Bác sĩ Bonnet, người bạn cũ của tôi — đôi khi người ta có những người bạn lớn tuổi hơn cả chính mình — vẫn thường mời tôi đến Riom chơi ít ngày; và vì tôi chưa biết gì về xứ Auvergne, nên tôi đã quyết định đến thăm ông vào mùa hè năm 1876.
Tôi đến nơi bằng chuyến tàu buổi sáng, và người đầu tiên tôi nhìn thấy trên sân ga chính là vị bác sĩ. Ông mặc một bộ đồ xám, đội một chiếc mũ phớt nỉ mềm màu đen, vành rộng, chóp cao và thuôn nhỏ ở phần đỉnh trông giống như cái ống khói, một kiểu mũ mà chẳng có ai ngoài người Auvergne chịu đội, gợi ta nhớ đến những kẻ đốt than. Khoác lên mình bộ dạng ấy, vị bác sĩ trông giống như một thanh niên già nua, với thân hình gầy guộc lọt thỏm trong chiếc áo mỏng, và cái đầu to phủ đầy tóc bạc.
Ông ôm chầm lấy tôi với niềm vui sướng rạng rỡ mà những người sống ở vùng quê thường thể hiện khi gặp lại những người bạn hằng mong ngóng, rồi vừa giơ cánh tay ra, ông vừa kiêu hãnh tuyên bố:
“Đây chính là Auvergne!” Trước mắt tôi chẳng thấy gì ngoài một dãy núi mà những đỉnh của chúng, vốn giống như các hình nón cụt, hẳn từng là những ngọn núi lửa đã tắt.
Rồi, chỉ tay về phía bảng tên nhà ga, ông nói:
“Riom, quê hương của các thẩm phán, niềm tự hào của giới tư pháp, nơi mà lẽ ra phải là quê hương của các bác sĩ mới phải.”
“Tại sao chứ?” Tôi hỏi.
“Tại sao à?” Ông đáp lại với một nợ cười. “Nếu bạn đảo ngược các chữ cái lại, bạn sẽ có từ 'mori' trong tiếng Latinh, nghĩa là chết. Đó chính là lý do tại sao tôi chọn định cư ở đây, anh bạn trẻ của tôi ạ.”
Và, vô cùng đắc ý với trò đùa của chính mình, ông kéo tôi đi, hai tay xoa vào nhau.
Ngay sau khi tôi vừa nuốt xong tách cà phê, ông liền bắt tôi đi tham quan thị trấn. Tôi trầm trồ trước ngôi nhà của tay dược sĩ và những ngôi nhà danh tiếng khác, trông cái nào cũng đen xì nhưng lại đẹp đẽ như đồ cổ mỹ nghệ, với những mặt tiền bằng đá chạm trổ. Tôi ngắm nhìn bức tượng Đức Mẹ, vị thánh bảo hộ của những người bán thịt, và ông đã kể cho tôi nghe một câu chuyện thú vị về điều này mà tôi sẽ thuật lại vào một dịp khác, rồi bác sĩ Bonnet bảo tôi:
“Tôi phải nhờ bạn thứ lỗi cho trong vài phút để tôi đi khám một bệnh nhân, rồi tôi sẽ đưa bạn đi Chatel-Guyon, để cho bạn ngắm nhìn toàn cảnh thị trấn cùng toàn bộ dãy núi Puy-de-Dome trước bữa trưa nhé. Bạn có thể đợi tôi ở bên ngoài; tôi chỉ lên lầu rồi sẽ xuống ngay lập tức.”
Ông để tôi đứng đợi trước một trong những ngôi nhà cổ kính, u ám, tĩnh lặng và đầy ảm đạm mà người ta hay gặp ở các vùng tỉnh lẻ, và ngôi nhà này dường như còn mang một vẻ gì đó đặc biệt hiểm ác, để rồi chẳng mấy chốc tôi đã phát hiện ra nguyên nhân. Tất cả các ô cửa sổ lớn ở tầng một đều bị đóng ván che kín đến nửa chừng. Chỉ có phần phía trên của chúng là mở được, tựa hồ như người ta muốn ngăn cản những kẻ bị giam cầm trong chiếc hộp bằng đá khổng lồ đó không cho nhìn ra đường phố.
Khi vị bác sĩ bước xuống, tôi liền kể cho ông nghe cảm giác của mình về ngôi nhà, và ông đáp lại:
“Bạn nói rất đúng; sinh tội nghiệp đang sống trong đó tuyệt đối không bao giờ được phép nhìn thấy những gì đang diễn ra bên ngoài. Cô ta là một kẻ điên, hay đúng hơn là một đứa đần độn, cái mà người xứ Normandy các anh gọi là một Niente. Đó là một câu chuyện bi thảm, nhưng đồng thời cũng là một ca bệnh lý vô cùng kỳ lạ. Tôi kể cho bạn nghe nhé?”
Tôi nài nỉ ông hãy kể, và ông tiếp tục:
“Hai mươi năm trước, chủ nhân của ngôi nhà này, vốn là bệnh nhân của tôi, có một cô con gái phát triển bình thường như bao thiếu nữ khác, nhưng chẳng mấy chốc tôi nhận ra rằng trong khi thể xác của con bé phát triển một cách tuyệt mỹ, thì trí tuệ của nó lại giậm chân tại chỗ.
“Nó bắt đầu biết đi từ rất sớm, nhưng lại không thể nói được. Ban đầu tôi cứ tưởng nó bị điếc, nhưng chẳng mấy chốc tôi phát hiện ra rằng, mặc dù nó nghe rất rõ, nó lại chẳng hiểu gì về những điều người ta nói với mình. Những tiếng động lớn chỉ làm nó giật mình và sợ hãi, chứ nó chẳng tài nào hiểu nổi chúng do đâu mà ra.
“Nó lớn lên thành một phụ nữ tuyệt đẹp, nhưng lại câm lặng do hoàn toàn thiếu vắng trí tuệ. Tôi đã thử mọi cách để khơi gợi một chút ánh sáng trí khôn vào bộ não của nó, nhưng chẳng có cách nào thành công. Tôi tưởng chừng như nó nhận ra người vú em của mình, thế nhưng ngay từ khi dứt sữa, nó đã chẳng thể nhận ra mẹ ruột nữa. Nó chưa bao giờ thốt nổi từ ngữ đó, từ đầu tiên mà những đứa trẻ thốt ra và là từ cuối cùng mà những người lính thỉnh cầu khi họ ngã xuống trên chiến trường. Đôi khi nó cũng cố gắng cất tiếng nói, nhưng chẳng phát ra được âm thanh nào ngoài những tiếng ú ớ rời rạc.
“Vào những ngày trời đẹp, nó cười vang không dứt, và phát ra những tiếng kêu khe khẽ có thể so sánh với tiếng chim hót; khi trời mưa, nó khóc lóc và rên rỉ theo một cách thức thê thảm, đáng sợ, nghe tựa như tiếng chó tru trước lúc có người qua đời trong nhà.
“Nó thích lăn lộn trên thảm cỏ, như những con thú non, và chạy nhảy điên cuồng, rồi nó sẽ vỗ tay mỗi buổi sáng khi ánh mặt trời chiếu vào phòng mình, và dùng các dấu hiệu để đòi được mặc quần áo thật nhanh để có thể chạy ra ngoài.
“Nó dường như không biết phân biệt giữa người với người, giữa mẹ và vú em, giữa cha nó với tôi, hay giữa người đánh xe và người đầu bếp. Tôi đặc biệt quý mến bố mẹ nó, những người vô cùng đau khổ vì nó, và ngày nào tôi cũng ghé thăm họ. Tôi ăn tối cùng họ khá thường xuyên, điều đó giúp tôi nhận ra rằng Bertha (họ đã đặt tên nó là Bertha) dường như nhận biết được các món ăn khác nhau và có phần ưu ái món này hơn món kia. Vào thời điểm đó nó đã mười hai tuổi, nhưng vóc dáng đã nở nang phổng phao chẳng kém gì một thiếu nữ mười tám, và còn cao hơn cả tôi. Khi ấy, một ý tưởng chợt lóe lên trong đầu tôi: hãy phát triển lòng tham ăn của nó, và bằng cách này nuôi dưỡng một chút năng lực phân biệt trong tâm trí nó, buộc nó, thông qua sự đa dạng của các hương vị, nếu không phải là để suy luận, thì ít nhất cũng đi đến những sự phân biệt theo bản năng, tự thân chúng sẽ tạo thành một thứ tiến trình cần thiết cho tư duy. Về sau, bằng cách khơi gợi các dục vọng của nó, và cẩn trọng tận dụng những dục vọng có thể phục vụ cho mục đích của chúng ta, chúng ta có thể hy vọng đạt được một dạng phản ứng nào đó tác động lên trí tuệ của nó, và từng bước gia tăng hoạt động vô thức trong bộ não của nó.
“Một ngày nọ, tôi đặt trước mặt nó hai chiếc đĩa, một đĩa súp và một đĩa kem vani rất ngọt. Tôi bắt nó nếm lần lượt từng món một, rồi để nó tự do lựa chọn, và nó đã ăn sạch đĩa kem. Chẳng mấy chốc tôi đã khiến nó trở nên tham ăn, tham ăn đến mức dường như ý tưởng duy nhất đọng lại trong đầu nó chính là ham muốn ăn uống. Nó phân biệt rất rõ các món ăn khác nhau, vươn tay về phía những món nó thích rồi chộp lấy chúng một cách đầy háo hức, và nó sẽ khóc oà lên khi chúng bị lấy đi. Sau đó tôi nghĩ mình sẽ thử huấn luyện nó đi vào phòng ăn mỗi khi tiếng chuông điểm bữa vang lên. Phải mất một khoảng thời gian rất dài, nhưng cuối cùng tôi đã thành công. Trong cõi trí tuệ trống rỗng của nó, một mối liên hệ mơ hồ đã được thiết lập giữa âm thanh và vị giác, một sự tương ứng giữa hai giác quan, một sự kêu gọi từ giác quan này sang giác quan kia, và do đó hình thành một kiểu liên kết ý tưởng — nếu người ta có thể gọi cái gạch nối bản năng giữa hai chức năng hữu cơ ấy là một ý tưởng — và cứ thế, tôi đẩy mạnh các thí nghiệm của mình hơn nữa, dạy cho nó, với vô vàn khó khăn, cách nhận biết giờ giấc bữa ăn qua chiếc đồng hồ.
“Trong một thời gian dài, tôi bất lực trong việc thu hút sự chú ý của nó vào các cây kim đồng hồ, nhưng cuối cùng tôi đã thành công trong việc khiến nó để tâm đến bộ máy cơ học và cơ chế điểm chuông. Phương pháp tôi dùng rất đơn giản; tôi yêu cầu họ đừng rung chuông gọi bữa trưa nữa, và mọi người tự đứng dậy đi vào phòng ăn khi chiếc búa đồng nhỏ đánh mười hai tiếng, thế nhưng tôi đã gặp vô vàn khó khăn để dạy nó cách đếm số tiếng chuông. Nó lao ra cửa mỗi khi nghe tiếng đồng hồ điểm, nhưng rồi dần dần nó học được rằng không phải tiếng chuông nào cũng có giá trị như nhau đối với chuyện ăn uống, và nó bắt đầu thường xuyên dán mắt vào mặt đồng hồ, được dẫn đường bởi đôi tai của chính mình.
“Khi nhận thấy điều đó, mỗi ngày vào đúng mười hai giờ và sáu giờ, tôi đều cẩn thận đặt những ngón tay của mình lên các con số mười hai và sáu ngay khi khoảnh khắc nó hằng ngóng chờ đã đến, và chẳng mấy chốc tôi nhận ra nó chăm chú dõi theo chuyển động của những chiếc kim đồng hồ bằng đồng nhỏ xíu mà tôi vẫn thường xoay trước mặt nó.
“Nó đã hiểu! Hoặc có lẽ tôi nên nói là nó đã nắm bắt được ý tưởng đó. Tôi đã thành công trong việc cấy ghép kiến thức, hay đúng hơn là cảm giác về thời gian vào bên trong nó, hệt như trường hợp của những con cá chép, dĩ nhiên chúng chẳng có đồng hồ nào cả, nhưng lại được cho ăn đều đặn mỗi ngày vào đúng một thời điểm.
“Một khi đã đạt được kết quả đó, tất cả các loại đồng hồ lớn nhỏ trong nhà gần như chiếm trọn sự chú ý của nó. Nó dành toàn bộ thời gian để ngắm nhìn chúng, lắng nghe tiếng tích tắc của chúng, và chờ đợi giờ ăn, và rồi có một lần một chuyện rất buồn cười đã xảy ra. Bộ phận điểm chuông của một chiếc đồng hồ kiểu Louis XVI xinh xắn treo ở đầu giường nó bỗng nhiên bị hỏng, và nó đã nhận ra điều đó. Nó ngồi suốt hai mươi phút dán mắt vào cây kim đồng hồ, chờ đợi nó điểm mười giờ, thế nhưng khi kim vượt qua con số ấy mà nó chẳng hề nghe thấy gì; nó ngẩn ngơ đến mức ngồi sụp xuống, không nghi ngờ gì nữa, bị nhấn chìm bởi một cảm giác xúc động mãnh liệt tựa như cơn bão táp ập đến trước một thảm họa kinh hoàng nào đó. Thế rồi nó đã kiên nhẫn một cách kỳ diệu chờ cho đến tận mười một giờ để xem chuyện gì sẽ xảy ra, và dĩ nhiên vì chẳng nghe thấy âm thanh nào, nó liền bị đột ngột bủa vây bởi một cơn thịnh nộ điên cuồng vì bị lừa dối và qua mặt bởi vẻ bề ngoài, hoặc bị áp đảo bởi nỗi sợ hãi mà một sinh vật hoảng loạn phải gánh chịu trước một bí ẩn kinh hoàng nào đó, cộng thêm sự thiếu kiên nhẫn phát cuồng của một cá nhân đam mê vấp phải chướng ngại vật; nó chộp lấy cái kẹp củi bên sống lò sưởi và đập vào chiếc đồng hồ dữ dội đến mức đập nát nó ra thành trăm mảnh chỉ trong nháy mắt.
“Do đó, rõ ràng là bộ não của nó thực sự hoạt động và tính toán, dù cho có mơ hồ và trong những giới hạn rất chật hẹp, bởi vì tôi chưa bao giờ thành công trong việc khiến nó phân biệt con người giống như cách nó phân biệt thời gian; và để khuấy động trí tuệ của nó, người ta buộc phải khơi gợi những dục vọng của nó, theo nghĩa đen của từ này, và chẳng mấy chốc chúng tôi lại có thêm một bằng chứng nữa, mà than ôi! lại là một bằng chứng vô cùng khủng khiếp!
“Nó đã lớn lên thành một thiếu nữ lộng lẫy, một mẫu hình hoàn hảo của một chủng tộc, một thứ Nữ thần Tình yêu vừa xinh đẹp vừa đần độn. Nó mười sáu tuổi, và tôi hiếm khi nào chứng kiến một vẻ đẹp hoàn mỹ về hình thể, một sự dẻo dai và những đường nét thanh tú đến thế. Tôi đã nói nó là một Nữ thần Tình yêu cơ mà; vâng, một nàng Venus tóc vàng, đẫy đà, vạm vỡ, với đôi mắt to tròn, sáng ngời nhưng trống rỗng, xanh biếc như những đóa hoa lanh; nó có chiếc miệng rộng với đôi môi dày, cái miệng của một kẻ tham ăn, của một kẻ chìm đắm trong dục lạc, cái miệng sinh ra để dành cho những nụ hôn. Chà, vào một buổi sáng nọ, bố nó bước vào phòng khám của tôi với một vẻ mặt kỳ lạ, rồi ngồi phịch xuống mà chẳng thèm đáp lại lời chào của tôi, ông nói:
“'Tôi muốn nói chuyện với anh về một vấn đề vô cùng nghiêm trọng. Liệu có khả năng nào — liệu có khả năng nào để Bertha kết hôn hay không?'
“'Bertha kết hôn ư! Chà, điều đó hoàn toàn bất khả thi!'
“'Vâng, tôi biết, tôi biết chứ,' ông đáp. 'Nhưng anh hãy ngẫm lại xem. Anh có nghĩ rằng — biết đâu — chúng tôi vẫn hy vọng — giả sử nó sinh con — đó sẽ là một cú sốc lớn đối với nó, nhưng đồng thời cũng là một hạnh phúc lớn lao, và — ai mà biết được liệu bản năng làm mẹ có đánh thức được trí tuệ của nó hay không?'
“Tôi rơi vào trạng thái vô cùng bối rối. Ông ấy nói đúng, và hoàn toàn có khả năng một hoàn cảnh mới mẻ như vậy, cùng với bản năng làm mẹ kỳ diệu đang thổn thức trong lồng ngực của loài vật hạ đẳng cũng hệt như trong trái tim của một người phụ nữ, thứ bản năng khiến con gà mái lao thẳng vào nanh vuốt con chó để bảo vệ bầy con của nó, có thể tạo ra một cuộc cách mạng, một sự biến đổi tận gốc trong tâm trí trống rỗng của nó, và vận hành cỗ máy tư duy đang bất động lâu nay. Và rồi, hơn thế nữa, tôi lập tức nhớ đến một trường hợp của chính mình. Vài năm trước, tôi từng nuôi một con chó sục cái ngốc nghếch đến mức tôi chẳng tài nào huấn luyện nổi nó, thế nhưng khi nó có bầy con, nó bỗng trở nên, nếu không hẳn là thông minh, thì ít nhất cũng gần giống như bao con chó khác chưa từng được huấn luyện thuần thục.
“Ngay khi tôi nhìn thấy trước khả năng này, niềm khao khát muốn gả chồng cho Bertha lớn dần trong tôi, không hẳn vì tình bạn dành cho nó và bố mẹ tội nghiệp của nó, mà phần nhiều là do sự tò mò mang tính khoa học. Chuyện gì sẽ xảy ra đây? Đó là một bài toán vô cùng kỳ lạ. Tôi đáp lại bố nó rằng:
“'Có lẽ anh nói đúng. Anh có thể thử xem sao, nhưng anh sẽ chẳng bao giờ tìm được một người đàn ông nào đồng ý cưới nó đâu.'
“'Tôi tìm được người rồi,' ông nói bằng một giọng trầm thấp.
“Tôi trố mắt ngạc nhiên, rồi thốt lên: 'Thực sự có người phù hợp ư? Một người có địa vị và thứ bậc tương xứng với gia thế của anh á?'
“'Chắc chắn là thế,' ông đáp.
“'Ồ! Tôi có thể xin phép được biết tên người đó không?'
“'Tôi đến đây chính là để nói cho anh biết và để tham khảo ý kiến của anh đây. Đó chính là ngài Gaston du Boys de Lucelles.'
“Tôi suýt thốt lên: 'Đồ khốn nạn!' thế nhưng tôi đã kìm lại được, và sau vài phút im lặng, tôi cất lời:
“'Ồ! Rất tốt. Tôi chẳng thấy có điều gì phải phản đối cả.'
“Người đàn ông tội nghiệp siết chặt tay tôi đầy cảm kích.
“'Chúng nó sẽ kết hôn vào tháng tới,' ông nói.
“Ngài Gaston du Boys de Lucelles là một kẻ ăn chơi trác táng thuộc dòng dõi quý tộc, kẻ sau khi đã nướng sạch toàn bộ gia sản thừa kế từ cha mình và vướng vào những khoản nợ nần qua đủ mọi con đường mập mờ, đang loay hoay tìm kiếm một mưu sinh kế khác để kiếm tiền, và hắn đã tìm ra phương thức này. Hắn là một thanh niên có vẻ ngoài ưa nhìn, sức khỏe dồi dào, nhưng lại đú đởn; một kẻ thuộc giống loài ăn chơi tỉnh lẻ đáng ghét, và trong mắt tôi thì hắn ta cũng thích hợp chẳng kém gì bất kỳ ai khác, và có thể tống khứ hắn đi sau bằng cách chu cấp cho hắn một khoản tiền. Hắn đến nhà để tán tỉnh và uốn éo tạo dáng trước mặt cô nàng đần độn, thế nhưng cô ta lại có vẻ thích hắn. Hắn mang hoa đến tặng, hôn tay nàng, ngồi dưới chân nàng, và nhìn nàng bằng ánh mắt đắm đuối; thế nhưng nàng chẳng mảy may bận tâm đến bất kỳ sự săn đón nào của hắn, và cũng chẳng thèm phân biệt hắn với những kẻ khác quanh mình.
“Tuy nhiên, đám cưới vẫn diễn ra, và bạn có thể đoán được sự tò mò của tôi bị kích thích đến nhường nào. Tôi đến thăm Bertha vào ngày hôm sau để dò xét trên nét mặt nàng xem có thứ tình cảm nào vừa được đánh thức hay không, thế nhưng tôi chỉ tìm thấy một Bertha y nguyên như mọi ngày, hoàn toàn bận tâm đến chiếc đồng hồ và giờ ăn, trong khi trái lại, gã chồng của nàng lại ra vẻ thực sự đang yêu, và cố gắng khơi gợi tinh thần cùng sự gắn bó của vợ bằng những cử chỉ âu yếm nhỏ nhặt cùng những thứ vuốt ve mà người ta thường dành cho một chú mèo con. Hắn chẳng thể nghĩ ra được điều gì hay ho hơn thế.
“Tôi ghé thăm cặp vợ chồng son ấy khá thường xuyên, và chẳng mấy chốc tôi nhận ra người phụ nữ trẻ đã biết mặt chồng mình, và dành cho hắn những ánh mắt đầy háo hức mà trước đó nàng chỉ ban phát cho những món tráng miệng ngọt ngào.
“Nàng dõi theo từng bước đi của hắn, nhận ra tiếng bước chân của hắn trên cầu thang hay trong các căn phòng bên cạnh, vỗ tay mỗi khi hắn bước vào, và gương mặt nàng bỗng thay đổi, bừng sáng lên bởi ngọn lửa của niềm hạnh phúc sâu thẳm cùng nỗi khát khao cháy bỏng.
“Nàng yêu hắn bằng cả thể xác lẫn tâm hồn, đến tận cùng ngóc ngách trong tâm hồn nghèo nàn, yếu đuối của nàng, và bằng tất cả trái tim, cái trái tim tội nghiệp của một loài vật biết ơn. Đó thực sự là một bức tranh vừa đáng yêu vừa ngây thơ về một mối tình thuần khiết, một tình yêu nhục cảm nhưng lại vô cùng kín đáo, thứ tình thế mà tự nhiên đã khắc sâu vào nhân loại, trước khi con người làm cho nó trở nên phức tạp và biến chất bởi đủ mọi sắc thái tình cảm. Thế nhưng chẳng mấy chốc hắn đã cảm thấy chán ngấy sinh vật nồng nhiệt, xinh đẹp và câm lặng này, chẳng chịu dành quá một tiếng đồng hồ mỗi ngày ở bên nàng, tự cho rằng chỉ cần ló mặt về nhà vào ban đêm là đủ, và hậu quả là nàng bắt đầu phải chịu đựng sự cô đơn. Nàng thường ngồi ngóng hắn từ sáng đến tối đăm đăm nhìn vào chiếc đồng hồ; giờ đây nàng thậm chí chẳng thèm bận tâm đến các bữa ăn nữa, bởi vì hắn toàn ăn uống bên ngoài, ở Clermont, Chatel-Guyon, Royat, bất cứ đâu cũng được, miễn là không phải buộc phải quay về nhà.
“Nàng bắt đầu gầy rộc đi; mọi ý nghĩ khác, mọi mong muốn khác, mọi sự chờ đợi khác, và mọi niềm hy vọng mơ hồ đều biến sạch khỏi tâm trí nàng, và những khoảng thời gian không được nhìn thấy hắn đã trở thành những giờ phút đau đớn tột cùng đối với nàng. Chẳng mấy chốc hắn không còn về nhà đều đặn vào ban đêm nữa; hắn dành trọn đêm để hú hí với mấy ả đàn bà tại sòng bạc ở Royat và mãi tận rạng sáng mới lê gót về nhà. Thế nhưng nàng chưa bao giờ chịu lên giường đi ngủ trước khi hắn trở về. Nàng cứ ngồi bất động trên chiếc ghế bành, đôi mắt dán chặt vào những cây kim đồng hồ đang chậm rãi và đều đặn quay vòng trên mặt đĩa sứ vẽ những con số chỉ giờ.
“Nàng nghe thấy tiếng móng ngựa cộp cộp từ đằng xa là giật mình ngồim bật dậy, và khi hắn bước vào phòng, nàng lồm cồm đứng lên với những chuyển động của một cỗ máy tự động rồi chỉ tay về phía chiếc đồng hồ, tựa như muốn nói: 'Nhìn xem đã muộn thế này rồi kìa!'
“Và hắn bắt đầu cảm thấy sợ hãi người phụ nữ nửa tỉnh nửa mê, đầy ái tình và ghen tuông này, rồi nổi giận lôi đình như bản tính của loài cầm thú; và có một đêm hắn thậm chí còn điên cuồng đến mức ra tay đánh nàng, thế là họ phải cấp tốc sai người đi gọi tôi. Khi tôi đến nơi, nàng đang oằn mình quằn quại và gào thét trong một cơn khủng hoảng kinh hoàng của đau đớn, giận dữ, cuồng nồng, quỷ quái nào mà tôi biết được chứ? Làm sao người ta có thể thấu hiểu những gì đang diễn ra trong những bộ não chưa từng phát triển hoàn chỉnh ấy cơ chứ?
“Tôi trấn an nàng bằng những mũi tiêm morphin dưới da, và cấm tiệt nàng không được gặp lại gã đàn ông đó nữa, bởi vì tôi nhìn thấy rõ ràng rằng cuộc hôn nhân này chắc chắn sẽ từ từ giết chết nàng.
“Rồi nàng phát điên! Vâng, thưa người bạn thân mến của tôi, đứa con gái đần độn ấy đã phát điên. Lúc nào nàng cũng nghĩ về hắn và ngóng chờ hắn; nàng chờ đợi hắn suốt cả ngày lẫn đêm, lúc thức cũng như khi ngủ, ngay cả vào giờ phút này đây, không một phút ngơi nghỉ. Khi thấy nàng ngày một gầy gò hốc hác, và vì nàng cứ khăng khăng không chịu rời mắt khỏi những chiếc đồng hồ, tôi đã ra lệnh mang tất cả chúng ra khỏi nhà. Bằng cách đó, tôi tước đi khả năng đếm giờ của nàng, khiến nàng không thể cố gắng hồi tưởng lại, từ những ký ức mập mờ của mình, xem trước đây hắn thường về nhà vào lúc mấy giờ. Tôi hy vọng theo thời gian sẽ xóa sạch được những ký ức ấy và dập tắt đốm lửa tư duy mà tôi từng nhọc công khơi mào biết bao.
“Hôm nọ tôi đã thử một thí nghiệm. Tôi đưa chiếc đồng hồ của mình cho nàng; nàng cầm lấy và ngắm nghía nó một lúc lâu; rồi nàng bỗng cất tiếng gào thét thảm thiết, tựa như hình ảnh của món đồ nhỏ bé ấy đã vô tình đánh thức ký ức đang dần phai mờ của nàng. Giờ đây nàng gầy đến độ thảm thương, với đôi mắt trũng sâu và ánh lên vẻ cuồng dại, và nàng cứ đi qua đi lại không ngừng nghỉ, như một con thú hoang bị nhốt trong lồng; tôi đã cho lắp các thanh sắt chắn ngang cửa sổ, đóng ván che kín một nửa, và bắt chặt những chiếc ghế xuống sàn nhà để ngăn không cho nàng nhìn ngó xem hắn có đang quay về hay không.
“Ồ! Cha mẹ tội nghiệp của nàng! Cuộc đời họ chắc phải cay đắng biết nhường nào!”
Chúng tôi đã lên đến đỉnh đồi, vị bác sĩ quay người lại và bảo tôi:
“Hãy nhìn Riom từ góc độ này xem.”
Thị trấn u ám trông giống như một thành phố cổ đại nào đó. Phía sau nó là một vùng đồng bằng xanh rì rợp bóng cây đan xen những thị trấn và làng mạc, được tắm mình trong một làn sương mờ màu xanh dịu ngọt, trải dài mãi cho đến khi hòa lẫn vào đường chân trời xa tắp. Tít đằng xa, bên phía tay phải của tôi, là một dãy núi sừng sững với những đỉnh tròn, hoặc bị cắt phẳng lì như thể vừa bị chém bởi một nhát kiếm, và vị bác sĩ bắt đầu liệt kê tên các ngôi làng, thị trấn cùng những ngọn đồi, rồi kể cho tôi nghe lịch sử của tất cả bọn chúng. Thế nhưng tôi chẳng thèm lắng nghe ông; tâm trí tôi ngập tràn hình ảnh người đàn bà điên và tôi chỉ nhìn thấy duy nhất một mình nàng. Nàng dường như đang lơ lửng phía trên không gian bát ngát ấy tựa như một bóng ma sầu thảm, và tôi cộc lốc hỏi ông:
“Thế gã chồng hiện giờ ra sao rồi?”
Bạn tôi có vẻ hơi ngạc nhiên, nhưng sau vài phút ngập ngừng, ông đáp:
“Hắn đang sống ở Royat, nhờ vào khoản tiền trợ cấp mà họ chu cấp cho, và đang vô cùng hạnh phúc; hắn sống một cuộc đời vô cùng trác táng.”
Khi chúng tôi thong thả quay trở về, cả hai đều im lặng và chìm trong tâm trạng khá ủ dột, một chiếc xe ngựa hai bánh kiểu Anh, được kéo bởi một con ngựa thuần chủng, bỗng từ phía sau trờ tới và vượt qua chúng tôi một cách nhanh chóng. Vị bác sĩ liền tóm lấy cánh tay tôi.
“Kìa, hắn ta đấy,” ông nói.
Tôi chẳng thấy gì ngoài chiếc mũ phớt xám, nghếch lên lệch một bên tai che khuất đôi vai rộng, đang phóng vụt đi giữa một đám mây bụi mịt mù.