Bí Mật Của Phu Nhân Audley

Lượt đọc: 303 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2
Trên Boong Tàu Argus.

❊ ❊ ❊

Anh bẻ mẩu xì gà ném xuống nước, gác khuỷu tay lên mạn tàu và thừ người nhìn những con sóng vỗ.

– Sao chúng cứ tẻ nhạt thế nhỉ, – anh nói, – xanh dương rồi xanh lá, rồi ngọc bích; ngọc bích, xanh dương rồi xanh lá; ngắm nghía thế này thì cũng hay thật đấy, nhưng mà ngắm suốt ba tháng liền thì đúng là hơi quá quắt, nhất là khi...

Anh bỏ lửng câu nói; tâm trí anh dường như trôi dạt đi đâu mất ngay giữa chừng, bay bổng tới tận ngàn dặm xa xôi.

– Tội nghiệp cô bé, hẳn là em ấy sẽ vui lắm đây! – anh lẩm bẩm, mở hộp xì gà và lững thững ngắm nghía bên trong. – Vui mừng và ngạc nhiên biết mấy! Tội nghiệp em. Lại còn sau ba năm rưỡi nữa chứ; chắc chắn em ấy sẽ bất ngờ lắm đây.

Anh là một thanh niên độ chừng hai lăm tuổi, khuôn mặt ngăm đen vì dãi dầu nắng gió; anh có đôi mắt nâu đẹp đẽ ẩn chứa nụ cười lười biếng lấp lánh sau hàng mi đen, cùng bộ râu quai nón và ria mép rậm rạp che kín phần dưới khuôn mặt. Anh cao lớn và vạm vỡ; khoác trên mình bộ âu phục xám rộng thùng thình và đội chiếc mũ nỉ vứt hờ hững trên mái tóc đen. Tên anh là George Talboys, và anh là hành khách khoang sau trên con tàu tốt Argus, chuyên chở len Australia và đang hải hành từ Sydney đến Liverpool.

Khoang sau tàu Argus có rất ít hành khách. Một chủ vựa len lớn tuổi đang trên đường về quê hương cùng vợ và các con gái sau khi đã kiếm được khối tài sản kết xù ở các thuộc địa; một nữ gia sư ba mươi ba tuổi đang về nước để kết hôn với người đàn ông mà cô đã đính ước từ mười lăm năm trước; cô tiểu thư đa cảm của một nhà buôn rượu vang giàu có người Australia, được gửi sang Anh để học nốt cho xong chữ nghĩa; và George Talboys, đó là toàn bộ những hành khách hạng nhất trên tàu.

Chàng thanh niên George Talboys này chính là linh hồn của con tàu; chẳng ai biết anh là ai, làm nghề gì hay đến từ đâu, nhưng tất cả mọi người đều quý mến anh. Anh ngồi ở cuối bàn ăn, phụ giúp thuyền trưởng tiếp đón mọi người trong bữa ăn thân mật. Anh tự tay khui những chai champagne và nâng ly với tất cả mọi người có mặt; anh kể chuyện cười và cất lên những tràng cười giòn giã đến mức kẻ khó tính nhất cũng phải phì cười vì đồng điệu. Anh rất cừ trong các trò đỏ đen như chơi bài phỏm hay vingt-et-un, cùng những trò tiêu khiển vui nhộn khác, khiến cả nhóm nhỏ quây quần bên ngọn đèn khoang tàu chìm đắm trong niềm vui trong lành đến nỗi dẫu ngoài khơi bão tố có gầm thét trên đầu thì họ cũng chẳng mảy may hay biết; nhưng anh cũng thẳng thắn thừa nhận rằng mình chẳng có chút năng khiếu nào với môn bài tây whist, và chẳng phân biệt được con mã với con xe trên bàn cờ vua.

Quả thực, anh Talboys không phải là một quý ông uyên bác gì cho cam. Nữ gia sư nhợt nhạt từng cố bắt chuyện với anh về văn học thời thượng, nhưng George chỉ đưa tay gãi râu, trân trân nhìn cô và thỉnh thoảng đáp: "À, vâng, thề có chúa!", hoặc "Chắc chắn rồi, ừ!"

Cô tiểu thư đa cảm đang trên đường về nước để hoàn tất việc học cũng từng đem Shelley và Byron ra để thử tài anh, nhưng anh lại thản nhiên cười lớn vào mặt cô, cứ như thể thơ ca chỉ là một trò đùa. Viên chủ vựa len dò hỏi anh về chính trị, nhưng xem ra anh chẳng mấy mặn mà hay am hiểu sâu sắc; thế là mọi người đành để mặc anh muốn làm gì thì làm, hút xì gà trò chuyện với thủy thủ, lang thang dựa mạn tàu ngắm sóng nước, và lấy lòng tất cả mọi người theo cách riêng của mình.

Thế nhưng, khi con tàu Argus chỉ còn cách nước Anh chừng nửa tháng hải trình, ai nấy đều nhận ra sự thay đổi ở George Talboys. Anh trở nên bồn chồn và đứng ngồi không yên; lúc thì vui mừng đến mức tiếng cười rộn rã vang vọng cả khoang tàu, lúc lại thẫn thờ và đăm chiêu suy nghĩ. Dù rất được lòng thủy thủ đoàn, nhưng cuối cùng họ cũng phát ngấy việc phải trả lời những câu hỏi dồn dập của anh về thời gian dự kiến cập bến. Liệu có phải mười ngày nữa không, mười một, mười hai, hay mười ba? Gió có thuận lợi không? Tàu chạy được mấy hải lý một giờ? Rồi bỗng nhiên, một cơn thịnh nộ bộc phát cuốn lấy anh, khiến anh dậm chân thình thịch lên boong tàu, lớn tiếng kêu gào rằng đây là một chiếc tàu già nua mục nát, và lũ chủ tàu đúng là những kẻ lừa đảo khi dám quảng cáo nó là con tàu lướt sóng nhanh Argus. Nó chẳng thích hợp để chở hành khách; nó chẳng thích hợp để chở những sinh linh đang sống với đầy rẫy tâm tư và nhịp đập trái tim; nó chẳng dùng được việc gì ngoài việc chở những kiện len ngốc nghếch, dẫu có mục nát giữa biển khơi thì cũng chẳng thiệt hại gì.

Mặt trời đang khuất dần sau những con sóng khi George Talboys châm điếu xì gà vào buổi tối tháng Tám ấy. Chỉ còn mười ngày nữa thôi, các thủy thủ đã nói với anh chiều hôm đó, là họ sẽ nhìn thấy bờ biển nước Anh. "Tôi sẽ xuống xuồng ở chiếc thuyền đầu tiên tiếp cận chúng ta", anh kêu lên; "tôi sẽ bơi xuồng thúng mà vào bờ. Thề có Chúa, nếu cần thiết, tôi sẽ tự bơi vào đất liền."

Những người bạn của anh ở khoang sau, ngoại trừ nữ gia sư nhợt nhạt, đều cười xòa trước sự nóng vội của anh; còn cô thì thở dài nhìn chàng thanh niên đang bứt rứt vì những giờ phút trôi qua quá chậm chạp, đẩy phắt ly rượu chưa uống ra xa, bồn chồn lăn lộn trên chiếc ghế bành ở khoang, lao lên lao xuống cầu thang mạn tàu và đăm đăm nhìn ra biển.

Khi vành mặt trời đỏ rực chìm hẳn xuống làn nước, nữ gia sư bước lên cầu thang khoang tàu để dạo bước hóng gió trong lúc các hành khách vẫn đang ngồi nhâm nhi ly rượu bên dưới. Cô dừng lại khi đến cạnh George, đứng bên anh và ngắm nhìn sắc đỏ đang phai dần trên bầu trời phương tây.

Người phụ nữ này vốn rất trầm tính và kín đáo, hiếm khi tham gia các trò giải trí ở khoang sau, chưa từng cười lớn và rất ít nói; thế nhưng cô và George Talboys lại là những người bạn vô cùng tâm đắc suốt chuyến hải trình.

– Xì gà của tôi có làm phiền cô không, cô Morley? – anh vừa nói vừa lấy điếu thuốc ra khỏi miệng.

– Không hề gì; xin anh cứ hút tự nhiên. Tôi chỉ lên đây ngắm hoàng hôn thôi. Buổi tối mới đẹp làm sao!

– Phải, phải, chắc thế, – anh đáp với vẻ số ruột; – thế mà sao dài đằng đẵng, dài quá sức chịu đựng! Thêm mười ngày dài dằng dặc và mười đêm trăn trở nữa chúng ta mới đặt chân lên bờ.

– Vâng, – cô Morley thở dài. – Anh mong thời gian trôi mau đến thế sao?

– Tôi ư? – George thốt lên. – Thật lòng là có chứ. Cô không thế à?

– Gần như là không.

– Nhưng ở nước Anh chẳng lẽ không có ai để cô yêu thương hay sao? Chẳng lẽ không có ai đang ngóng chờ sự trở về của cô hay sao?

– Tôi hy vọng là có, – cô đáp với giọng nghiêm nghị. Hai người chìm vào im lặng một lúc lâu, anh rít xì gà với sự nôn nóng cuồng nhiệt như thể chính sự bứt rứt của mình có thể thúc đẩy tốc độ con tàu; còn cô thì phóng tầm mắt ra khoảng ánh sáng đang lụi tàn bằng đôi mắt màu xanh u sầu – đôi mắt dường như đã mờ đục đi vì miệt mài đọc những trang sách in chi chít chữ và những đường kim mũi chỉ khó nhằn; đôi mắt có lẽ cũng đã kém phần tinh anh đi đôi chút bởi những giọt nước mắt thầm rơi trong đêm vắng.

– Nhìn kìa! – George đột ngột lên tiếng, chỉ tay về hướng ngược lại với hướng cô Morley đang nhìn, – kìa trăng lưỡi liềm!

Cô ngước nhìn vầng trăng khuyết nhợt nhạt, khuôn mặt cô cũng tái nhợt và phờ phạc chẳng kém.

– Đây là lần đầu tiên chúng ta nhìn thấy nó đấy.

– Chúng ta phải ước một điều! – George nói. – Tôi biết mình ước gì rồi.

– Gì thế?

– Ước gì chúng ta nhanh chóng về đến nhà.

– Còn điều ước của tôi là mong sao khi về đến nơi, chúng ta sẽ không phải đối mặt với nỗi thất vọng nào, – nữ gia sư buồn bã đáp.

– Thất vọng ư!

Anh giật nảy mình như vừa phải roi và gặng hỏi cô có ý gì khi nhắc đến hai từ thất vọng.

– Ý tôi thế này, – cô nói, giọng nói gấp gáp cùng đôi bàn tay gầy gò cử động đầy bồn chồn; – ý tôi là khi hành trình sắp đi đến hồi kết, niềm hy vọng trong lòng tôi lại lụi tàn; một nỗi sợ hãi tê tái bao trùm lấy tôi rằng vào phút chót, mọi chuyện có thể sẽ chẳng mấy tốt đẹp. Người mà tôi trở về để đoàn tụ có thể đã thay đổi tình cảm dành cho tôi; hoặc anh ấy vẫn giữ nguyên vẹn tình cảm xưa cho đến tận khoảnh khắc nhìn thấy tôi, để rồi vụt mất nó trong chớp mắt khi trông thấy gương mặt phờ phạc, kém sắc này của tôi – bởi vì tôi từng được gọi là một thiếu nữ xinh đẹp, anh Talboys ạ, vào cái ngày tôi nhổ neo đi Sydney mười lăm năm trước; hoặc anh ấy có thể đã bị thế gian xo vần trở nên ích kỷ, vụ lợi, và sẽ đón nhận tôi chỉ vì khối tài sản mười lăm năm chắt chiu dành dụm của tôi. Thậm chí, anh ấy có thể đã qua đời. Anh ấy có thể vẫn khỏe mạnh, chẳng hạn như thế, cho đến tận một tuần trước ngày tàu cập bến, rồi đúng vào tuần cuối cùng ấy lại mắc bệnh dịch và trút hơi thở cuối cùng chỉ một tiếng trước khi tàu chúng ta thả neo tại cửa sông Mersey. Tôi nghĩ đến tất cả những điều đó, anh Talboys ạ, tự diễn lại những kịch bản ấy trong đầu và cảm nhận nỗi đau đớn xé lòng của chúng đến hai mươi lần một ngày. Hai mươi lần một ngày, – cô lặp lại; – sao cơ chứ, tôi nghĩ đến nó cả ngàn lần một ngày ấy chứ.

George Talboys đứng bất động, tay cầm điếu xì gà, chăm chú lắng nghe cô đến mức khi cô vừa dứt lời, bàn tay anh lỏng ra và điếu xì gà rơiỏm xuống nước.

– Tôi tự hỏi, – cô tiếp tục, giống như đang lẩm bẩm một mình hơn là nói với anh, – tôi tự hỏi khi nhìn lại quãng đường đã qua, sao lúc tàu nhổ neo mình lại tràn đầy hy vọng đến thế; lúc ấy tôi chưa từng nghĩ đến hai từ thất vọng, mà chỉ mường tượng ra niềm vui ngày hội ngộ, tưởng tượng cả những lời sẽ thốt lên, từng giọng điệu, từng ánh nhìn; thế nhưng suốt tháng cuối cùng của chuyến hải trình này, từng ngày rồi từng giờ, tim tôi lại chùng xuống và những mộng tưởng hy vọng cứ phai nhạt dần, khiến tôi lo sợ cái kết cục ấy chẳng khác nào việc biết mình đang đặt chân đến nước Anh để dự một đám tang.

Chàng thanh niên đột ngột đổi tư thế, quay phắt mặt về phía người đồng hành với vẻ mặt đầy hoảng hốt. Dưới ánh sáng mờ ảo, cô nhận ra sắc hồng đã hoàn toàn bay biến khỏi má anh.

– Thật là ngốc nghếch! – anh kêu lên, nện mạnh nắm đấm xuống mạn tàu, – sao mình lại ngốc nghếch đến mức để bị dọa cho sợ hãi thế này nhỉ? Tại sao cô lại đến đây và nói với tôi những điều này? Tại sao cô lại đến làm tôi sợ chết khiếp lên được trong khi tôi đang trên đường trở về thẳng với người phụ nữ tôi yêu; với một cô gái có trái tim chung thủy tựa ánh sáng Thiên đàng; người mà tôi tin chắc sẽ chẳng bao giờ thay đổi, cũng như tôi chẳng đời nào chờ mong thấy một vầng thái dương khác mọc lên vào ngày mai? Tại sao cô lại đến đây và nhồi nhét những ý nghĩ vẩn vơ ấy vào đầu tôi trong khi tôi đang trên đường về với người vợ yêu dấu của mình cơ chứ?

– Vợ anh ư, – cô nói; – điều đó khác chứ. Nỗi sợ của tôi chẳng có lý do gì để làm anh hoảng sợ cả. Tôi trở về nước Anh để đoàn tụ với người đàn ông mà tôi đã đính ước kết hôn từ mười lăm năm trước. Hồi đó anh ấy quá nghèo để có thể cưới vợ, và khi tôi nhận được lời mời làm gia sư cho một gia đình giàu có ở Australia, tôi đã thuyết phục anh ấy để mình chấp nhận công việc đó, nhằm giúp anh ấy tự do, thảnh thơi lập nghiệp, trong lúc tôi tích cóp một ít tiền để hai đứa bắt đầu cuộc sống chung. Tôi chưa bao giờ định xa cách lâu đến thế, nhưng đường đời xô đẩy khiến anh ấy gặp nhiều trắc trở ở nước Anh. Đó là câu chuyện của tôi, và anh có thể hiểu được những nỗi sợ hãi của tôi. Chúng không cần phải ảnh hưởng đến anh. Trường hợp của tôi là một ngoại lệ.

– Của tôi cũng thế thôi, – George sốt sắng đáp. – Tôi nói với cô rằng trường hợp của tôi là một ngoại lệ: dẫu cho tôi xin thề với cô rằng cho đến tận khoảnh khắc này, tôi chưa từng mảy may hoài nghi hay sợ hãi về kết cục của chuyến trở về này. Nhưng cô nói đúng; những nỗi sợ của cô chẳng dính dáng gì đến tôi cả. Cô đã đi vắng mười lăm năm; bao nhiêu chuyện có thể xảy ra trong ngần ấy năm trời. Còn tôi, tính ra mới chỉ có ba năm rưỡi tròn trịa kể từ ngày tôi rời nước Anh. Chuyện quái quỷ gì có thể xảy ra trong một khoảng thời gian ngắn ngủi nhường ấy cơ chứ?

Cô Morley nhìn anh với nụ cười đượm buồn nhưng không nói gì. Sự nhiệt thành đến mức cuồng nhiệt, nét tươi mới và thiếu kiên nhẫn trong bản tính của anh quá đỗi xa lạ và mới mẻ đối với cô, khiến cô nhìn anh nửa như thán phục, nửa như xót xa.

– Vợ yêu dấu của tôi! Người vợ hiền thảo, ngây thơ và đằm thắm của tôi! Cô có biết không, cô Morley, – anh nói, với toàn bộ sự hào hứng quen thuộc trong giọng điệu, – rằng tôi đã rời đi khi cô bé của tôi đang say ngủ, bồng trên tay đứa con thơ, và chẳng để lại gì ngoài vài dòng chữ nhòe nhoẹt để giải thích lý do vì sao người chồng chung thủy của nàng lại nhẫn tâm rũ bỏ nàng?

– Rũ bỏ nàng ư! – nữ gia sư thốt lên.

– Phải. Tôi từng là một sĩ quan tập sự trong một trung đoàn kỵ binh khi tôi gặp được ái nữ đời mình. Chúng tôi đóng quân tại một thị trấn cảng tẻ nhạt, nơi cưng của tôi sống cùng người cha tồi tàn của nàng, một sĩ quan hải quân về hưu hưởng lương bán phần; một tay bịp bợm chính hiệu, nghèo rớt mồng tơi và lúc nào cũng chỉ dán mắt vào lợi ích trước mắt. Tôi nhìn thấu mọi chiêu trò nông cạn của lão nhằm gài bẫy một đứa trong bọn chúng tôi cho cô con gái xinh đẹp của hắn. Tôi nhìn thấu những cái bẫy đáng thương, đáng khinh và lồ lộ rõ mồn một mà lão giăng ra để lũ kỵ binh to xác chúng tôi bước chân vào. Tôi nhìn thấu những bữa tiệc trà sang chảnh bề ngoài nhưng rách rưới bên trong và những chai vang rẻ tiền ở quán rượu; những lời khoác lác về dòng dõi cao sang; niềm kiêu hãnh và sự độc lập giả tạo, cùng những giọt nước mắt cá sấu từ đôi mắt lờ đờ của lão mỗi khi nhắc đến đứa con độc tôn. Lão là một gã đạo đức giả nát rượu, sẵn sàng bán rẻ đứa con gái tội nghiệp của tôi cho kẻ nào trả giá cao hơn. May mắn cho tôi, hóa ra lúc đó tôi lại là kẻ trả giá cao nhất; bởi vì cha tôi là một người giàu có, cô Morley ạ, và vì cả hai bên đều sét đánh tiếng sét ái tình ngay từ cái nhìn đầu tiên, nên ái nữ của tôi và tôi đã nên duyên vợ chồng. Thế nhưng, ngay khi cha tôi hay tin tôi kết cưới một cô gái nghèo kiết xác, con gái của một gã trung úy nát rượu hưởng lương hưu, ông liền viết cho tôi một bức thư giận dữ tột cùng, tuyên bố từ mặt tôi và cắt đứt khoản trợ cấp hàng năm kể từ ngày cưới.

Vì không thể tiếp tục ở lại trong một trung đoàn như thế khi chỉ sống dựa vào khoản tiền lương chết đói trong khi vẫn phải nuôi người vợ trẻ xinh đẹp, tôi đã bán lại quyền sĩ quan, thung thung nghĩ rằng trước khi số tiền đó cạn sạch, thế nào tôi cũng kiếm được một công việc ổn định. Tôi đưa vợ đến Ý, và chúng tôi sống ở đó một cách vương giả chừng nào số tiền hai ngàn bảng của tôi còn trụ được; nhưng khi khoản tiền ấy vơi dần chỉ còn khoảng hai trăm bảng hoặc đại loại thế, chúng tôi đành quay về nước Anh, và vì vợ tôi có sở thích muốn ở gần người cha phiền toái kia của nàng, chúng tôi quyết định định cư tại thị trấn nghỉ mát nơi lão đang sinh sống. Chà, ngay khi lão già đó nghe tin tôi vẫn còn giắt túi hai trăm bảng, lão liền bày tỏ thứ tình cảm thắm thiết đến kỳ lạ và nài nỉ chúng tôi dọn về sống chung nhà. Chúng tôi đồng ý, tất cả chỉ để làm vui lòng vợ tôi, người lúc bấy giờ có quyền đặc biệt đòi hỏi mọi ý thích ngông cuồng trong trái tim ngây thơ của nàng được chiều chuộng. Chúng tôi thực sự đã sống chung nhà với lão, và cuối cùng thì lão đã vơ vét sạch sành sanh số tiền của vợ chồng tôi; thế nhưng khi tôi phàn nàn về điều đó với vợ, nàng chỉ nhún vai bảo rằng nàng không muốn tỏ ra bất kính với "cha tội nghiệp". Thế là cha tội nghiệp đã nướng sạch số tiền ít ỏi của chúng tôi trong chớp mắt; và vì tôi cảm thấy lúc này mình bắt buộc phải đi tìm việc làm gì đó, tôi bèn phóng lên London, cố xin làm nhân viên cho văn phòng của một thương gia, hay làm kế toán, người giữ sổ sách, hoặc đại loại thế. Nhưng có lẽ trên người tôi vẫn còn vương vấn phong thái của một tay kỵ binh ngông nghênh, nên dù có làm cách nào đi nữa tôi cũng chẳng tài nào thuyết phục được ai tin vào năng lực của mình; và trong tâm trạng mệt mỏi, chán chường, tôi quay về với vợ, để rồi bắt gặp nàng đang ôm đứa con trai nối dõi dòng dõi nghèo hèn của cha nó. Tội nghiệp cô bé, nàng vô cùng chán nản; và khi tôi nói với nàng rằng chuyến đi London của tôi đã thất bại, nàng liền suy sụp hoàn toàn, oà khóc nức nở trong một cơn bão giận dỗi và trách móc, bảo rằng lẽ ra tôi không nên cưới nàng nếu chỉ có thể mang lại cho nàng nghèo đói và khổ đau; rằng tôi đã gây ra cho nàng một tội ác tột cùng khi biến nàng thành vợ mình. Thề có Chúa, cô Morley ạ, những giọt nước mắt và lời trách móc của nàng đã đẩy tôi đến bờ vực phát điên; tôi đâm ra nổi giận lôi đình với nàng, với chính bản thân tôi, với cha nàng, với thế gian và tất cả mọi người trên đời, rồi vùng vằng bỏ chạy khỏi nhà. Tôi lang thang trên các con phố suốt ngày hôm ấy, đầu óc bấn loạn và nức nở một ý định lao mình xuống biển để giải thoát cho vợ tôi, để nàng có cơ hội tìm được một tấm chồng tốt hơn. "Nếu mình tự vẫn, cha nàng chắc chắn sẽ phải nuôi nấng nàng," tôi thối chí nghĩ; "gã đạo đức giả đó đời nào chịu từ chối che chở cho con bé; nhưng chừng nào tôi còn sống, nó chẳng thể đòi hỏi gì ở lão." Tôi lang thang ra một cầu tàu bằng gỗ mục nát, định bụng sẽ ngồi đó đợi trời tối hẳn rồi lặng lẽ gieo mình xuống nước từ mỏm cầu; nhưng trong lúc ngồi đó hút tẩu, ngẩn ngơ nhìn những con hải Âu, thì có hai người đàn ông bước ra, và một trong số họ bắt đầu bàn về những mỏ vàng ở Australia cùng những cơ hội làm giàu khổng lồ ở đó. Hóa ra anh ta chuẩn bị nhổ neo đi trong vài ngày tới và đang cố thuyết phục người bạn đồng hành cùng tham gia chuyến thám hiểm.

Tôi đã đứng lắng nghe hai kẻ đó suốt hơn một tiếng đồng hồ, cứ túc tắc ngậm tẩu đi theo họ dọc cầu tàu và nghe hết mọi câu chuyện của họ. Sau đó, chính tôi là người chủ động bắt chuyện và dò la được rằng sẽ có một con tàu khởi hành từ Liverpool trong ba ngày nữa, và một trong hai gã đó sẽ đi chuyến tàu ấy. Hắn cung cấp cho tôi mọi thông tin cần thiết, đồng thời quả quyết rằng một gã trai vạm vỡ như tôi chắc chắn sẽ phất lên được ở các mỏ vàng. Ý nghĩ đó xẹt qua đầu tôi nhanh đến mức mặt tôi bừng lên nóng rực, toàn thân run rẩy vì phấn khích. Dù sao thì cách này vẫn còn hơn là nhảy xuống biển tự vẫn. Giả sử tôi lén lút rời xa vợ, để nàng lại an toàn dưới mái nhà của cha nàng, rồi sang thế giới mới gây dựng cơ nghiệp, để sau một năm quay về quăng trọn đống gia tài đó vào lòng nàng; vì hồi đó tôi quá ư lạc quan nên cứ đinh ninh mình sẽ phất lên chỉ trong vòng một năm có lẻ. Tôi cảm ơn người đàn ông nọ vì những thông tin quý giá rồi lủi thủi bước về nhà khi đêm đã về khuya. Trời mùa đông cắt da cắt thịt, nhưng lòng tôi bừng bừng ngọn lửa đam mê nên chẳng hề thấy lạnh, tôi cứ thế lê bước qua những con phố vắng tanh, tuyết rơi trắng xóa phả vào mặt, mang theo một thứ hy vọng liều lĩnh trong tim. Lão già đang ngồi nhâm nhi rượu mạnh pha nước trong phòng ăn nhỏ; còn vợ tôi thì đang ngủ say ở gác trên, ôm đứa con bé bỏng vào lòng. Tôi ngồi xuống, viết vội vài dòng nhắn gửi rằng chưa bao giờ tôi yêu nàng nhiều như lúc này, dường như đang phải rũ bỏ nàng; rằng tôi lên đường sang thế giới mới để thử vận may, và nếu thành công tôi sẽ trở về mang theo sự sung túc và hạnh phúc; còn nếu thất bại, tôi sẽ chẳng bao giờ dám quay lại nhìn mặt nàng nữa. Tôi chia đôi số tiền còn lại – hơn bốn mươi bảng một chút – thành hai phần bằng nhau, để lại một nửa cho nàng và nhét nửa kia vào túi. Tôi quỳ xuống cầu nguyện cho vợ con, cúi đầu áp lên tấm khăn trải giường trắng tinh phủ trên người họ. Bình thường tôi chẳng phải là kẻ hay cầu nguyện, nhưng Chúa biết đó là một lời cầu nguyện xuất phát từ tận đáy lòng. Tôi hôn nàng một cái, hôn con một cái rồi rón rén bò ra khỏi cửa. Cửa phòng ăn mở tung, lão già đang gục đầu ngủ gật trên tờ báo. Lão ngẩng lên khi nghe tiếng chân tôi bước ngoài hành lang và hỏi tôi đi đâu. "Ra đường hút điếu thuốc," tôi đáp; và vì đây là thói quen thường ngày của tôi nên lão tin sái cổ. Ba đêm sau, tôi đã lênh đênh giữa biển khơi trên con đường hướng về Melbourne – một hành khách đi khoang dưới, mang theo bộ đồ nghề đào vàng làm hành lý và chừng bảy xu dẻo dách trong túi.

– Và anh đã thành công ư? – cô Morley hỏi.

– Mãi cho đến khi tôi đã cạn kiệt mọi niềm hy vọng; mãi cho đến khi nghèo đói và tôi đã trở thành những người bạn tâm giao, những kẻ ngủ chung giường lâu năm đến nỗi khi nhìn lại quá khứ, tôi tự hỏi liệu cái gã kỵ binh ngông nghênh, bạt mạng, tiêu xài phóng túng và suốt ngày chè chén champagne ấy có thực sự là cùng một người với gã đang ngồi trên nền đất ẩm mốc gặm mẩu bánh mì mốc meo chốn hoang vu của thế giới mới hay không. Tôi bám víu lấy ký ức về người vợ yêu dấu, và niềm tin tuyệt đối vào tình yêu cùng sự chung thủy của nàng chính là chiếc chìa khóa vạn năng duy nhất giữ cho cấu trúc cuộc đời quá khứ của tôi không sụp đổ – là vì tinh tú duy nhất thắp sáng màn đêm dày đặc của tương lai. Tôi từng nhập nhèm chơi bời với những kẻ hư hỏng; tôi từng chìm đắm giữa bạo lực, men rượu và trác táng; nhưng chính sức mạnh thanh lọc từ tình yêu đã bảo vệ tôi bình an vô sự. Gầy gò và hốc hác, chỉ còn là cái bóng thiếu ăn của một kẻ từng tráng kiện thuở nào, có lần tôi nhìn thấy mình trong một mảnh gương vỡ và giật mình hoảng sợ trước chính khuôn mặt ấy. Nhưng tôi vẫn nghiến răng vượt qua tất cả; qua bao thất vọng và tuyệt vọng, thấp khớp, sốt rét, chết đói; đối diện ngay trước cửa tử thần, tôi vẫn kiên cường tiến bước cho đến cùng; và cuối cùng thì tôi đã chinh phục được tất cả.

Anh tràn đầy lòng dũng cảm, sự quyết tâm, niềm kiêu hãnh chiến thắng và ý thức về những khó khăn mà mình đã vượt qua, khiến nữ gia sư nhợt nhạt chỉ biết trân trân nhìn anh với sự thán phục ngỡ ngàng.

– Anh mới dũng cảm làm sao! – cô thốt lên.

– Dũng cảm ư! – anh cất lên một tràng cười giòn giã; – chẳng phải tôi đang chiến đấu vì người vợ yêu dấu của mình đó sao? Suốt quãng thời gian thử thách đen tối ấy, bàn tay trắng ngần của nàng lúc nào cũng như đang vẫy gọi tôi tiến bước về tương lai hạnh phúc! Cha mẹ ơi, tôi đã từng nhìn thấy nàng ngay trong cái lều vải rách nát tồi tàn của mình, ngồi cạnh tôi với đứa con trai trên tay, rõ mồn một hệt như những ngày tháng hạnh phúc duy nhất trong đời sống vợ chồng của chúng tôi. Cuối cùng, vào một buổi sáng sương mù ảm đạm đúng ba tháng trước, khi cơn mưa phùn thấm ướt sũng người, chìm ngập đến cổ trong bùn lầy nhơ nhớp, đói khát, kiệt quệ vì sốt rét, cứng đờ vì thấp khớp, một khối vàng nguyên cục bỗng trồi lên dưới nhát cuốc của tôi, và chỉ trong một phút, tôi đã trở thành người giàu có nhất Australia. Tôi quỵ xuống vũng bùn ướt sũng, áp chặt khối vàng vào ngực áo và lần đầu tiên trong đời, khóc òa lên như một đứa trẻ. Tôi phóng hỏa tốc về Sydney, bán chỗ vàng thu về khoản tiền trị giá hơn 20.000 bảng, rồi hai tuần sau đó đặt vé lên con tàu này để trở về nước Anh; và chỉ mười ngày nữa thôi – mười ngày nữa tôi sẽ được gặp lại người thương.

– Nhưng trong suốt khoảng thời gian đằng đẵng ấy, chưa bao giờ anh viết thư cho vợ mình sao?

– Chưa bao giờ, mãi cho đến đêm trước khi tôi rời Sydney. Tôi không thể viết nổi khi mọi thứ trước mắt quá đỗi u ám. Tôi không thể viết để nói với nàng rằng tôi đang phải vật lộn cay đắng với tuyệt vọng và cái chết. Tôi đã chờ đợi vận may mỉm cười, và khi nó đến, tôi viết thư báo rằng mình sẽ về đến nước Anh gần như ngay sau bức thư này, đồng thời cho nàng địa chỉ của một quán cà phê ở London để nàng có thể viết thư cho tôi, chỉ dẫn nơi tôi có thể tìm thấy nàng, mặc dù khó lòng mà có chuyện nàng lại dời bỏ ngôi nhà của cha mình.

Nói xong, anh rơi vào trầm tư và thừ người nhả từng làn khói xì gà. Người bạn đồng hành không quấy rầy anh. Tia nắng mùa hè cuối cùng đã lịm tắt, và thứ ánh sáng nhợt nhạt của vầng trăng khuyết là điều duy nhất còn sót lại.

Chẳng mấy chốc, George Talboys búng mẩu xì gà đi, quay sang nữ gia sư và cất giọng đột ngột:

– Cô Morley, nếu khi đặt chân đến nước Anh, tôi nghe được tin có chuyện chẳng lành xảy ra với vợ mình, tôi sẽ ngã quỳ xuống và chết ngay tại chỗ.

– Trời ơi, anh Talboys, sao anh cứ phải nghĩ quẩn quanh những chuyện ấy làm gì? Thượng đế rất nhân từ với chúng ta; Ngài sẽ không bắt chúng ta phải chịu đựng quá sức chịu đựng của mình đâu. Có lẽ tôi nhìn mọi thứ qua lăng kính u sầu, bởi sự đơn điệu kéo dài của cuộc đời đã cho tôi quá nhiều thời gian để dằn vặt về những nỗi bất hạnh của mình.

– Còn cuộc đời tôi toàn là hành động, thiếu thốn, lao nhọc, hy vọng rồi lại tuyệt vọng đan xen; tôi chẳng có lấy một phút giây nào để nghĩ đến những bất trắc có thể giáng xuống đầu người vợ yêu dấu của mình. Sao tôi lại ngu ngốc và mù quáng đến thế cơ chứ? Ba năm rưỡi trời mà không lấy nổi một dòng chữ – một lời nhắn nhủ từ nàng, hay từ bất kỳ sinh linh trần thế nào quen biết nàng. Lạy Chúa trên cao! Chuyện gì có thể đã xảy ra cơ chứ?

Trong cơn bấn loạn tâm lý, anh bắt đầu rảo bước nhanh thoăn thoắt dọc boong tàu vắng vẻ, nữ gia sư lẽo đẽo bước theo sau để tìm cách xoa dịu anh.

– Tôi thề với cô, cô Morley, – anh nói, – rằng cho đến khi cô cất lời với tôi tối nay, tôi chưa từng mảy may cảm thấy dù chỉ là một cái bóng của sự sợ hãi, thế nhưng giờ đây trong lồng ngực tôi lại dâng lên nỗi sợ tê tái, hẫng hụt mà cô đã nhắc đến hồi chiều. Xin cô hãy để mặc tôi tự vượt qua nó theo cách của riêng mình.

Cô lẳng lặng bước lùi lại, ngồi phịch xuống mạn tàu và thẫn thờ nhìn làn nước bên dưới.

George Talboys cứ thế đi qua đi lại suốt một hồi lâu, đầu cúi gằm ngực, chẳng màng ngó ngàng sang hai bên, nhưng chừng mười lăm phút sau, anh quay trở lại chỗ nữ gia sư đang ngồi.

– Tôi vừa cầu nguyện, – anh nói, – cầu nguyện cho người vợ bé bỏng của tôi.

Anh nói bằng giọng khẽ khàng chỉ đủ nghe, và cô nhìn thấy khuôn mặt anh vô cùng bình thảng dưới ánh trăng rọi.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.