cố tình tránh xa ngôi làng và đi qua những cánh đồng hoang vắng không một bóng người qua lại vào giờ đó trong đêm; và thế là tôi đưa được hắn vào căn phòng ở tầng dưới, nơi mẹ tôi đang ngồi sưởi lửa chuẩn bị bữa tối cho tôi.

Tôi xếp gã lạ mặt ngồi vào chiếc ghế bành sát lò sưởi, và bấy giờ tôi mới có dịp ngắm kỹ hắn. Tôi chưa từng thấy ai ở trong một tình trạng thảm hại đến thế. Người hắn dính đầy rêu mốc và bùn nhão xanh rì, còn đôi tay thì trầy xước rách bươm. Tôi tìm cách cởi quần áo cho hắn, vì lúc ấy hắn ngoan ngoãn chẳng khác gì một đứa trẻ trong tay tôi, cứ ngồi đờ đẫn nhìn chằm chằm vào đống lửa như kẻ mất hồn, chỉ thỉnh thoảng lại phát ra một tiếng thở dài thườn thượt nặng nhọc như thể trái tim sắp vỡ tung ra đến nơi. Cuối cùng hắn chợp mắt thiếp đi trong một trạng thái mơ màng, ngủ li bì kiểu lơ mơ gật gù bên lò sưởi, thế nên tôi vội chạy đi lấy một chiếc chăn quấn quanh người hắn, rồi đỡ hắn nằm xuống chiếc giường xếp ở căn phòng ngay dưới đây. Tôi giục mẹ đi ngủ, còn mình thì ngồi cạnh lò sưởi canh chừng cho hắn, duy trì ngọn lửa bập bùng suốt cho đến tận rạng sáng, thì bấy giờ hắn giật mình tỉnh giấc hoảng hốt, bảo rằng phải đi ngay lập tức, ngay phút này.

Tôi nài nỉ hắn đừng có nghĩ đến chuyện đi đứng gì lúc này và bảo rằng hắn chưa hoàn toàn khỏe mạnh để di chuyển đâu; nhưng hắn một mực đòi đi, và rồi hắn đứng dậy, dẫu cho bước chân vẫn còn lảo đảo và thoạt đầu chẳng tài nào đứng vững vàng quá nổi hai phút liền, nhưng hắn quyết không chịu khuất phục, bắt tôi phải giúp hắn mặc lại bộ quần áo mà tôi đã tận tình giặt giũ và phơi khô hết sức có thể trong lúc hắn ngủ mê mệt. Cuối cùng tôi cũng xoay sở mặc xong cho hắn, nhưng bộ đồ thì đã hỏng bét hoàn toàn, còn trông hắn thì thảm hại không sao tả xiết với gương mặt tái mét cùng một vết rách toác trên trán đã được tôi rửa sạch và băng lại bằng chiếc khăn tay. Hắn chỉ có thể mặc áo khoác bằng cách cài nút vòng qua cổ, vì cánh tay bị gãy không sao xỏ vào ống tay áo nổi. Thế nhưng hắn vẫn nghiến răng chịu đựng tất cả, dẫu thỉnh thoảng lại rên rỉ đau đớn; và với đống vết xước bầm dập trên tay, vết thương trên trán cùng tứ chi cứng đờ và cánh tay gãy, hắn hoàn toàn có thừa lý do để mà rên rỉ; và khi trời vừa hửng sáng rõ mặt người, hắn đã mặc xong xuôi quần áo sẵn sàng lên đường.

– "Thị trấn nào gần đây nhất nằm trên tuyến đường đi London vậy?" hắn hỏi tôi.

Tôi bảo hắn thị trấn gần nhất là Brentwood.

– "Được rồi," hắn nói, "nếu anh chịu đi cùng tôi tới Brentwood và đưa tôi đến chỗ bác sĩ phẫu thuật nào có thể bó bột gãy tay cho tôi, tôi sẽ tặng anh một tờ giấy bạc năm bảng để tạ ơn chuyện đó cùng mọi phiền phức khác."

Tôi bảo rằng tôi sẵn sàng và vui lòng làm bất cứ việc gì hắn muốn; rồi hỏi xem có cần tôi đi mượn chiếc xe ngựa của nhà hàng xóm nào để chở hắn đi không, vì tôi bảo đi bộ cũng phải sáu dặm đường dài đấy.

Hắn lắc đầu quầy quậy. Không, không, không, hắn nói, hắn không muốn bất kỳ ai biết bất cứ điều gì về mình; hắn thà đi bộ còn hơn.

Và quả thật hắn đã đi bộ; mà lại đi bước nào ra bước nấy mới tài chứ; dù tôi biết thừa rằng trên suốt sáu dặm đường ấy, mỗi bước chân hắn đặt xuống đều thấm đẫm sự đau đớn; nhưng hắn vẫn kiên cường chịu đựng như thể chưa từng biết mệt mỏi; tôi chưa từng thấy một gã nào có sức chịu đựng đáng nể đến thế trong suốt cuộc đời phước hạnh của mình. Đôi khi hắn phải dừng chân, tựa người vào cánh cổng bên đường để lấy lại hơi thở; nhưng rồi hắn vẫn tiếp tục lê bước cho tới tận khi vào đến thị trấn Brentwood, và lúc đó hắn bảo: "Đưa tôi đến nhà bác sĩ phẫu thuật gần nhất," và tôi đứng chờ trong lúc hắn được bó bột cánh tay, việc đó mất khá nhiều thời gian. Vị bác sĩ phẫu thuật muốn giữ hắn lại Brentwood cho đến khi vết thương khá lên, nhưng hắn bảo tuyệt đối không đời nào có chuyện đó, hắn phải lên London ngay lập tức không được phép chậm trễ dù chỉ một phút; thế nên vị bác sĩ đành tìm cách băng bó cho hắn thoải mái nhất có thể và treo tay hắn lên bằng một chiếc đai vải.

Robert Audley giật mình. Một chi tiết liên quan đến chuyến đi Liverpool của ông bỗng chốc ùa về trong trí nhớ. Ông nhớ lại người nhân viên từng gọi với theo ông để thông báo rằng có một hành khách đã đặt vé lên boong tàu Victoria Regia chỉ trong vòng một tiếng đồng hồ trước khi con tàu khởi hành; một thanh niên với cánh tay treo lủng lẳng trong đai vải, người tự xưng bằng một cái tên rất phổ biến nào đó mà Robert đã quên bẵng mất.

– Khi cánh tay đã được băng bó xong xuôi, – Luke tiếp tục kể, – hắn bảo vị bác sĩ: "Ông có thể cho tôi mượn một cây bút chì để viết vài dòng trước khi tôi rời đi không?" Vị bác sĩ mỉm cười lắc đầu: "Cậu sẽ không bao giờ có thể viết lách gì bằng cái tay vừa mới nắn bó đó trong ngày hôm nay đâu," ông ta vừa nói vừa chỉ vào cánh tay vừa được băng bó. "Có lẽ vậy," chàng thanh niên điềm tĩnh đáp, "nhưng tôi có thể viết bằng tay kia." "Hay để tôi viết hộ cậu nhé?" vị bác sĩ đề nghị. "Không, cảm ơn ông," người kia đáp; "những gì tôi phải viết là chuyện riêng tư. Nếu ông có thể cho tôi xin vài chiếc phong bì, tôi sẽ vô cùng cảm kích."

Nói đoạn, vị bác sĩ đi lấy phong bì, còn chàng thanh niên thì dùng tay trái lấy chiếc sổ tay ra khỏi túi áo khoác; phần bìa bị ướt và bẩn thối nhưng ruột sổ bên trong vẫn khá sạch sẽ, hắn xé ra hai tờ giấy rồi bắt đầu viết lên đó như ông đã thấy; hắn viết bằng tay trái một cách vô cùng vụng về, chậm chạp, nhưng cuối cùng cũng xoay xở hoàn thành được những dòng mà ông đã thấy, rồi nhét hai mẩu giấy viết chữ đó vào những chiếc phong bì mà vị bác sĩ mang đến, dán kín lại, dùng bút chì vẽ một dấu chéo lên một chiếc, còn chiếc kia thì để trống không; sau đó hắn trả công cho vị bác sĩ, và vị bác sĩ hỏi xem còn có thể giúp gì thêm cho hắn không, có thể thuyết phục hắn ở lại Brentwood cho đến khi tay lành hẳn được không; nhưng hắn bảo không, không, điều đó là bất khả thi; rồi hắn quay sang bảo tôi: "Đi ra nhà ga tàu hỏa với tôi đi, tôi sẽ trả cho anh những gì đã hứa."

Thế là tôi đi ra nhà ga với hắn. Chúng tôi đến kịp lúc chuyến tàu dừng lại ở Brentwood lúc tám giờ rưỡi, và vẫn còn dư ra năm phút. Thế là hắn kéo tôi ra một góc sân ga và bảo: "Tôi muốn nhờ anh chuyển mấy bức thư này hộ tôi," và tôi bảo tôi sẵn lòng. "Được rồi, thế thì," hắn nói; "nghe đây; anh biết dinh thự Audley Court chứ?" "Biết chứ," tôi đáp, "tôi thừa biết là đằng khác, vì người yêu tôi làm hầu gái trong đó mà." "Hầu gái cho ai?" hắn hỏi. Thế là tôi bảo hắn: "Hầu gái cho phu nhân, vị phu nhân mới vốn là gia sư cũ ở nhà ông Dawson." "Được rồi, thế thì," hắn nói; "bức thư có đánh dấu chéo trên phong bì này là gửi cho Phu nhân Audley, nhưng anh phải chắc chắn tận tay trao nó cho bà ấy; và nhớ cẩn thận đừng để ai nhìn thấy lúc anh đưa nhé." Tôi hứa sẽ làm đúng như vậy, và hắn trao cho tôi bức thư đầu tiên. Rồi hắn lại nói: "Anh có biết ông Audley, cháu trai của Ngài Michael không?" và tôi đáp: "Có, tôi có nghe người ta nhắc đến ngài ấy, và nghe nói ngài ấy là một tay chơi sành điệu nhưng rất cởi mở, dễ gần" (vì tôi nghe người ta kể về ông mà), Luke nói thêm bằng giọng chêm xen. "Này nhé," chàng thanh niên nói tiếp, "anh phải đưa bức thư còn lại này cho ông Robert Audley, người đang trọ tại quán trọ Sun Inn ở trong làng;" và tôi bảo hắn cứ yên tâm đi, vì tôi thuộc làu cái quán trọ Sun Inn ấy từ bé đến lớn rồi. Thế là hắn đưa cho tôi bức thư thứ hai, cái bức mà trên phong bì chẳng viết chữ nào cả, rồi hắn trao cho tôi tờ giấy bạc năm bảng đúng như đã hứa; đoạn hắn bảo: "Chào anh, và cảm ơn vì mọi phiền phức đã qua," rồi bước lên một toa tàu hạng hai; và hình ảnh cuối cùng tôi thấy về hắn là một gương mặt trắng bệch như tờ giấy viết thư, cùng một miếng băng dán to tướng dán chéo hình dấu cộng trên trán.

– George tội nghiệp! George tội nghiệp của tôi!

– Tôi quay trở lại Audley, thẳng tiến đến quán trọ Sun Inn và tìm gặp ông, với ý định sẽ trao trọn vẹn cả hai bức thư một cách trung thực, có Chúa chứng giám cho tôi lúc đó; nhưng chủ quán trọ bảo rằng ông đã khởi hành đi London từ sáng hôm đó rồi, và hắn cũng chẳng biết khi nào ông quay về, cũng chẳng rõ địa chỉ nơi ông ở bên London, dù hắn bảo hình như ông ở trong mấy khu dinh thự luật sư gì đó, kiểu như Đại sảnh Westminster hay khu Doctors' Commons hay đại loại thế. Thế thì tôi phải làm sao đây? Tôi chẳng thể gửi thư qua đường bưu điện vì có biết địa chỉ mô tê nào đâu để mà đề bì thư, mà tôi lại chẳng thể tận tay trao cho ông được, trong khi lại được dặn dò kỹ lưỡng là không được để bất kỳ ai khác hay biết về chuyện đó; thế nên tôi chẳng còn cách nào khác ngoài việc chờ đợi xem ông có quay về hay không, và kiên nhẫn đợi thời cơ thích hợp để trao nó cho ông.

Tôi nghĩ tối hôm đó mình sẽ tạt qua Audley Court gặp Phoebe, để dò la từ con bé xem khi nào có cơ hội gặp phu nhân của nó, vì tôi biết con bé có thể xoay sở được nếu nó muốn. Thế là hôm đó tôi nghỉ làm, dẫu đúng ra không nên làm thế, cứ lảng vảng đi chơi lêu lổng cho đến tận chập tối, rồi mới lân la ra mấy đám cỏ phía sau dinh thự Court, và quả nhiên ở đó tôi thấy Phoebe đang đứng chờ sẵn bên cánh cửa gỗ trên bức tường vườn để ngóng tôi.

Tôi vừa trò chuyện với con bé một lúc thì nhận ra ngay nó đang có tâm sự bất ổn và tôi đã nói thẳng điều đó với nó.

– "Ừ thì," nó đáp, "tôi không được khỏe cho lắm tối nay, vì hôm qua tôi gặp chút rắc rối và vẫn chưa hoàn hồn lại được."

– "Rắc rối cơ à," tôi nói. "Chắc là cô lại cãi nhau với mụ chủ nhà rồi chứ gì."

Con bé không đáp lời tôi ngay, mà lại nở một nụ cười kỳ quặc nhất mà tôi từng thấy, rồi một lát sau nó mới nói:

– "Không đâu Luke, chẳng có chuyện gì loại ấy đâu; và hơn thế nữa, chẳng có ai đối xử với tôi thân thiện hơn phu nhân của tôi đâu. Tôi nghĩ bà ấy sẵn sàng làm bất cứ điều gì vì tôi ấy chứ; và tôi nghĩ, dù đó là một ít gia súc nông trại, đồ đạc trong nhà hay đại loại thế, hay là quyền nhượng lại một quán rượu đi chăng nữa, bà ấy cũng sẽ chẳng từ chối bất cứ thứ gì tôi mở lời xin đâu."

Tôi không sao tài nào hiểu nổi điều đó, bởi mới chỉ vài hôm trước chính con bé còn kể với tôi rằng mụ chủ của nó vừa ích kỷ vừa hoang phí, và chúng ta có đợi mút mùa cũng chẳng mong vòi vĩnh được thứ gì từ mụ ta.

Thế nên tôi mới bảo nó: "Ơ hay, sao chuyện này xảy ra đột ngột thế hả Phoebe?" và nó đáp: "Ừ, đột ngột thật đấy"; rồi nó lại mỉm cười, đúng cái nụ cười y hệt như lúc trước. Nghe vậy, tôi bèn đanh mặt lại và gắt lên:

– "Tôi nói cho cô biết nhé, cô em, cô đang giấu giếm tôi chuyện gì đấy; một điều gì đó mà cô vừa được nghe kể, hoặc một bí mật nào đó mà cô vừa khám phá ra; và nếu cô tưởng mình có thể giở trò mèo đó với tôi thì cô lầm to rồi đấy, tôi cứ cảnh cáo trước là như thế."

– Thế nhưng con bé chỉ cười xòa cho qua chuyện và bảo: "Trời ạ Luke, sao lại nhét mấy cái ý nghĩ vớ vẩn ấy vào đầu thế hả anh?"

– "Có lẽ người khác cũng biết giữ bí mật giỏi giang chẳng kém gì cô đâu," tôi nói, "và có lẽ người khác cũng biết cách kết giao bạn bè chẳng thua kém gì cô đâu. Hôm qua có một quý ông tới tìm gặp phu nhân của cô đấy, phải không nào — một thanh niên cao ráo để râu nâu ấy mà?"

Thay vì trả lời tôi một cách đàng hoàng như một con người tử tế, cô em họ Phoebe của tôi lại bỗng nhiên òa khóc nức nở, vặn vẹo đôi tay và làm rùm beng lên một trận ra điều khổ sở lắm, khiến tôi phát bực chẳng tài nào hiểu nổi con bé đang giở trò gì nữa.

Nhưng rồi dần dần tôi cũng cạy miệng bắt nó khai ra, vì tôi nhất quyết không chịu nhượng bộ trước mấy trò vô lý đó; và cuối cùng nó kể cho tôi nghe chuyện nó đã ngồi làm việc bên cửa sổ căn phòng nhỏ của mình ra sao — căn phòng nằm ở tầng trên cùng của ngôi nhà, vươn hẳn lên một trong những chóp mái hình tam giác và nhìn thẳng xuống lối đi rợp bóng cây bách đoạn, khu vườn cây bụi và cái giếng cạn — thì nó nhìn thấy phu nhân đang đi dạo cùng một vị khách lạ mặt, và họ đi dạo cùng nhau suốt một khoảng thời gian dài, cho đến tận lúc sau đó họ..."

– Dừng lại! – Robert kêu lên. – Tôi biết phần còn lại rồi.

– Vâng, Phoebe kể cho tôi nghe toàn bộ những gì nó chứng kiến, và nó bảo rằng chỉ ít lâu sau đó nó đã chạm mặt phu nhân, giữa hai người đã xảy ra một chuyện — không quá to tát, nhưng đủ để mụ chủ hiểu rằng người đầy tớ mà mụ vẫn hay khinh miệt coi thường đã nắm thóp được bí mật có thể khiến mụ phải cúi đầu khuất phục trước quyền lực của con hầu đó cho đến tận ngày cuối cùng trong đời.

– "Và mụ ấy đang nằm trong tay tôi đấy, Luke ạ," Phoebe nói; "và mụ ấy sẽ làm bất cứ điều gì trên đời này cho chúng ta nếu chúng ta giữ kín bí mật đó hộ mụ."

Thế nên ông thấy đấy, cả Phu nhân Audley lẫn cô hầu gái của mụ đều đinh ninh rằng vị quý ông mà tôi đã tống tiễn an toàn bằng chuyến tàu lên London ấy đang nằm chết dưới đáy giếng cạn rồi. Nếu tôi giao nộp bức thư đó ra, họ sẽ vỡ lẽ ra điều ngược lại; và nếu tôi giao bức thư, Phoebe và tôi sẽ mất béng cơ hội đổi đời nhờ vào mụ chủ của con bé.

Thế nên tôi đã giữ lại bức thư, giữ kín bí mật của mình, còn phu nhân thì giữ kín bí mật của mụ ta. Nhưng tôi thầm nghĩ nếu mụ ta rộng lượng với tôi, hào phóng dâng hiến số tiền tôi cần một cách thoải mái, thì tôi sẽ khai tuốt tuồn tuột mọi chuyện để giải tỏa tâm lý cho mụ.

Nhưng mụ ta đã không làm thế. Bất cứ thứ gì mụ cho tôi, mụ đều ném vào mặt tôi hệt như đối xử với một con chó vậy. Bất cứ khi nào mụ mở miệng nói chuyện với tôi, giọng điệu ấy chẳng khác gì nói với một con chó; và thực ra mụ vốn ngứa mắt chẳng tài nào chịu nổi loài chó. Chẳng có từ ngữ cay độc nào mà mụ không thốt ra khi nhắc đến tôi; chẳng có cáiất hất cằm nào của mụ lại không mang vẻ kiêu kỳ và khinh miệt tột độ đối với tôi; và máu trong người tôi sôi sục lên vì căm hận mụ, thế nên tôi vẫn cứ giấu nhẹm bí mật và mặc kệ mụ tiếp tục ôm ghì lấy bí mật của chính mình. Tôi đã bóc cả hai bức thư ra đọc, nhưng chẳng hiểu nổi đầu cua nheo gì trong đó, thế nên tôi đem giấu tiệt đi; và từ đêm đó cho đến tận bây giờ, chẳng một sinh linh nào ngoài tôi được nhìn thấy chúng cả.

Luke Marks đã kể xong câu chuyện của mình, nằm lặng thím kiệt sức sau khi nói quá nhiều. Hắn đăm đăm nhìn nét mặt Robert Audley, hoàn toàn chuẩn bị tinh thần đón nhận những lời quở trách, những bài giáo huấn nghiêm khắc; bởi trong thâm tâm hắn láng thoáng nhận thức được rằng mình đã làm sai.

Nhưng Robert không hề lên lớp hắn; ông chẳng có chút hứng thú nào với một vai trò mà bản thân cảm thấy không hề phù hợp để đảm nhận.

Robert Audley cứ ngồi bên người bệnh mãi cho đến tận lúc trời hửng sáng, người đàn ông bất hạnh chìm vào giấc ngủ li bì chẳng bao lâu sau khi vừa dứt câu chuyện. Bà cụ thì đã ngáy khò khò ngon lành suốt cả buổi diễn biến lời thú tội của con trai. Phoebe thì đang ngủ say sưa trên chiếc giường xếp ở căn phòng bên dưới; thế nên vị luật sư trẻ tuổi trở thành người canh thức duy nhất.

Ông không sao chợp mắt nổi; trong đầu ông lúc này chỉ quẩn quanh câu chuyện vừa nghe được. Ông chỉ biết thầm cảm tạ Chúa vì sự bình an của người bạn thân, và cầu nguyện cho bản thân có thể sớm đến gặp Clara Talboys để thốt lên rằng: "Anh trai của cô vẫn còn sống, và đã được tìm thấy rồi."

Phoebe bước lên lầu vào lúc tám giờ sáng, sẵn sàng thay ca túc trực bên giường bệnh, còn Robert Audley thì rời đi để tìm một phòng trọ bên quán trọ Sun Inn. Trời đã chạng vạng tối khi ông tỉnh giấc sau một giấc ngủ dài không mộng mị, chỉnhốn lại trang phục rồi bước xuống dùng bữa tối tại căn phòng khách nhỏ nơi anh và George từng ngồi bên nhau cách đó vài tháng.

Chủ quán trọ thân hành phục vụ bữa tối và thông báo cho ông hay rằng Luke Marks đã qua đời vào lúc năm giờ chiều hôm đó. "Cậu ta ra đi khá đột ngột," người đàn ông nói, "nhưng rất thanh thản."

Tối hôm đó, Robert Audley viết một bức thư dài gửi cho Madame Taylor, thông qua địa chỉ của Monsieur Val tại Villebrumeuse; một bức thư dài trong đó ông kể lại cho người đàn bà khốn khổ từng mang qua bao nhiêu cái tên, và sẽ còn phải mang một cái tên giả mạo cho đến hết quãng đời còn lại, nghe toàn bộ câu chuyện mà người sắp chết đã thổ lộ với ông.

– Có lẽ việc biết rằng người chồng trẻ tuổi của mình đã không thiệt mạng dưới bàn tay độc ác của mụ sẽ đem lại chút an ủi nào đó cho mụ, – ông thầm nghĩ, – nếu như cái tâm hồn ích kỷ ấy còn sót lại chút cảm xúc xót xa hay trắc ẩn dành cho người khác.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.