Bí Mật Của Phu Nhân Audley

Lượt đọc: 141 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 38
Bị Hồn Ma Ám Ảnh.

❊ ❊ ❊

Chưa từng có vị khách mệt mỏi nào chìm trong giấc chiêm bao kỳ lạ lại phải ngước nhìn một thế giới dường như phi thực tế với vẻ kinh ngạc hơn Robert Audley, khi anh thẫn thờ nhìn chăm chú vào những vùng đầm lầy phẳng lặng và hàng dương ảm đạm giữa Villebrumeuse và Bruxelles. Liệu có phải anh đang trở về ngôi nhà của người bác mà không có người phụ nữ từng ngự trị nơi ấy gần hai năm trời với tư cách là nữ chúa và bà chủ? Anh có cảm giác như thể mình vừa bắt cóc phu nhân, đã tống khứ bà đi một cách bí mật và mờ ám, và giờ đây phải tường trình lại với Sir Michael về số phận của người người phụ nữ mà vị Nam tước từng hết mực yêu thương.

"Mình sẽ nói gì với bác ấy đây?" anh thầm nghĩ. "Mình có nên nói sự thật—sự thật kinh hoàng, rợn tóc gáy? Không; làm thế thì quá nhẫn tâm. Tâm hồn cao thượng của bác ấy sẽ sụp đổ trước lời tiết lộ gớm ghiếc ấy. Thế nhưng, vì không biết rõ mức độ tội lỗi của người phụ nữ khốn nạn này, có lẽ bác ấy sẽ nghĩ rằng mình đã quá tàn nhẫn với cô ta."

Chìm đắm trong những suy nghĩ mông lung ấy, chàng thanh niên Robert Audley thẫn thờ ngắm nhìn cảnh vật lạnh lẽo qua khung cửa chiếc xe coupé xập xệ của hãng xe ngựa tuyến, và thầm nghĩ xem một trang sách lớn đến nhường nào đã bị xé toạc khỏi cuộc đời anh, giờ đây khi câu chuyện đen tối về George Talboys đã khép lại.

Anh còn việc gì phải làm tiếp theo đây? Một loạt những suy nghĩ kinh hoàng tràn ngập tâm trí anh khi anh nhớ lại câu chuyện mà anh từng nghe từ đôi môi tái nhợt của Helen Talboys. Người bạn của anh—người bạn đã bị sát hại—đang nằm ẩn mình giữa những phôi pha mục nát của cái giếng cổ tại Audley Court. Anh ấy đã nằm ở đó suốt sáu tháng ròng, không được chôn cất, không một ai hay biết; ẩn giấu trong bóng tối của cái giếng tu viện cổ. Phải làm gì đây?

Việc tiến hành tìm kiếm thi hài của người đàn ông bị sát hại đồng nghĩa với việc tất yếu sẽ dẫn đến cuộc điều tra của viên pháp y. Nếu một cuộc điều tra như vậy được tiến hành, thì lịch sử tội ác của phu nhân gần như chắc chắn không thể nào không bị đưa ra ánh sáng. Chứng minh rằng George Talboys đã bỏ mạng tại Audley Court cũng chính là chứng minh một cách vô cùng chắc chắn rằng phu nhân chính là thủ phạm gây ra cái chết đầy bí ẩn ấy; bởi vì người ta đều biết chàng thanh niên đã đi theo bà vào lối đi rợp bóng chanh vào ngày anh mất tích.

"Lạy Chúa!" Robert thốt lên, khi toàn bộ sự kinh hoàng về hoàn cảnh của anh hiện rõ trước mắt; "liệu bạn tôi phải nằm yên nghỉ trong chốn mai táng bất kính này chỉ vì tôi đã bao che cho những tội ác của người phụ nữ đã sát hại anh ấy hay sao?"

Anh cảm thấy không có lối thoát nào cho rắc rối này. Có lúc anh nghĩ rằng việc người bạn quá cố của mình nằm an nghỉ dưới một đài tưởng niệm bằng cẩm thạch với những đường nét chạm trổ là kỳ quan của thế giới, hay nằm trong chốn ẩn khuất tối tăm giữa bụi cây ở Audley Court, cũng chẳng có gì khác biệt đối với anh ấy cả. Lại có lúc, anh bị nỗi kinh hoàng bất chợt bủa vây trước sự bất công giáng xuống người bạn đã khuất, và sẵn sàng lữ hành nhanh hơn cả chuyến tàu tốc hành giữa Bruxelles và Paris có thể đưa anh đi, bởi sự sốI sục muốn kết thúc hành trình để đền bù cho tội lỗi tàn nhẫn này.

Anh có mặt ở Luân Đôn vào lúc chạng vạng của ngày thứ hai kể từ ngày anh rời Audley Court, và anh đánh xe thẳng đến khách sạn Clarendon để hỏi thăm người bác của mình. Anh không có ý định gặp Sir Michael, vì anh vẫn chưa quyết định được mình nên kể nhiều hay kể ít với bác ấy, nhưng anh rất lo lắng muốn biết người đàn ông lớn tuổi đã vượt qua cú sốc tàn nhẫn mà ông vừa phải gánh chịu ra sao.

"Mình sẽ gặp Alicia," anh nghĩ, "con bé sẽ kể cho mình mọi chuyện về cha nó. Mới chỉ có hai ngày kể từ khi bác ấy rời Audley. Mình khó lòng mong đợi được nghe về bất kỳ chuyển biến thuận lợi nào."

Nhưng Mr. Audley không có số mệnh được gặp người em họ của mình vào tối hôm đó, bởi vì các nhân viên tại khách sạn Clarendon cho anh biết rằng Sir Michael và con gái đã khởi hành bằng chuyến thư tín buổi sáng đi Paris, trên đường tới Viên.

Robert rất đỗi hài lòng khi nhận được thông tin này; nó mang lại cho anh khoảng thời gian nghỉ ngơi đáng mừng, vì rõ ràng sẽ tốt hơn rất nhiều nếu chưa nói gì với vị Nam tước về người vợ tội lỗi của ông cho đến khi ông trở lại nước Anh, với sức khỏe nguyên vẹn và tinh thần được khôi phục, đó là điều có thể hy vọng.

Mr. Audley lái xe đến khu The Temple. Căn hộ vốn dĩ đã mang vẻ ảm đạm đối với anh kể từ khi George Talboys mất tích, nay lại càng ảm đạm gấp bội vào đêm nay. Bởi vì những gì trước đây chỉ là một sự nghi ngờ mơ hồ thì giờ đây đã trở thành một sự thật kinh hoàng. Không còn chỗ cho dù chỉ là một tia sáng leo lắt nhất, một chút ánh hy vọng mong manh nhất. Những nỗi sợ hãi tồi tệ nhất của anh đã hoàn toàn có cơ sở.

George Talboys đã bị sát hại một cách tàn nhẫn và đầy phản bội bởi chính người vợ mà anh từng yêu thương và tiếc thương.

Có ba bức thư đang chờ Mr. Audley tại căn hộ của anh. Một bức từ Sir Michael, và một bức từ Alicia. Bức thứ ba được đề tên người gửi bằng nét chữ mà chàng luật sư trẻ chỉ tiếc là biết quá rõ, dù anh mới chỉ nhìn thấy nó đúng một lần trước đó. Guơng mặt anh đỏ bừng lên khi nhìn thấy dòng địa chỉ đề ngoài phong bì, và anh cầm bức thư trên tay, một cách cẩn trọng và dịu dàng, như thể nó là một vật sống và có cảm giác trước cái chạm của anh. Anh lật đi lật lại bức thư trên tay, ngắm nghía con dấu trên phong bì, con dấu bưu điện, màu sắc của tờ giấy, rồi đặt nó vào ngực áo ghi-lê với một nụ cười kỳ lạ trên môi.

"Mình thật là một tên ngốc khốn khổ và trơ trẽn làm sao!" anh nghĩ. "Chính mình đã từng nhạo báng những hành động dại dột của những kẻ yếu đuối suốt cả cuộc đời, để rồi cuối cùng lại còn ngốc nghếch hơn cả kẻ yếu đuối nhất trong số họ sao? Sinh vật xinh đẹp với đôi mắt nâu ấy! Tại sao mình lại từng gặp cô ta chứ? Tại sao vị Nữ thần Báo oán không khoan nhượng của mình lại chỉ đường dẫn lối đến ngôi nhà ảm đạm ở Dorsetshire đó làm gì?"

Anh mở hai bức thư đầu tiên. Anh thật ngốc nghếch khi giữ lại bức thư cuối cùng giống như một món ăn ngon lành—một món tráng miệng tựa tiên giang sau bữa tối đầy những món ăn thô ráp thông thường.

Bức thư của Alicia kể cho anh nghe rằng Sir Michael đã gánh chịu nỗi đau đớn tột cùng bằng một sự bình thản kiên trì đến mức cuối cùng cô đã trở nên hoảng sợ trước sự điềm tĩnh kiên nhẫn của ông hơn là bất kỳ biểu hiện bộc phát giông bão nào của sự tuyệt vọng. Trong hoàn cảnh khó khăn này, cô đã bí mật đến gặp vị bác sĩ chuyên chăm sóc cho gia đình Audley trong bất kỳ trường hợp bệnh nặng nào, và thỉnh cầu vị bác sĩ này đến thăm Sir Michael một cách có vẻ như ngẫu nhiên. Ông đã làm vậy, và sau khi ở lại nửa tiếng đồng hồ với vị Nam tước, đã nói với Alicia rằng hiện tại chưa có nguy hiểm gì về những hậu quả nghiêm trọng từ nỗi đau lớn này, nhưng điều cần thiết là phải nỗ lực hết sức để đánh thức Sir Michael, và buộc ông, dù có miễn cưỡng đến đâu, phải hành động.

Alicia lập tức làm theo lời khuyên này, khôi phục lại quyền lực cũ của mình như một đứa trẻ được chiều chuộng và nhắc nhở cha về lời hứa đưa cô đi du lịch khắp nước Đức. Với vô vàn khó khăn, cô đã thuyết phục được ông đồng ý thực hiện lời hứa cũ này, và khi đã đạt được mục đích của mình, cô tìm cách để họ rời nước Anh ngay khi có thể, và cô nói với Robert, phần kết luận, rằng cô sẽ không đưa cha mình trở về ngôi nhà cũ cho đến khi cô dạy được ông quên đi những nỗi buồn gắn liền với nơi đó.

Bức thư của vị Nam tước vô cùng ngắn gọn. Nó chứa nửa tá séc để trống ký phát tại các ngân hàng ở Luân Đôn của Sir Michael Audley.

"Robert thân mến, con sẽ cần tiền," ông viết, "cho những sự sắp xếp mà con thấy phù hợp để đảm bảo sự thoải mái trong tương lai cho con người mà ta đã giao phó vào tay con. Ta thiết nghĩ chẳng cần phải nói rằng những sự sắp xếp đó không thể quá hào phóng được đâu. Nhưng có lẽ tốt hơn là ta nên nói với con ngay lúc này, lần đầu tiên cũng là duy nhất, rằng đó là mong ước thiết tha của ta là không bao giờ phải nghe lại cái tên của con người đó thêm một lần nào nữa. Ta không muốn được cho biết bản chất của những sự sắp xếp mà con có thể thực hiện cho cô ta. Ta chắc chắn rằng con sẽ hành động một cách tận tâm và nhân từ. Ta không muốn biết gì hơn nữa. Bất cứ khi nào con cần tiền, con cứ việc rút tiền từ tài khoản của ta với bất kỳ số khoản nào con cần; nhưng con sẽ không có dịp phải nói cho ta biết con cần số tiền đó dùng vào mục đích của ai."

Robert Audley thở dài một hơi dài nhẹ nhõm khi gấp bức thư này lại. Nó giải thoát anh khỏi một nhiệm vụ mà lẽ ra sẽ đau đớn nhất đối với anh khi phải thực hiện, và nó quyết định mãi mãi hướng đi hành động của anh liên quan đến người đàn ông bị sát hại.

George Talboys phải được nằm yên nghỉ trong ngôi mộ vô danh của mình, và Sir Michael Audley không bao giờ được phép biết rằng người phụ nữ mà ông từng yêu thương mang vết hằn đỏ của tội ác giết người trong tâm hồn cô ta.

Robert chỉ còn mỗi bức thư thứ ba để mở—bức thư mà anh đã nhét vào ngực áo trong lúc đọc những bức thư kia; anh xé phong bì, nâng niu cẩn trọng và dịu dàng như anh đã làm trước đó.

Bức thư ngắn ngủi chẳng kém gì thư của Sir Michael. Nó chỉ chứa đựng vài dòng ngắn ngủi sau:

"MR. AUDLEY THÂN MẾN—Cha sở xứ này đã đến thăm Marks hai lần, người mà anh đã cứu trong vụ hỏa hoạn tại khách sạn Castle Inn. Anh ta đang trong tình trạng rất bấp bênh tại ngôi nhà tranh của mẹ mình, gần Audley Court, và không được kỳ vọng sẽ sống qua nổi nhiều ngày nữa. Vợ anh ta đang chăm sóc anh ấy, và cả hai vợ chồng đều bày tỏ mong ước thiết tha rằng anh nên đến gặp anh ta trước khi anh ấy nhắm mắt xuôi tay. Xin hãy đến mà không chậm trễ.

"Thân ái,

"CLARA TALBOYS.

"Nhà xứ Mount Stanning, ngày 6 tháng 3."

Robert Audley gấp bức thư lại một cách đầy thành kính, và đặt nó xuống bên dưới phần ngực áo có thể xem là che chở cho vùng trái tim của anh. Làm xong điều này, anh ngồi xuống chiếc ghế bành ưa thích của mình, nhồi và châm lửa một tẩu thuốc rồi hút cho đến hết, ngắm nhìn đống lửa một cách đăm chiêu chừng nào thuốc lá còn cháy. "Gã Marks đó muốn gì ở mình cơ chứ," chàng luật sư tự hỏi. "Có lẽ hắn ta sợ chết trước khi được thú tội chăng. Hắn muốn kể cho mình nghe điều mà mình đã biết rồi—câu chuyện về tội ác của phu nhân. Mình biết hắn có nhúng tay vào bí mật đó. Mình đã chắc chắn về điều đó ngay cả trong đêm đầu tiên mình trông thấy hắn. Hắn biết bí mật đó, và hắn đã đem nó ra làm thương vụ."

Robert Audley cảm thấy vô cùng e ngại khi phải trở lại Essex. Làm sao anh có thể đối mặt với Clara Talboys bây giờ khi anh đã biết bí mật về số phận của người anh trai cô? Anh sẽ phải nói bao nhiêu lời dối trá, hay anh phải dùng bao nhiêu lời lẽ úp mở để giấu kín sự thật khỏi cô ấy chứ? Thế nhưng liệu có chút nhân từ nào trong việc kể câu chuyện kinh hoàng đó, thứ kiến thức chắc chắn sẽ giáng một đòn tàn lụi lên tuổi thanh xuân của cô, và xóa sạch mọi hy vọng mà cô thậm chí đã ấp ủ trong bí mật? Từ chính trải nghiệm của bản thân, anh hiểu rõ việc cố nuôi hy vọng giữa muôn vàn tuyệt vọng và hy vọng một cách vô thức là điều có thể xảy ra đến nhường nào; và anh không tài nào chịu được cảnh trái tim cô bị nghiền nát như trái tim anh bởi sự thật phũ phàng ấy. "Tốt hơn là cô ấy cứ ôm ấp niềm hy vọng hão huyền cho đến phút cuối cùng," anh nghĩ; "thốt lên điều đó còn hơn là đi tìm manh mối về số phận của người anh trai đã mất của mình, còn hơn là mình trao manh mối đó vào tay cô ấy và nói rằng, 'Những nỗi sợ hãi tồi tệ nhất của chúng ta đã thành sự thật. Người anh trai mà cô yêu quý đã bị sát hại dã man ngay khi tuổi xuân còn đang chớm nở.'"

Nhưng Clara Talboys đã viết thư cho anh, khẩn khoản xin anh trở lại Essex ngay lập tức. Chẳng lẽ anh lại có thể từ chối mệnh lệnh của cô, cho dù việc hoàn thành nó có đau đớn đến đâu? Và một lần nữa, gã đàn ông đó đang hấp hối, có lẽ vậy, và đã khẩn khoản muốn gặp anh. Chẳng phải sẽ là tàn nhẫn nếu từ chối đi—nếu chần chừ thêm một giờ đồng hồ không cần thiết hay sao? Anh nhìn đồng hồ. Chỉ còn thiếu năm phút nữa là đến chín giờ. Không có chuyến tàu nào đi Audley sau chuyến thư tín Ipswich rời Luân Đôn lúc tám giờ rưỡi; nhưng có một chuyến tàu rời Shoreditch lúc mười một giờ, và dừng lại ở Brentwood trong khoảng từ mười hai đến một giờ. Robert quyết định đi chuyến tàu này, và đi bộ quãng đường từ Brentwood đến Audley, dài hơn sáu dặm.

Phố Fleet lúc muộn màng này vô cùng yên tĩnh và cô tịch, và Robert Audley đang trong tâm trạng dễ nhìn thấy hồn ma chắc sẽ chẳng mảy may ngạc nhiên nếu anh nhìn thấy nhóm của Johnson đang nghênh ngang kéo về phía tây dưới ánh đèn đường, hay bắt gặp một John Milton mù lòa đang lần mò dò dẫm bước xuống những bậc thềm trước Nhà thờ Saint Bride.

Mr. Audley gọi một chiếc xe hansom ở góc phố Farrington, và nhanh chóng xóc nảy chạy vút qua khu chợ Smithfield vắng bóng người, đi vào một mê cung những con phố âm u để rồi xuất hiện trước vẻ đẹp khoáng đạt và hoành tráng của Quảng trường Finsbury Pavement.

Chiếc xe hansom lộc cộc chạy lên con dốc cao và đầy đá hướng tới Ga Shoreditch, rồi thả Robert xuống ngay cửa của ngôi đền kém xinh xắn ấy. Có rất ít hành khách đi chuyến tàu nửa đêm này, và Robert bước qua bước lại trên sân ga bằng gỗ dài, đọc những tấm bảng quảng cáo khổng lồ với những chữ cái khẳng khiu trông tái ngợt và kỳ dị dưới ánh đèn mờ ảo.

Cả khoang tàu anh ngồi chỉ có một mình anh. Tôi vừa nói là một mình anh ư? Chẳng phải anh vừa mới triệu hồi đến bên cạnh mình đoàn tùy tùng ma quái vốn dĩ đeo bám dai dẳng nhất trong mọi thứ bạn đồng hành hay sao? Cái bóng của George Talboys vẫn đuổi theo anh, ngay cả trong toa hạng nhất thoải mái, và ở ngay phía sau anh khi anh nhìn ra ngoài cửa sổ, và thậm chí còn ở phía trước anh rất xa cùng cỗ máy đang lao đi, hướng về phía lùm cây nơi chuyến tàu đang phóng tới, bên cạnh chốn ẩn náu bất kính mà ở đó thi hài của người đã khuất đang nằm lạnh lẽo, chẳng ai đoái hoài chăm sóc.

"Mình phải cho người bạn xấu số của mình một đám đàng hoàng," Robert thầm nghĩ, khi cơn gió lạnh thổi quét qua vùng cảnh vật phẳng lặng và phả vào người anh cái hơi lạnh băng giá hệt như phát ra từ đôi môi của người chết. "Mình phải làm điều đó; nếu không mình sẽ chết vì một cơn hoảng loạn như cơn hoảng loạn vừa vây lấy mình tối nay. Mình phải làm điều đó; bằng mọi hiểm họa; bằng mọi giá. Thậm chí bằng cái giá của lời tiết lộ sẽ lôi người phụ nữ điên dại ấy ra khỏi nơi ẩn nấp an toàn của cô ta, và tống cổ cô ta vào vành móng ngựa." Anh cảm thấy nhẹ nhõm khi tàu dừng lại ở Brentwood lúc hơn mười hai giờ một vài phút.

Đã là một giờ rưỡi khi kẻ lang thang ban đêm bước vào ngôi làng Audley, và chỉ đến lúc đó anh mới nhớ ra rằng Clara Talboys đã quên đưa cho anh bất kỳ chỉ dẫn nào để tìm thấy ngôi nhà tranh nơi Luke Marks đang nằm.

"Chính Dawson là người đã đề nghị đưa tội nghiệp đó đến ngôi nhà tranh của mẹ hắn," Robert nghĩ ngợi một lát sau đó, "và, tôi dám cá là Dawson đã chăm sóc hắn kể từ sau vụ hỏa hoạn. Hắn sẽ có thể chỉ đường cho tôi tới ngôi nhà tranh."

Làm theo ý tưởng này, Mr. Audley dừng lại trước ngôi nhà nơi Helen Talboys từng sống trước cuộc hôn nhân thứ hai của cô. Cửa phòng khám nhỏ đang khép hờ, và có ánh đèn sáng bên trong. Robert đẩy cửa bước vào và ngó vào trong. Vị bác sĩ phẫu thuật đang đứng cạnh chiếc quầy bằng gỗ gụ, pha chế một liều thuốc trong một chiếc cốc đong, với chiếc mũ đặt ngay bên cạnh. Dù đã muộn thế nhưng rõ ràng ông ấy vừa mới về tới. Tiếng ngáy hòa tấu của người trợ lý phát ra từ một căn phòng nhỏ phía trong phòng khám.

"Tôi xin lỗi vì đã làm phiền ông, Mr. Dawson," Robert nói với giọng xin lỗi, khi vị bác sĩ ngẩng lên và nhận ra anh, "nhưng tôi xuống đây để thăm Marks, người mà tôi nghe nói đang trong tình trạng rất tồi tệ, và tôi muốn ông chỉ đường cho tôi tới ngôi nhà tranh của mẹ anh ta."

"Tôi sẽ dẫn anh đi, Mr. Audley," vị bác sĩ phẫu thuật đáp, "Tôi đang định qua đó ngay phút này đây."

"Anh ta tệ lắm sao?"

"Tệ đến mức không thể tệ hơn được nữa. Sự thay đổi duy nhất có thể xảy ra chính là sự thay đổi đưa anh ta vượt ra ngoài tầm với của mọi đau đớn nơi trần thế."

"Lạ thật!" Robert thốt lên. "Hắn đâu có bị bỏng nặng lắm."

"Anh ta không bị bỏng nặng. Nếu có, tôi đã chẳng bao giờ đề nghị đưa anh ta rời khỏi Mount Stanning. Chính cú sốc mới là thứ đánh gục anh ta. Anh ta đã bị sốt li bì trong suốt hai ngày qua; nhưng tối nay anh ta đã bình tĩnh hơn nhiều, và tôi e rằng, trước tối mai, chúng ta sẽ được chứng kiến lần cuối cùng cậu ta từ giã cõi đời."

"Tôi nghe nói anh ta đòi gặp tôi," Mr. Audley nói.

"Đúng vậy," vị bác sĩ phẫu thuật đáp một cách dửng dưng. "Ảo tưởng của một người bệnh thôi mà, chắc chắn thế. Anh đã lôi hắn ra khỏi ngôi nhà và làm hết sức mình để cứu mạng hắn. Tôi dám cá là, dẫu cho gã khốn khổ kia có thô lỗ cục mịch đến đâu, hắn cũng rất biết ơn về chuyện đó."

Họ đã rời khỏi phòng khám, cánh cửa phòng đã được Mr. Dawson khóa lại đằng sau. Có tiền trong ngăn kéo thu ngân đấy chứ, vì chắc chắn vị y sĩ làng không đời nào phải sợ rằng tên trộm cắp đột nhập táo tợn nhất lại dám mạo hiểm cả sự tự do của mình chỉ để đổi lấy thuốc viên trị đau gan và nhựa đắng colocynth, muối và lá senna.

Vị bác sĩ phẫu thuật dẫn đường dọc theo con phố yên tĩnh, rồi rẽ vào một con hẻm mà ở cuối đó Robert Audley nhìn thấy ánh sáng heo hắt; thứ ánh sáng báo hiệu cho sự canh chừng được duy trì bên người đau người chết; một thứ ánh sáng nhợt nhạt, ảm đạm, luôn mang vẻ tiêu điều khi ngắm nhìn vào giờ khắc tĩnh lặng này giữa đêm và rạng sáng. Nó tỏa ra từ ô cửa sổ của ngôi nhà tranh nơi Luke Marks đang nằm, được chăm sóc bởi vợ và mẹ hắn.

Mr. Dawson nhấc then cửa, bước vào căn phòng sinh hoạt chung của ngôi nhà nhỏ, theo sau là Robert Audley. Căn phòng trống không, nhưng một ngọn nến mỡ cừu yếu ớt, với phần thân gãy gục và bấc nến dài ngoẵng hình bông súp lơ, đang xèo xèo bốc khói trên bàn. Người bệnh đang nằm ở căn phòng phía trên.

Mr. Dawson hỏi: "Tôi có nên báo với anh ta là anh đã đến không?"

"Vâng, vâng, làm ơn đi. Nhưng hãy cẩn thận cách ông nói, nếu ông nghĩ tin tức đó có khả năng làm anh ta kích động. Tôi không vội đâu. Tôi có thể đợi. Ông có thể gọi tôi khi nào ông nghĩ tôi có thể bước lên lầu một cách an toàn."

Vị bác sĩ gật đầu, nhẹ nhàng bước lên chiếc cầu thang gỗ chật hẹp dẫn lên căn phòng phía trên.

Robert Audley ngồi xuống chiếc ghế bành kiểu Windsor bên lò sưởi lạnh ngắt, và thẫn thờ nhìn ngắm xung quanh đầy chán nản. Nhưng cuối cùng anh cũng được giải tỏa bởi giọng nói trầm thấp của vị bác sĩ, người đã cúi xuống từ đỉnh cầu thang nhỏ để báo cho anh biết rằng Luke Marks đã tỉnh, và sẽ rất vui lòng được gặp anh.

Robert lập tức tuân theo lời triệu tập này. Anh rón rén bước lên lầu, cởi mũ ra trước khi cúi đầu bước qua ô cửa thấp của căn phòng nhà nông mộc mạc. Anh cởi mũ trước mặt gã thường dân bần nông này, bởi vì anh biết rằng có một sự hiện diện khác, vĩ đại và đáng sợ hơn đang lảng vảng quanh căn phòng, và đầy sốt sắng mong được cho phép bước vào.

Phoebe Marks đang ngồi ở cuối giường, dán mắt vào khuôn mặt chồng mình—không mang theo bất kỳ biểu cảm dịu dàng nào dưới ánh đèn mờ ảo, mà là một sự lo lắng sắc sảo, đầy hoảng sợ, cho thấy rằng chính sự cận kề của cái chết mới là điều cô ta khiếp sợ, chứ không phải sự mất mát người chồng. Người đàn bà lớn tuổi đang bận rộn bên lò sưởi, phơi đồ lót và chuẩn bị chút nước canh mà có lẽ bệnh nhân chẳng bao giờ ăn nổi. Người bệnh nằm với phần đầu được kê cao bằng gối, khuôn mặt thô kệch tái nhợt như chết và đôi bàn tay to lớn quờ quạng bứt rứt trên tấm chăn đắp. Phoebe vừa đọc sách cho anh ta nghe, vì một cuốn Tân Ước mở đang nằm giữa những lọ thuốc men và lotion trên chiếcếc bàn gần giường. Mọi vật dụng trong căn phòng đều ngăn nắp, trật tự, làm chứng cho sự tỉ mỉ đầy tinh tế vốn luôn là nét đặc trưng của Phoebe.

Người phụ nữ trẻ đứng dậy khi Robert Audley bước qua ngưỡng cửa và vội vã tiến về phía anh.

"Xin hãy cho phép tôi nói chuyện với ngài một lát, thưa ngài, trước khi ngài nói chuyện với Luke," cô ta nói bằng một giọng thì thầm khẩn khoản. "Làm ơn hãy để tôi nói chuyện với ngài trước đã."

"Con nhỏ đó đang lải nhải cái gì ở trển vậy?" gã bệnh nhân cất giọng gầm gừ nghèn nghẹt, khàn đặc lịm đi trên đôi môi. Hắn ta hung dữ một cách yếu ớt, ngay cả trong cơn suy nhược. Lớp màng mờ đục của cái chết đang bao trùm lấy đôi mắt hắn, nhưng chúng vẫn dõi theo Phoebe với cái nhìn sắc sảo đầy bất mãn. "Nó đang bày trò gì ở đó thế?" hắn nói. "Tao không chấp nhận bất kỳ âm mưu hay sự thụt đầu nào chống lại tao đâu nhé. Tao muốn tự mình nói chuyện với Mr. Audley; và bất cứ điều gì tao đã làm, tao sẽ chịu trách nhiệm. Nếu tao gây ra rắc rối gì, tao sẽ cố gắng sửa chữa nó. Nó đang nói cái quái gì thế?"

"Nó có nói gì đâu, cưng ơi," người đàn bà lớn tuổi đáp lời, bước đến bên giường bệnh của đứa con trai, kẻ mà ngay cả khi trông có vẻ đáng chú ý hơn bình thường vì bệnh tật, cũng chẳng có vẻ gì là một đối tượng thích hợp cho danh xưng dịu dàng này.

"Nó chỉ đang kể cho quý ông nghe ngài ấy đã tệ thế nào với con thôi mà, cục cưng của mẹ."

"Những gì tao sắp nói, tao chỉ nói với một mình ngài ấy thôi, hãy nhớ lấy điều đó," Mark càu nhàu; "và cứ thử xem tao có thèm nói với ngài ấy không nếu không vì những gì ngài ấy đã làm cho tao tối hôm trước chứ."

"Chắc chắn là không rồi, cục cưng ạ," người đàn bà lớn tuổi dịu giọng dỗ dành.

Phoebe Marks đã kéo Mr. Audley ra khỏi căn phòng và bước ra khoảng chiếu nghỉ chật hẹp ở đỉnh cầu thang nhỏ. Chiếu nghỉ này là một khoảng nền rộng khoảng ba thước vuông, và vừa đủ chỗ cho hai người đứng chen chúc mà không phải đẩy nhau vào bức tường quét vôi trắng hoặc ngã nhào ngược xuống cầu thang.

"Ồ, thưa ngài, tôi rất muốn nói chuyện với ngài," Phoebe khẩn khoản đáp; "ngài còn nhớ những gì tôi đã nói với ngài khi tôi thấy ngài bình an vô sự vào đêm xảy ra hỏa hoạn chứ?"

"Vâng, vâng."

"Tôi đã nói với ngài những gì tôi nghi ngờ; những gì tôi vẫn còn nghĩ tới."

"Vâng, tôi nhớ chứ."

"Nhưng tôi chưa từng hé môi nửa lời với bất kỳ ai ngoài ngài, thưa ngài, và tôi nghĩ rằng Luke đã quên sạch sành sanh về đêm hôm đó rồi; tôi nghĩ rằng những gì diễn ra trước vụ hỏa hoạn đã bay sạch khỏi đầu hắn ta hoàn toàn. Hắn ta đã say xỉn, ngài biết đấy, khi phu la... khi cô ta đến khách sạn Castle; và tôi nghĩ hắn ta đã bị choáng váng và sợ hãi bởi ngọn lửa đến mức mọi chuyện đều bay biến khỏi ký ức. Dù thế nào đi nữa thì hắn ta cũng không hề nghi ngờ những gì tôi nghi ngờ, bằng không hắn đã nói ra với bất kỳ ai hoặc với tất cả mọi người rồi; nhưng hắn căm ghét phu nhân cay đắng, vì hắn nói rằng nếu cô ta chịu nhường cho hắn một chỗ ở Brentwood hay Chelmsford thì chuyện này đã không xảy ra. Vì vậy, điều tôi muốn van nài ngài, thưa ngài, là xin đừng để lọt ra một lời nào trước mặt Luke."

"Vâng, vâng, tôi hiểu rồi; tôi sẽ cẩn thận."

"Tôi nghe nói phu nhân đã rời khỏi dinh thự rồi phải không ngài?"

"Đúng vậy."

"Sẽ không bao giờ quay lại nữa phải không ngài?"

"Không bao giờ quay lại nữa."

"Nhưng cô ấy sẽ không đến nơi mà cô ấy bị đối xử tàn nhẫn; nơi mà cô ấy bị hành hạ chứ?"

"Không: cô ấy sẽ được đối xử rất tử tế."

"Tôi mừng vì điều đó, thưa ngài; tôi xin lỗi vì đã làm phiền ngài với câu hỏi này, nhưng phu nhân từng là một bà chủ tử tế đối với tôi."

Giọng nói khàn đợ và yếu ớt của Luke vang lên từ trong căn phòng nhỏ vào thời điểm này của cuộc trò chuyện, đầy giận dữ đòi biết đến bao giờ "con nhỏ đó mới thôi cái thói lải nhải nhảm nhí"; nghe thấy vậy, Phoebe liền đặt ngón tay lên môi và dẫn Mr. Audley trở lại phòng bệnh.

Gã Marks thản nhiên tuyên bố khi vợ bước trở lại căn phòng: "Tao không cần mày — tao không cần mày; mày không có quyền nghe những gì tao sắp nói — tao chỉ muốn gặp Mr. Audley thôi, và tao muốn nói chuyện với một mình ngài ấy, không có mấy trò rình mò nghe lén qua cửa của mày đâu, mày nghe rõ chưa? Cho nên mày có thể xuống lầu và ở yên dưới đó cho đến khi được gọi; và mày có thể dắt theo mẹ — không, mẹ có thể ở lại, chốc nữa tao sẽ cần đến bà."

Bàn tay yếu ớt của người bệnh chỉ về phía cánh cửa, nơi người vợ ngoan ngoãn bước ra ngoài.

"Tôi chẳng có mong muốn nghe ngóng gì đâu, Luke," cô nói, "nhưng tôi hy vọng anh đừng nói điều gì chống lại những người từng tốt bụng và hào phóng với anh."

"Tao thích nói gì thì tao nói," Mr. Marks hung dữ đáp, "và tao không đời nào chịu nghe lệnh của mày đâu. Mày không phải là mục sư, theo như tao từng nghe; mà cũng chẳng phải là luật sư nốt."

Chủ nhân của khách sạn Castle Inn hoàn toàn không trải qua bất kỳ sự biến đổi đạo đức nào từ những đau đớn lúc lâm chung, dù chúng có dữ dội và dồn dập đến đâu đi chăng nữa. Có lẽ một tia sáng le lói nào đó từng ở rất xa cuộc đời hắn giờ đây đang nhọc nhằn đấu tranh xuyên qua những lớp màn tối tăm của sự dốt nát đang vây hãm tâm hồn hắn. Có lẽ một sự hối hận nửa giận hờn, nửa cau có đã thúc giục hắn thực hiện một nỗ lực thô bạo nhằm chuộc lại một cuộc đời ích kỷ, nát rượu và đầy tội lỗi. Dẫu thế nào đi nữa, hắn lau đôi môi trắng bệch của mình, và hướng đôi mắt hốc hác đầy khẩn khoản về phía Robert Audley, chỉ tay về chiếc ghế bên cạnh giường bệnh.

Hắn cất lời: "Ông từng chế giễu tôi theo kiểu chung chung, Mr. Audley, và ông đã moi ruột tôi ra, rồi lật tung và tung hứng tôi lên theo kiểu của một quý ông cho đến khi tôi chẳng là gì hoặc là bất cứ thứ gì trong tay ông; và ông đã nhìn thấu tận tâm can tôi và lộn trái tôi ra cho đến khi ông tưởng rằng ông biết nhiều bằng tôi biết. Tôi chẳng có lý do đặc biệt gì để mà biết ơn ông cả, không phải trước vụ hỏa hoạn tại khách sạn Castle đêm hôm trước. Nhưng tôi biết ơn ông vì chuyện đó. Tôi vốn không biết ơn những kẻ bề trên theo cách thông thường, có lẽ vậy, bởi vì những thứ mà bọn họ ban phát hầu như toàn là những thứ tôi chẳng thèm muốn chút nào. Bọn họ cho tôi súp, và mấy cuốn sách đạo đức, và vải flanen, và than củi; nhưng chúa ơi, bọn chúng làm ầm ĩ lên về chuyện đó đến mức thà tôi đem trả lại hết cho chúng còn hơn. Thế nhưng khi một quý ông sẵn sàng liều mạng sống của mình để cứu một con súc vật say xỉn như tôi, thì kẻ say xỉn tệ hại nhất đời cũng cảm thấy biết ơn vị quý ông đó và muốn nói lên trước khi chết — điều mà hắn thấy rõ trên nét mặt của bác sĩ rằng hắn chẳng còn sống được bao lâu nữa — 'Cảm ơn ngài, tôi mang ơn ngài'."

Luke Marks duỗi bàn tay trái ra — bàn tay phải đã bị thương trong vụ hỏa hoạn và được quấn băng vải — và quờ quạng một cách yếu ớt tìm bàn tay của Mr. Robert Audley.

Chàng thanh niên nắm lấy bàn tay thô kệch nhưng đã teo tóp trong cả hai bàn tay của mình, và siết chặt đầy thân tình.

"Tôi không cần lời cảm ơn nào đâu, Luke Marks," anh nói; "tôi rất vui vì được giúp ích cho anh."

Mr. Marks không nói ngay. Hắn đang nằm lặng lẽ nghiêng người sang một bên, đăm đăm nhìn Robert Audley với vẻ suy ngẫm.

Cuối cùng hắn cất lời: "Ông có vẻ vô cùng quý trọng cái gã quý ông đã biến mất ở dinh thự đó phải không, thưa ngài?"

Robert giật mình khi nghe nhắc đến người bạn quá cố.

Luke lặp lại: "Tôi nghe nói ông vô cùng quý trọng cái tay Mr. Talboys đó, thưa ngài."

"Vâng, vâng," Robert đáp, có phần thiếu kiên nhẫn, "anh ấy là người bạn rất mực thân thiết của tôi."

"Tôi từng nghe mấy người hầu ở dinh thự kể rằng ông đã suy sụp thế nào khi không tìm thấy anh ta. Tôi từng nghe chủ quán trọ Sun Inn kể ông đã đau đớn nhường nào khi lần đầu tiên không thấy anh ta. 'Nếu hai vị đó là anh em ruột,' chủ quán trọ nói, 'thì ngài nhà ta,' ý chỉ ông đấy, thưa ngài, 'cũng không thể đau đớn hơn thế khi không thấy người kia'."

"Vâng, vâng, tôi biết, tôi biết," Robert nói; "làm ơn đừng nói thêm về chủ đề này nữa. Tôi không thể diễn tả nổi tôi đau đớn đến nhường nào đâu."

Liệu anh có bị ám ảnh mãi mãi bởi hồn ma của người bạn chưa được chôn cất kia hay không? Anh đến đây để an ủi người bệnh, thế mà ngay tại đây anh vẫn bị đeo bám bởi chiếc bóng không khoan nhượng này; ngay tại đây anh vẫn bị nhắc nhở về tội ác đen tối đã phủ bóng đen lên cuộc đời anh.

"Hãy lắng nghe tôi, Marks," anh nghiêm túc nói; "tin tôi đi, tôi rất trân trọng những lời biết ơn của anh, và tôi rất vui vì đã giúp ích được cho anh. Nhưng trước khi anh nói thêm điều gì khác, hãy để tôi đưa ra một thỉnh cầu vô cùng thiêng liêng. Nếu anh cử người gọi tôi đến để kể cho tôi nghe bất kỳ điều gì về số phận của người bạn đã mất, tôi nài xin anh hãy tha cho chính anh và tha cho tôi câu chuyện kinh hoàng đó. Anh chẳng thể kể cho tôi điều gì mà tôi chưa biết cả. Tồi tệ nhất mà anh có thể nói về người phụ nữ từng rơi vào tay anh đã được chính đôi môi cô ta tiết lộ cho tôi rồi. Xin anh hãy giữ im lặng về chủ đề này; tôi nhắc lại lần nữa, anh chẳng thể kể cho tôi điều gì mà tôi không biết."

Luke Marks đăm chiêu nhìn gương mặt đầy vẻ nghiêm trang của vị khách, và một nét biểu cảm mờ ảo nào đó, suýt soát giống như một nụ cười, lướt qua yếu ớt trên các đường nét hốc hác của người bệnh.

Hắn hỏi: "Tôi không thể kể cho ông điều gì mà ông không biết sao?"

"Không gì cả."

Gã bệnh nhân trầm ngâm đáp: "Vậy thì tôi cố gắng cũng chẳng ích gì." Hắn hỏi sau một khoảng lặng: "Có phải cô ta đã nói cho ông biết rồi không?"

Robert đáp, gần như nghiêm khắc: "Tôi phải xin anh đấy, Marks, hãy dẹp bỏ chủ đề này đi. Tôi đã nói với anh rồi, tôi không muốn nghe nhắc đến nó nữa. Bất kỳ khám phá nào anh làm được, anh đều dùng nó để trục lợi. Bất kỳ bí mật tội lỗi nào anh nắm giữ, anh đều được trả tiền để giữ im lặng. Tốt hơn là anh cứ giữ im lặng cho đến phút cuối đi."

Luke Marks cất giọng thì thầm đầy háo hức: "Thế hả? Có thực là tôi nên ngậm miệng lại cho đến tận lúc cuối đời không?"

"Tôi nghĩ vậy, rất kiên quyết là thế. Anh đã thương mại hóa bí mật của mình, và anh được trả tiền để giữ kín nó. Thành thật hơn là cứ tuân theo giao kèo và tiếp tục giữ kín nó đi."

Mr. Marks cười gằn một cách rợn tóc gáy: "Thế ư? Nhưng giả sử phu nhân có một bí mật và tôi có một bí mật khác thì sao? Lúc đó thì thế nào?"

"Ý anh là gì?"

"Giả sử tôi có thể kể ra điều gì đó từ trước đến nay; và có lẽ đã kể ra rồi, nếu tôi được đối xử tử tế hơn một chút; nếu những gì ban phát cho tôi được hào phóng hơn một chút, chứ không phải ném vào mặt tôi hệt như tôi là một con chó, và chỉ cho để ngăn tôi không cắn dại. Giả sử tôi có thể kể ra điều gì đó, và đã kể ra rồi nếu không vì chuyện đó? Lúc đó thì thế nào?"

Thật không thể miêu tả nổi sự rợn người của nụ cười đắc thắng đang thắp sáng khuôn mặt hốc hác của người bệnh.

Robert nghĩ: "Hắn ta đang mê sảng; mình cần phải kiên nhẫn với hắn, tội nghiệp anh ta. Thật kỳ lạ nếu mình lại không thể kiên nhẫn với một người sắp chết."

Luke Marks nằm nhìn chăm chăm vào Mr. Audley một lúc lâu với nụ cười đắc thắng đó trên khuôn mặt. Người đàn bà lớn tuổi, kiệt sức vì canh chừng đứa con trai đang hấp hối, đã thiếp đi từ lúc nào, đầu gật gù trên phần cằm nhọn hoắt hướng về phía đống lửa leo lắt, nơi nồi nước canh chưa bao giờ được ăn vẫn đang xèo xèo sủi bọt.

Mr. Audley kiên nhẫn chờ đợi cho đến khi người bệnh thấy hứng thú để cất lời. Mọi âm thanh đều trở nên rõ mồn một đến nhức nhối trong giờ khắc tĩnh mịch chết chóc của đêm khuya. Tiếng tro tàn rơi xuống lò sưởi, tiếng nách tách đầy điềm gở của những hòn than đang cháy, tiếng tích tắc chậm chạp và nặng nề của chiếc đồng hồ hờn dỗi ở căn phòng bên dưới, tiếng rên rỉ trầm đục của cơn gió tháng Ba (có thể là giọng của một nữ yêu Banshee người Anh, thét lên lời cảnh báo ảm đạm với những kẻ canh giữ người lâm chung), tiếng thở khò khè của người bệnh — mỗi âm thanh đều tách biệt khỏi tất cả mọi âm thanh khác, biến mình thành một giọng nói riêng biệt, đầy vẻ điềm báo u ám trong sự tĩnh lặng trang nghiêm của ngôi nhà.

Robert ngồi với khuôn mặt che khuất bởi hai bàn tay, tự hỏi điều gì sẽ chờ đợi anh giờ đây khi bí mật về số phận của người bạn đã được phơi bày, và câu chuyện đen tối về George Talboys cùng người vợ độc ác của anh ta đã kết thúc tại nhà thương điên ở Bỉ. Chuyện gì sẽ chờ đợi anh đây?

Anh chẳng có chút ràng buộc nào với Clara Talboys; vì anh đã quyết định giữ kín bí mật kinh hoàng vừa được kể cho mình. Vậy thì làm sao anh có thể dám đối mặt với cô ấy khi che giấu bí mật đó khỏi cô? Làm sao anh có thể nhìn vào đôi mắt đầy tha thiết của cô mà vẫn giấu giếm sự thật? Anh cảm thấy mọi khả năng che giấu sẽ sụp đổ trước cái nhìn thăm dò của đôi mắt nâu điềm tĩnh ấy. Nếu anh thực sự phải giữ kín bí mật này, anh không bao giờ được phép gặp lại cô nữa. Tiết lộ nó sẽ chỉ làm cay đắng thêm cuộc đời cô. Liệu anh có thể vì bất kỳ động cơ ích kỷ nào của bản thân mà kể cho cô nghe câu chuyện khủng khiếp này không? — hay anh có thể nghĩ rằng nếu anh kể, cô sẽ để cho người anh trai bị sát hại của mình phải nằm đó không được đòi lại công lý và bị lãng quên trong ngôi mộ bất kính của anh ấy sao?

Bị bao vây tứ phía bởi những khó khăn dường như không thể vượt qua nổi; với tính tình phóng khoáng vốn có nay bị bồi đắp bởi gánh nặng u ám mà anh đã gánh chịu bấy lâu, Robert Audley nhìn về tương lai phía trước với một sự tuyệt vọng, và thỉnh thoảng nghĩ rằng sẽ tốt hơn cho anh biết bao nếu anh đã thiệt mạng giữa những tàn lửa thiêu rụi của khách sạn Castle Inn.

"Ai sẽ thương tiếc cho tôi cơ chứ? Chẳng có ai ngoài cô bé Alicia tội nghiệp của tôi," anh nghĩ, "và nỗi buồn của con bé sẽ chỉ là nỗi buồn tháng Tư mà thôi. Liệu Clara Talboys có thương tiếc tôi không? Không! Cô ấy sẽ chỉ tiếc nuối tôi như một mắt xích bị mất đi trong bức màn bí ẩn về cái chết của anh trai mình. Cô ấy sẽ chỉ..."

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.