Tuyển Tập Truyện Ngắn Nguyên Bản Hoàn Chỉnh Của Guy De Maupassant

Lượt đọc: 2732 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Những Ngồi Mộ

❊ ❊ ❊

Năm người bạn đã dùng xong bữa tối; họ là những người từng trải, giàu có, ba người đã lập gia đình và hai người vẫn độc thân. Cứ hàng tháng, họ lại tề tựu như vậy để hoài niệm về thời thanh xuân, rồi sau bữa tối, họ trò chuyện rôm rả cho đến tận hai giờ sáng. Vẫn giữ mối quan hệ thân thiết và tận hưởng bầu không khí bên nhau, có lẽ họ coi những buổi tối này là khoảng thời gian vui vẻ nhất trong đời. Họ bàn luận đủ mọi chuyện, đặc biệt là những gì thu hút và làm thú vị lòng người Paris. Cuộc trò chuyện của họ cũng giống như phần lớn các salon khác, chỉ là sự xào nấu lại bằng lời những gì họ đã đọc trên báo buổi sáng.

Một trong những người sôi nổi nhất là Joseph de Bardon, một kẻ độc thân đang tận hưởng cuộc sống Paris theo cách trọn vẹn và kỳ quặc nhất. Anh không phải là kẻ ăn chơi trác táng hay đồi trụy, mà là một tay chơi kỳ dị, vui tính, vẫn còn trẻ vì chưa đầy bốn tuổi. Một con người của xã hội theo nghĩa rộng nhất và tốt đẹp nhất, được trời phú cho một trí tuệ rực rỡ nhưng không uyên bác, với nhiều kiến thức phong phú nhưng thiếu đi sự thông thái thực sự, một khả năng tiếp thu nhanh nhạy nhưng thiếu sự thấu hiểu sâu sắc, anh chắt lọc từ những quan sát, những cuộc phiêu lưu của mình, từ vạn vật anh nhìn thấy, gặp gỡ và tìm thấy, những giai thoại vừa buồn cười vừa triết lý, đồng thời đưa ra những nhận xét hài hước mang lại cho anh tiếng tăm lớn về sự thông minh trong giới thượng lưu.

Anh chính là cây pha trò sau bữa tối và luôn có sẵn một câu chuyện cho riêng mình trong mỗi lần gặp mặt, điều mà mọi người luôn ngóng chờ, và anh kể say sưa chẳng cần phải nài nỉ.

Vừa ngồi hút thuốc, vừa chống khuỷu tay lên bàn, cạnh đĩa ăn là một ly rượu mạnh nhỏ còn nửa ly, ngập chìm nửa mê man trong bầu không khí hòa quyện giữa khói thuốc và làn hơi cà phê bốc nghi ngút, anh trông vô cùng thoải mái. Giữa hai hơi thuốc, anh cất lời:

"Có một chuyện kỳ lạ đã xảy ra với tôi cách đây không lâu."

"Kể chúng tôi nghe đi," tất cả đồng thanh kêu lên.

"Rất sẵn lòng. Các cậu biết đấy, tôi hay la cà khắp Paris giống như những kẻ sưu tầm sách lùng sục các hàng sách cũ. Tôi chỉ ngắm cảnh, ngắm người, ngắm tất cả những gì đang trôi qua và đang diễn ra trước mắt."

"Vào khoảng giữa tháng Chín—hôm đó thời tiết thật đẹp—tôi bước ra ngoài vào một buổi chiều, chẳng biết mình đang đi đâu. Người ta luôn có một ao ước mơ hồ muốn ghé thăm một người phụ nữ xinh đẹp nào đó. Ta chọn lựa trong phòng tranh tưởng tượng của mình, so sánh họ trong tâm trí, cân nhắc sức hút mà họ mang lại, những nét duyên dáng tương đương và cuối cùng đưa ra quyết định tùy theo tâm trạng ngày hôm đó. Nhưng khi nắng rực rỡ và không khí ấm áp, nó sẽ đánh bay mọi ý muốn đi thăm hỏi."

"Nắng rực rỡ, không khí ấm áp. Tôi châm một điếu xì gà và thong thả bước đi không mục đích dọc theo đại lộ vòng ngoài. Rồi, khi đang tha thẩn bước đi, tôi chợt nảy ý định đi bộ đến Montmartre và ghé vào nghĩa trang."

"Tôi rất thích các nghĩa trang. Chúng mang lại cho tôi sự tĩnh lặng và một nỗi buồn man mác; tôi cần điều đó. Hơn nữa, tôi có những người bạn tốt ở trong đó, những người mà ta không còn đến thăm nữa, và thỉnh thoảng tôi lại ghé qua."

"Chính tại nghĩa trang Montmartre này đang chôn vùi một mối tình trong đời tôi, một người yêu đã để lại trong tôi ấn tượng sâu sắc, một người phụ nữ nhỏ bé đầy cảm xúc, duyên dáng mà ký ức về nàng, dẫu mang lại cho tôi niềm đau đớn lớn lao, cũng đồng thời lấp đầy tôi bằng những tiếp nuối—tiếc nuối đủ mọi loại. Và tôi đến để mơ mộng bên nợ mồ của nàng. Nàng đã chấm dứt cuộc đời mình."

"Và rồi tôi thích nghĩa trang vì chúng là những thành phố rộng lớn chứa đầy ắp cư dân. Hãy nghĩ xem có biết bao nhiêu người chết trong không gian chật hẹp này, hãy nghĩ về tất cả các thế hệ người Paris được an nghỉ vĩnh viễn ở đó, những kẻ ẩn cư thực sự nằm gọn trong những hầm mộ nhỏ bé của họ, trong những nợ mồ bé nhỏ phủ đầy phiến đá hoặc đánh dấu bằng cây thánh giá, trong khi những kẻ đang sống lại chiếm quá nhiều diện tích và gây ra quá nhiều tiếng ồn—đúng là lũ ngốc!"

"Thêm nữa, trong nghĩa trang có những lăng mộ thú vị chẳng kém gì viện bảo tàng. Ngôi mộ của Cavaignac gợi cho tôi nhớ, tôi phải thú nhận mà không hề có sự so sánh nào, về kiệt tác của Jean Goujon: bức tượng nằm của Louis de Breze trong nhà nguyện ngầm của Nhà thờ Rouen. Mọi nghệ thuật hiện đại và hiện thực đều bắt nguồn từ đó, các bạn ạ. Người chết này, Louis de Breze, trông chân thực hơn, đáng sợ hơn, giống da thịt vô tri vẫn đang co giật trong cơn hấp hối hơn tất cả những thây ma bị bóp méo đang trưng bày tại các đài tưởng niệm tang lễ ngày nay."

"Nhưng ở Montmartre, người ta vẫn có thể chiêm ngưỡng đài tưởng niệm Baudin, nơi mang một vẻ hùng vĩ nhất định; đài tưởng niệm Gautier, của Murger, nơi hôm nọ tôi nhìn thấy một vòng hoa cúc bất tử đơn sơ, rẻ tiền, những bông hoa cúc bất tử màu vàng, do ai mang đến đó nhỉ? Có lẽ là từ người kỹ nữ cuối cùng, nay đã già nua và làm nghề gác cổng ở vùng lân cận. Đó là một bức tượng nhỏ xinh xắn do Millet thực hiện, nhưng đã bị tàn phá bởi bụi bẩn và sự lãng quên. Hãy ca ngợi tuổi trẻ đi, ôi Murger!"

"Chà, tôi đã ở đó, trong nghĩa trang Montmartre, và đột nhiên cảm thấy ngập tràn nỗi buồn, một nỗi buồn không hoàn toàn là đau đớn, một thứ nỗi buồn khiến bạn suy ngẫm khi có sức khỏe tốt rằng: 'Nơi này chẳng có gì vui vẻ, nhưng thời của mình thì chưa tới.'"

"Cảm giác của mùa thu, của bầu không khí ẩm ức sực nức mùi lá chết, cùng ánh mặt trời yếu ớt, mệt mỏi, thiếu máu càng làm gia tăng, đồng thời tô điểm thêm nét thơ mộng cho cảm giác cô độc và sự chấm dứt vĩnh viễn bao trùm nơi đậm đà hương vị tử biệt này."

"Tôi thong thả bước đi giữa những con phố mồ mả ấy, nơi những người hàng xóm không sang thăm nhau, không ngủ cùng nhau và không đọc báo. Và tôi bắt đầu đọc những tấm bia mộ. Đó là điều thú vị nhất trên đời. Chưa bao giờ Labiche hay Meilhac làm tôi cười nhiều như khi tôi cười trước những dòng chữ hài hước trên các tấm bia mộ. Ồ, những phiến đá cẩm thạch và những cây thánh giá này—nơi người thân của người quá cố đã trút hết nỗi đau buồn, niềm khát khao hạnh phúc cho kẻ đã khuất và hy vọng được đoàn tụ với họ—vượt trội hơn hẳn những cuốn sách của Paul de Kock trong việc xua tan nỗi sầu muộn biết bao nhiêu, đúng là những kẻ lừa bịp!"

"Nhưng trên hết, tôi thích phần nghĩa trang bị bỏ hoang, thanh vắng, ngập tràn những cây thủy tùng và bách lớn, phần cổ kính thuộc về những người đã khuất từ lâu, và chẳng mấy chốc sẽ lại được đưa vào sử dụng; những thân cây đang lớn được nuôi dưỡng bởi những xác chết con người bị đốn hạ để nhường chỗ chôn cất thành từng hàng dưới những phiến đá cẩm thạch nhỏ cho những kẻ mới qua đời gần đây."

"Khi tôi đã lang thang đủ lâu để làm tươi mới tâm trí mình, tôi cảm thấy mình sắp chán ngấy và cần phải đặt nén hương lòng thành kính tưởng nhớ lên nơi an nghỉ cuối cùng của người bạn nhỏ. Trực giác tôi thắt lại khi đến bên nợ mồ của nàng. Tội nghiệp người yêu dấu, nàng mới tinh tế làm sao, đáng yêu làm sao, trắng trẻo và tươi tắn làm sao—và giờ đây—nếu người ta mở nợ mồ ra..."

"Dựa người vào hàng rào sắt, tôi thì thầm kể cho nàng nghe nỗi buồn của mình, điều mà chắc là nàng chẳng thể nghe thấy, rồi đang bước đi thì tôi nhìn thấy một người phụ nữ mặc đồ đen, tang chế ngập tràn, đang quỳ gối bên ngôi mộ kế bên. Mạng tang bằng vải crêp của nàng được lật ngược lên, để lộ một mái tóc vàng xinh xắn, những lọn tóc ép sát như dải lụa dưới vầng trán thấp thoáng như ánh bình minh bên dưới chiếc khăn tang tối màu. Tôi dừng lại."

"Chắc hẳn nàng đang chìm trong niềm đau thương tột cùng. Nàng che mặt bằng hai tay và đứng đó trầm ngâm, cứng đờ như bức tượng, đắm chìm trong nỗi đau, lần chuỗi hạt tang thương của ký ức trong bóng tối của đôi mắt nhắm nghiền và che khuất, bản thân nàng trông giống như một người chết đang tiếc thương cho một người chết khác. Bỗng nhiên, một cử động nhẹ ở tấm lưng, giống như làn gió lướt qua rặng liễu, khiến tôi đoán rằng nàng sắp khóc. Nàng khóc thầm lúc đầu, rồi lớn tiếng hơn, với những cái chuyển động nhanh ở cổ và vai. Đột nhiên nàng mở bừng mắt. Chúng ngấn lệ và đầy quyến rũ, đôi mắt của một người phụ nữ hoảng loạn, nàng đảo mắt nhìn quanh như vừa tỉnh dậy sau cơn ác mộng. Nàng nhìn tôi, có vẻ bẽn lẽn rồi che kín mặt hoàn toàn bằng hai tay. Sau đó, nàng nấc nghẹn ngào, và đầu từ từ cúi gục xuống tấm đá cẩm thạch. Nàng tì trán lên đó, và chiếc khăn tang xõa rộng xung quanh che lấp đi các góc trắng của ngôi mộ thân yêu, giống như một dấu hiệu tang tóc mới tinh. Tôi nghe thấy nàng thở dài, rồi ngã gục xuống với má áp sát phiến đá cẩm thạch và nằm bất động, bất tỉnh nhân sự."

"Tôi lao tới chỗ nàng, vỗ nhẹ vào tay nàng, thổi vào mi mắt nàng, trong khi đọc tấm bia mộ giản dị này: 'Nơi đây yên nghỉ Louis-Theodore Carrel, Đại úy Thủy quân Lục chiến, tử trận bởi kẻ thù tại Bắc Kỳ. Xin hãy cầu nguyện cho anh ấy.'

"Anh ta đã qua đời cách đó vài tháng. Tôi xúc động đến phát khóc và càng ân cần chăm sóc hơn. Chúng đã phát huy tác dụng. Nàng đã tỉnh lại. Tôi trông có vẻ rất xúc động. Ngoại hình tôi không đến nỗi nào, tôi chưa đầy bốn tuổi. Qua cái nhìn đầu tiên của nàng, tôi thấy nàng sẽ là một người lịch sự và biết ơn. Quả đúng vậy, và giữa dòng nước mắt, nàng kể cho tôi nghe câu chuyện đời mình qua những đoạn ngắt quãng thều thào mà hơi thở đứt quãng cho phép, rằng viên sĩ quan đã tử trận tại Bắc Kỳ ra sao khi họ mới kết hôn được một năm, rằng nàng đã cưới anh vì tình yêu, và vì là một mồ côi, nàng chỉ có mỗi số hồi môn bình thường."

"Tôi an ủi nàng, dỗ dành nàng, đỡ nàng đứng dậy và giúp nàng đứng vững trên đôi chân. Rồi tôi nói:"

"'Đừng ở lại đây nữa. Đi thôi.'

"'Tôi không thể đi nổi,' nàng thì thầm.

"'Tôi sẽ dìu cô.'

"'Cảm ơn ông; ông thật tốt bụng. Chẳng lẽ ông cũng đến để khóc thương ai đó sao?'

"'Vâng, thưa bà.'

"'Một người bạn đã khuất?'

"'Vâng, thưa bà.'

"'Vợ ông ư?'

"'Một người bạn.'

"'Người ta có thể yêu một người bạn nhiều như yêu vợ mình. Tình yêu không có luật lệ.'

"'Vâng, thưa bà.'

"Và chúng tôi cùng nhau bước đi, nàng tựa vào tay tôi, trong khi tôi gần như bế xốc nàng đi dọc theo những lối đi trong nghĩa trang. Khi ra đến bên ngoài, nàng ngập ngừng:"

"'Tôi có cảm giác mình sắp ngất.'

"'Cô có muốn ghé vào đâu đó để uống chút gì không?'

"'Vâng, thưa ông.'

"Tôi nhìn thấy một nhà hàng, một trong những nơi mà những người đi tang lễ thường ghé qua để làm tiệc chia buồn. Chúng tôi bước vào. Tôi gọi cho nàng một tách trà nóng, thứ có vẻ giúp nàng hồi sức. Một nụ cười thoảng qua trên môi nàng. Nàng bắt đầu kể về bản thân. Thật buồn, buồn làm sao khi cứ mãi cô độc trong cuộc đời, thui thủi một mình trong căn nhà của mình ngày lẫn đêm, chẳng có lấy một ai để trao gửi tình cảm, sự tin tưởng, sự thân mật."

"Lời nói ấy nghe thật chân thành. Phát ra từ miệng nàng nghe thật dễ thương. Tôi thấy chạnh lòng. Nàng còn rất trẻ, có lẽ mới đôi mươi. Tôi dành cho nàng những lời tán dương, và nàng đón nhận chúng một cách vui vẻ. Rồi, khi thời gian trôi qua, tôi đề nghị đưa nàng về nhà bằng xe ngựa. Nàng đồng ý, và trên chiếc xe fiacre, chúng tôi ngồi sát đến mức vai chạm vai."

"Khi xe dừng trước nhà nàng, nàng thì thầm: 'Tôi không đủ sức để leo cầu thang một mình, vì tôi ở tầng bốn. Ông đã quá tốt bụng. Ông có phiền cho tôi tì tay vào đến tận cửa nhà không?'

"Tôi nhiệt tình nhận lời. Nàng chậm rãi bước lên cầu thang, thở dốc. Rồi, khi chúng tôi đứng trước cửa nhà nàng, nàng bảo:"

"'Vào nhà một lát để tôi cảm ơn ông nhé.'

"Và, thề có Chúa, tôi đã bước vào. Mọi thứ đều khiêm nhường, thậm chí hơi nghèo nàn, nhưng giản dị và có gu thẩm mỹ."

"Chúng tôi ngồi cạnh nhau trên một chiếc ghế sofa nhỏ và nàng lại bắt đầu nói về sự cô đơn của mình. Nàng bấm chuông gọi người hầu để mời tôi chút rượu. Người hầu không tới. Tôi vô cùng sung sướng, nghĩ rằng người giúp việc này chắc chỉ đến vào buổi sáng, kiểu người mà người ta vẫn gọi là lao công theo giờ."

"Nàng đã cởi mũ ra. Nàng thực sự rất xinh đẹp, và nàng nhìn tôi bằng đôi mắt trong veo, nhìn đắm đuối đến mức đôi mắt trong veo ấy khiến tôi vô cùng xao xuyến. Tôi ôm chầm lấy nàng và mưa những nụ hôn lên đôi mi đang nhắm nghiền bất ngờ của nàng."

"Nàng vùng ra và đẩy tôi ra, thốt lên:"

"'Thôi đi, thôi đi nào.'

"Nhưng rồi tôi lại hôn lên môi nàng và nàng không hề kháng cự, và khi ánh mắt chúng tôi chạm nhau sau khi cả gan bôi nhọ ký ức về vị đại úy tử trận ở Bắc Kỳ như thế, tôi nhận ra nàng mang một vẻ mặt u sầu, cam chịu khiến tâm trí tôi hoàn toàn yên tâm."

"Tôi trở nên vô cùng ân cần và sau một hồi trò chuyện, tôi cất lời:"

"'Cô thường ăn tối ở đâu?'"

"'Ở một quán ăn nhỏ trong khu này thôi.'"

"'Đi một mình ư?'"

"'Thì vâng.'"

"'Cô dùng bữa tối với tôi nhé?'"

"'Ở đâu ạ?'"

"'Ở một nhà hàng ngon trên Đại lộ.'"

"Nàng hơi ngập ngừng. Tôi nài nỉ. Nàng nhượng bộ, tự bào chữa cho mình bằng cách nói: 'Tôi cô đơn quá... cô đơn quá.' Rồi nàng nói thêm:"

"'Tôi phải thay bộ đồ bớt tang tóc này đã,' rồi đi vào phòng ngủ. Khi xuất hiện trở lại, nàng đã diện bộ đồ nửa tang, vô cùng quyến rũ, mảnh mai trong chiếc váy xám giản dị. Rõ ràng nàng có một bộ trang phục dành riêng cho nghĩa trang và một bộ dành cho phố thị."

"Bữa tối diễn ra vô cùng vui vẻ. Nàng uống một chút champagne, rạng rỡ hẳn lên, trở nên hoạt bát và tôi đã đưa nàng về nhà."

"Mối quan hệ bắt nguồn giữa chốn mồ mả này kéo dài khoảng ba tuần. Nhưng rồi người ta cũng chán ngấy mọi thứ, đặc biệt là phụ nữ. Tôi rời bỏ nàng với lý do phải đi chuyến công tác gấp. Nàng bắt tôi phải hứa khi về sẽ ghé thăm nàng. Trông có vẻ như nàng thực sự gắn bó với tôi."

"Những chuyện khác cuốn lấy sự chú ý của tôi, và khoảng một tháng sau tôi mới nhớ nhiều đến người bạn nhỏ chốn nghĩa trang này. Dù vậy, tôi không hề quên nàng. Ký ức về nàng ám ảnh tôi như một ẩn số, như một bài toán tâm lý, một trong những câu hỏi kỳ lạ không tài nào giải đáp nổi khiến ta đau đầu."

"Tôi chẳng rõ tại sao, nhưng có một hôm tôi nghĩ nhỡ đâu mình lại gặp nàng ở nghĩa trang Montmartre, thế là tôi ghé đến đó."

"Tôi lang thang một hồi lâu mà chẳng gặp ai ngoài những vị khách quen thuộc của chốn này, những kẻ vẫn chưa cắt đứt mọi liên hệ với người quá cố của họ. Ngôi mộ của vị đại úy tử trận ở Bắc Kỳ chẳng có bóng dáng người khóc thương nào trên phiến đá cẩm thạch, chẳng hoa, chẳng vòng hoa."

"Nhưng khi tôi lang thang sang một góc khác của thành phố người chết rộng lớn này, tôi bỗng nhận ra, cuối một con hẻm nhỏ rợp bóng những cây thánh giá, một cặp đôi đang mặc tang phục đậm màu bước về phía mình, một nam một nữ. Ôi trời ơi! Khi họ tiến lại gần, tôi nhận ra nàng. Chính là nàng!"

"Nàng nhìn thấy tôi, đỏ mặt, và khi lướt qua người tôi, nàng ra hiệu một chút, một tín hiệu nhỏ xíu bằng mắt mang ý nghĩa: 'Đừng nhận ra tôi!' đồng thời cũng ngầm bảo: 'Lại đến thăm em nhé, anh yêu!'"

"Gã đàn ông là một quý ông lịch lãm, bảnh bao, một sĩ quan Bắc đẩu Bội tinh, chừng năm mươi tuổi. Gã đang dìu nàng y như cách tôi từng dìu nàng khi chúng tôi rời khỏi nghĩa trang."

"Tôi tiếp bước đi của mình, ngập tràn kinh ngạc, tự hỏi tất cả chuyện này có ý nghĩa gì, rốt cuộc giống loài nào sinh ra những kẻ đi săn lùng chốn mồ mả này? Liệu nàng chỉ là một côả lẳng lơ tầm thường, kẻ chuyên đi tìm kiếm trong nghĩa trang những gã đàn ông đang chìm trong đau khổ, bị ám ảnh bởi ký ức về một người phụ nữ nào đó, vợ hay người yêu, và vẫn vương vấn những cử chỉ vuốt ve đã vụt mất? Hay nàng là kẻ độc nhất vô nhị? Có nhiều người như thế không? Đây có phải là một nghề không? Họ tuần tra nghĩa trang giống như cách họ lảng vảng ngoài phố sao? Hay mặt khác, nàng chỉ bị ấn tượng bởi ý tưởng tuyệt vời và vô cùng triết lý là khai thác những hoài niệm tình yêu vốn được hồi sinh tại những chốn tang tóc này?"

"Và tôi ước gì mình biết được góa phụ của ai trong ngày đặc biệt đó."

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.