Tuyển Tập Truyện Ngắn Nguyên Bản Hoàn Chỉnh Của Guy De Maupassant

Lượt đọc: 2732 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Kẻ Hấp Hối

❊ ❊ ❊

Ánh nắng mùa thu ấm áp đang trải xuống khoảng sân nông trại. Dưới lớp cỏ đã bị bò ăn trụi sát gốc, mặt đất ngấm những trận mưa gần đây trở nên mềm nhũn, lún sâu dưới chân phát ra tiếng lép nhép, còn những cây táo trĩu quả đang rụng những trái xanh xợt xuống thảm cỏ xanh thẫm.

Bốn con bò cái tơ được buộc thành một hàng đang gặm cỏ, thỉnh thoảng lại ngẩng lên nhìn về phía ngôi nhà và rống lên. Đám gia cầm tạo thành một vệt màu sặc sỡ trên đống phân trước chuồng, chúng bới móc, đi lại và cục tác, trong khi hai con gà trống gáy vang không ngớt, bới giun cho bầy gà mái và cất tiếng kêu cục cục thật to để gọi chúng.

Cánh cổng gỗ mở ra và một người đàn ông bước vào. Trông ông ta có lẽ khoảng bốn tuổi, nhưng già đi phải đến sáu mươi, nhăn nheo, còng lưng, bước đi chậm chạp, bị cản trở bởi sức nặng của đôi ủng gỗ điền đầy rơm. Hai cánh tay dài buông thõng xuống hai bên sườn. Khi ông ta đến gần nông trại, một con chó vàng lai được xích ở gốc cây lê khổng lồ, cạnh một chiếc thùng phi dùng làm chuồng, thoạt đầu vẫy đuôi rồi sủa mừng rỡ. Người đàn ông quát:

“Im nào, Finot!”

Con chó liền im bặt.

Một người đàn bà nhà nông bước ra khỏi nhà. Thân hình to lớn, thô kệch và nhiều xương của bà lộ rõ dưới lớp áo khoác dài bằng dạ thắt eo. Chiếc váy xám cộc cỡn buông thõng đến giữa bắp chân, nơi mang đôi tất xanh. Bản thân bà cũng đi ủng gỗ nhồi rơm. Chiếc mũ vải trắng đã ngả vàng che đi mái tóc thưa thớt bết chặt vào da đầu, còn khuôn mặt ngăm đen, gầy giộc, xấu xí và không còn chiếc răng nào ấy mang vẻ hoang dã, thú tính thường thấy ở những người nhà nông.

Người đàn ông hỏi:

“Lão thế nào rồi?”

Người đàn bà đáp:

“Ông thầy tu bảo là hết cứu rồi—rằng lão không sống qua nổi đêm nay đâu.”

Cả hai cùng bước vào trong nhà.

Đi qua nhà bếp, họ bước vào một căn phòng tối thấp lè tè, được chiếu sáng lờ mờ bởi một khung cửa sổ có mảnh vải chẽn treo trước mặt. Những thanh xà nhà lớn đã ngả màu nâu vì năm tháng và khói bếp vắt ngang phòng từ bên này sang bên kia, đỡ lấy sàn gác mỏng manh nơi lũ chuột kéo nhau chạy nhảy suốt ngày đêm.

Nền đất ẩm ướt, lổn nhổn trông nhờ nhớp, và ở tận cùng căn phòng, chiếc giường tạo thành một đốm trắng mờ ảo. Một thứ âm thanh khô khốc, đều đặn, một tiếng thở khò khè, nặng nhọc và rít lên như tiếng nước từ chiếc bơm hỏng, phát ra từ chiếc giường tối tăm nơi lão già, cha của người đàn bà, đang hấp hối.

Người đàn ông và người đàn bà tiến lại gần người sắp chết và nhìn ông bằng ánh mắt bình thản, cam chịu.

Người con rể bảo:

“Tao đoán phen này lão đi đời nhà ma rồi; không sống qua đêm nay đâu.”

Người đàn bà đáp:

“Lão khò khè thế từ trưa tới giờ đấy.” Họ im lặng. Đôi mắt người cha nhắm nghiền, khuôn mặt tái ngợt màu đất và khô đét trông như khúc gỗ. Qua miệng hé mở phát ra tiếng thở khò khốc, rít lên, và tấm vải liệm màu xám cứ phập phồng theo từng nhịp thở.

Người con rể, sau một hồi lâu im lặng, lên tiếng:

“Chẳng còn cách nào khác; tao chịu thua, chẳng giúp gì được nữa. Dù sao thì cũng phiền phức thật, vì thời tiết đang đẹp mà khối việc phải làm.”

Vợ ông ta có vẻ khó chịu trước ý nghĩ này. Bà trầm ngâm vài phút rồi nói:

“Lão chưa được chôn cất trước ngày thứ Bảy đâu, và như thế anh sẽ có toàn bộ ngày mai.”

Người nông dân ngẫm nghĩ rồi đáp:

“Ừ, nhưng ngày mai tao lại phải đi mời mọi người đến dự đám tang. Thế là mất toi năm sáu tiếng vòng qua Tourville với Manetot để gặp gỡ mọi người.”

Người đàn bà, sau khi suy tính chừng hai, ba phút, tuyên bố:

“Chưa đến ba giờ đâu. Anh có thể đi từ chiều nay và vòng quanh vùng Tourville luôn. Cứ coi như lão chết quách đi rồi, đằng nào thì bây giờ lão cũng chẳng khác gì người chết.”

Người đàn ông đứng chần chừ một lúc, đong đếm lợi hại của ý kiến ấy. Cuối cùng ông ta quyết định:

“Thôi được, tao đi!”

Ông ta đang bước ra cửa nhưng lại quay vào sau một phút ngập ngừng:

“Vì cô chẳng có việc gì làm nên có thể hái ít táo xuống để nướng và làm bốn chục cái bánh bao đãi khách đến dự đám tang chứ, vì phải có cái gì đó để khoản đãi họ chứ. Cô có thể nhóm lửa bằng chỗ củi dưới mái hiên ấy. Khô ráo cả rồi.”

Ông ta rời phòng, quay lại nhà bếp, mở chạn lấy ra ổ bánh mì sáu cân, cắt một lát, rồi cẩn thận vun những vụn bánh vào lòng bàn tay rồi bỏ vào miệng để không rơi vãi chút gì. Sau đó, dùng đầu con dao, ông cạo một ít bơ muối ở đáy chiếc hũ sành, phết lên bánh mì và bắt đầu ăn một cách chậm rãi, như cách ông làm mọi việc.

Ông bước qua khoảng sân nông trại, trấn an con chó vừa bắt đầu sủa lại, đi ra con đường nhỏ dọc theo bờ mương rồi biến hút về hướng Tourville.

Vừa thui thủi một mình, người đàn bà liền bắt tay vào việc. Bà mở thùng bột và nhào bột làm bánh. Bà nhào một hồi lâu, lật đi lật lại, đấm, ép, rồi bóp chặt khối bột. Cuối cùng bà nặn được một khối tròn vo, trắng ngà, rồi đặt nó lên góc bàn.

Rồi bà đi hái táo, và để không làm hại cây bằng sào, bà trèo lên cây bằng một chiếc thang. Bà chọn lựa trái cẩn thận, chỉ lấy những quả chín, và hứng chúng vào vạt tạp dề.

Một giọng nói cất lên từ ngoài đường:

“Này, thím Chicot!”

Bà quay lại. Đó là người hàng xóm, ông Osime Favet, viên thị trưởng, đang trên đường đi bón phân cho ruộng nhà mình, ngồi trên chiếc xe chở phân với hai chân lủng lẳng bên thành xe. Bà quay lại đáp lời:

“Tôi giúp gì được cho bác, thưa ngài Osime?”

“Thế cụ ông dạo này thế nào rồi?”

Bà kêu lên:

“Cụ coi như đi rồi đấy ạ. Đám tang vào lúc bảy giờ ngày thứ Bảy, vì dạo này nhiều việc quá.”

Người hàng xóm đáp:

“Thế à! Chúc may mắn nhé! Cố giữ sức khỏe đấy.”

Đáp lại những lời tốt bụng ấy, bà nói:

“Cảm ơn bác; chúc bác cũng vậy.”

Rồi bà tiếp tục hái táo.

Khi quay lại nhà, bà ghé vào xem tình hình cha mình, cứ đinh ninh sẽ thấy ông đã chết. Nhưng vừa đến cửa, bà đã nghe thấy tiếng khò khè quen thuộc và đều đều của ông, và nghĩ rằng tốn thời gian khi bước vào trong, bà bắt đầu chuẩn bị làm bánh. Bà bọc từng quả táo trong một lớp bột mỏng, rồi xếp chúng thành hàng trên mép bàn. Khi đã làm xong bốn mươi tám chiếc bánh bao, xếp thành từng chục cái nối tiếp nhau, bà bắt đầu nghĩ đến việc chuẩn bị bữa tối và bắc chiếc ấm lên bếp để luộc khoai tây, bởi bà thấy chẳng việc gì phải nhóm lò nướng vào ngày hôm nay khi mà bà có cả ngày mai để hoàn tất mọi việc.

Chồng bà trở về lúc khoảng năm giờ. Vừa đặt chân qua ngưỡng cửa, ông ta hỏi:

“Xong chưa?”

Bà đáp:

“Chưa đâu; lão vẫn đang khò khè.”

Họ đi vào xem tình hình. Lão già vẫn ở nguyên trạng như cũ. Tiếng khò khè khàn đục, đều đặn như tiếng tích tắc của đồng hồ, không nhanh hơn mà cũng chẳng chậm hơn. Nó vang lên sau mỗi giây, âm điệu thay đổi đôi chút tùy theo không khí ra vào lồng ngực ông.

Người con rể nhìn ông rồi bảo:

“Lão sẽ đi đời nhà ma mà chúng ta chẳng hay biết gì đâu, y như một ngọn nến tắt vậy.”

Họ quay lại nhà bếp và bắt đầu ăn mà không nói một lời. Sau khi nuốt xong bát súp, họ ăn thêm một lát bánh mì phết bơ. Rồi, ngay khi rửa bát đĩa xong, họ lại quay trở lại phòng người sắp chết.

Người đàn bà tay cầm một chiếc đèn nhỏ với bấc đèn đang bốc khói, giơ trước mặt cha mình. Nếu không nhờ tiếng thở, hẳn người ta sẽ đinh ninh ông đã chết.

Chiếc giường của hai vợ chồng được giấu trong một góc khuất ở đầu bên kia căn phòng. Họ lặng lẽ đi ngủ, tắt đèn, nhắm mắt lại, và chẳng mấy chốc hai tiếng ngáy lệch nhịp, một trầm một bổng, đã hòa cùng tiếng khò khè không dứt của người sắp chết.

Lũ chuột chạy toán loạn trên gác mái.

Người chồng thức dậy từ lúc rạng đông. Bố vợ ông vẫn còn sống. Ông lay vợ dậy, cảm thấy lo lắng vì sự dai dẳng của lão già.

“Này Phemie, lão không chịu đi quách cho rồi. Cô tính sao đây?”

Ông biết vợ mình vốn là người khôn khéo đưa ra những lời khuyên hay.

Bà đáp:

“Anh chẳng phải lo đâu; lão không sống qua nổi ngày hôm nay đâu. Hơn nữa ngài thị trưởng sẽ không ngăn cản chúng ta chôn cất lão vào ngày mai đâu, bởi vì ngài ấy đã cho phép điều đó đối với bố của lão Renard, người cũng qua đời ngay vào vụ gieo trồng.”

Lập luận đó đã thuyết phục được ông, và ông lên đường ra đồng.

Vợ ông nướng bánh bao rồi quay sang lo việc nhà.

Đến trưa lão già vẫn chưa chết. Những người được thuê làm việc trong ngày từng tốp ghé vào xem mặt ông. Ai nấy đều đưa ra vài lời bình phẩm. Rồi họ lại kéo nhau ra đồng.

Đến sáu giờ, khi công việc đã xong xuôi, cụ ông vẫn đang thở. Cuối cùng thì người con rể cũng đâm hoảng.

“Bây giờ cô tính sao đây, Phemie?”

Bà cũng chẳng biết phải giải quyết rắc rối này ra sao nữa. Họ đành đến tìm thị trưởng. Ông ta hứa sẽ nhắm mắt làm ngơ và cho phép tổ chức tang lễ vào ngày hôm sau. Họ cũng tới gặp y sĩ trạm xá, người này cũng hứa, để làm ơn cho lão Chicot, sẽ ghi lùi ngày trên giấy chứng tử. Hai vợ chồng trở về, lòng cảm thấy nhẹ nhõm hơn phần nào.

Họ đi ngủ và chìm vào giấc ngủ y như ngày hôm trước, tiếng thở khò khè vang dội của họ hòa quyện vào tiếng thở yếu ớt của cụ già.

Khi họ tỉnh giấc, cụ vẫn chưa chết.

Lúc bấy giờ họ bắt đầu sợ hãi. Họ đứng bên cha, nhìn ông với vẻ đầy dè chừng, hệt như thể ông đang muốn chơi xỏ họ một vố đau, muốn lừa gạt hay cố tình quấy rầy họ vậy, và họ cảm thấy bực bội vì khoảng thời gian mà ông đang làm họ mất mặt.

Người con rể hỏi:

“Bây giờ tao phải làm sao đây?”

Bà cũng chịu chết. Bà đáp:

“Đúng là phiền phức thật đấy!”

Những vị khách được mời không tài nào báo tin kịp. Họ đành quyết định chờ đợi và giải thích rõ sự tình với mọi người.

Khoảng gần bảy giờ kém thì những vị khách đầu tiên tới nơi. Những người phụ nữ mặc đồ đen, đầu trùm khăn tang lớn, trông vô cùng buồn bã. Tiếp đó là những người đàn ông ngượng ngùng trong những bộ áo vải thô, bước tới chậm rãi hơn, đi thành từng đôi và bàn chuyện làm ăn.

Lão Chicot và vợ, mặt cắt không còn giọt máu, đón tiếp họ với vẻ mặt đau khổ, rồi đột ngột cả hai cùng ôm mặt khóc nức nở khi vừa tiến lại gần nhóm khách đầu tiên. Họ thanh minh sự tình, kể lể nỗi khổ tâm, mời ghế ngồi, cuống cuồng tìm cách biện hộ, cố chứng minh rằng ai ở hoàn cảnh của họ cũng sẽ hành xử như vậy, vừa nói huyên thuyên vừa chẳng để ai kịp chen lời.

Họ cứ thế di chuyển từ người này sang người khác:

“Tôi chưa bao giờ nghĩ thế đâu; thật không thể tin nổi sao lão có thể dai sức đến nhường này!”

Những vị khách ngơ ngác, có phần hụt hẫng hệt như thể họ bị bỏ lỡ một buổi biểu diễn mong đợi từ lâu, chẳng biết phải làm sao, người thì ngồi, kẻ thì đứng. Vài người định quay về. Lão Chicot liền giữ họ lại:

“Dằng nào các bác cũng phải dùng chút gì đã chứ! Nhà tôi có làm ít bánh bao; đằng nào cũng phải ăn cho hết.”

Khuôn mặt mọi người bỗng sáng bừng lên trước ý kiến đó. Sân nhà mỗi lúc một đông; những người đến trước đang kể lại câu chuyện cho những kẻ đến sau nghe. Ai nấy đều thì thầm to nhỏ. Ý tưởng về đĩa bánh bao hình như đã vực dậy tinh thần của tất cả mọi người.

Mấy bà bước vào trong để ngắm mặt người sắp chết. Họ làm dấu thánh bên giường bệnh, lầm rầm đọc một lời cầu nguyện rồi lại bước ra. Mấy ông đàn ông thì ít tha thiết với cảnh tượng này hơn, chỉ liếc nhìn qua ô cửa sổ đã được mở sẵn.

Bà Chicot giãi bày nỗi niềm khổ sở:

“Lão bị thế này hai ngày nay rồi, chẳng khá lên mà cũng chẳng tồi đi. Nghe có giống cái tiếng của cái bơm cạn nước không cơ chứ?”

Khi tất cả mọi người đã vào ngắm cụ ông xong xuôi, họ bắt đầu nghĩ đến chuyện đãi đỗ; nhưng vì trong bếp quá chật chội không chứa nổi ngần ấy người, chiếc bàn liền được khiêng ra dựng trước cửa. Bốn mươi tám chiếc bánh bao vàng ươm, ngon lành và hấp dẫn, được xếp trong hai chiếc đĩa lớn, thu hút ánh nhìn của tất cả mọi người. Ai nấy đều chồm tới để lấy phần của mình vì sợ không đủ. Thế mà vẫn thừa lại bốn cái.

Lão Chicot, miệng ngậm đầy thức ăn, lên tiếng:

“Cụ mà thấy cảnh này chắc buồn lắm đây. Lúc sinh thời cụ thích món này lắm cơ mà.”

Một gã nông dân to béo, vui tính tuyên bố:

“Bây giờ cụ có ăn được nữa đâu. Ai người nấy hưởng thôi.”

Câu nói ấy, thay vì làm đám khách buồn lòng, lại có vẻ khiến họ vui hẳn lên. Bây giờ đến lượt họ thưởng thức bánh bao rồi.

Bà Chicot, xót xa vì tốn kém, cứ phải liên tục chạy xuống hầm lấy rượu táo. Những vò rượu lần lượt cạn veo. Cơn cười nói ầm ĩ bắt đầu vang lên khắp chốn. Họ bắt đầu hò hét hệt như trong những bữa tiệc tùng.

Bỗng nhiên, một bà già hàng xóm nãy giờ vẫn túc trực bên người sắp chết, bị níu chân lại bởi nỗi sợ hãi bệnh hoạn về những gì sắp giáng xuống bản thân mình, bỗng xuất hiện bên cửa sổ và thét lên lanh lảnh:

“Lão chết rồi! Chết rồi!”

Tất cả bỗng im phăng phắc. Mấy người đàn bà vội vã đứng phắt dậy chạy vào xem. Lão chết thật rồi. Tiếng khò khè đã dứt hẳn. Đám đàn ông nhìn nhau, cúi gằm mặt đầy ngượng ngùng. Họ vẫn chưa ăn xong chỗ bánh bao cơ mà. Quả thực cái lão vô lại này không chọn đúng lúc đúng chỗ một chút nào cả. Vợ chồng Chicot giờ đây chẳng còn khóc lóc gì nữa. Mọi chuyện đã chấm dứt; họ cảm thấy nhẹ nhõm hẳn.

Họ cứ lẩm bẩm nhắc đi nhắc lại:

“Tôi biết ngay là lão chẳng thể kéo dài hơn được nữa mà. Ước gì lão chịu đi quách từ tối qua, thì chúng tôi đã đỡ biết bao nhiêu rắc rối rồi cơ chứ.”

Thôi thì dẫu sao mọi chuyện cũng qua rồi. Họ sẽ chôn cất cụ vào thứ Hai, thế là xong xuôi tất cả, và nhân dịp ấy họ lại được ăn thêm mẻ bánh bao khác.

Khách khứa lục tục ra về, vừa đi vừa bàn tán rôm rả, vô cùng đắc ý vì vừa có dịp mục kích tận mắt lại vừa được một bữa ăn no nê.

Và khi hai vợ chồng ở lại một mình, đối mặt với nhau, bà cất lời, khuôn mặt biến dạng vì tức tối:

“Chúng ta lại phải nướng thêm bốn chục cái bánh bao nữa rồi! Sao lão không chịu quyết định luôn từ tối qua cơ chứ?”

Người chồng, tỏ vẻ nhẫn nhịn hơn, đáp lời:

“Thôi nào, có phải ngày nào chúng ta cũng làm thế này đâu em.”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.