Tuyển Tập Truyện Ngắn Nguyên Bản Hoàn Chỉnh Của Guy De Maupassant

Lượt đọc: 2732 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Guy De Maupassant

❊ ❊ ❊

Một tiểu luận nghiên cứu của Pol. Neveux

“Tôi bước vào văn đàn như một vì sao băng, và tôi sẽ rời bỏ nó tựa một tia chớp.” Câu nói này của Maupassant khi đáp lại Jose Maria de Heredia trong một cuộc gặp gỡ đáng nhớ, dẫu mang chút vẻ trang nghiêm bệnh hoạn, lại phác họa không hề sai lệch về chặng đường sự nghiệp ngắn ngủi của ông. Trong suốt mười năm, với sự uy quyền khi kiên cường lúc sầu muộn cùng ngòi bút dồi dào bậc thầy, nhà văn đã cho ra đời thơ ca, tiểu thuyết, truyện dài lẫn bút ký, để rồi cuối cùng rơi xuống vực sâu của sự điên loạn và cái chết một cách quá sớm. . . . .

Vào tháng 4 năm 1880, tờ “Le Gaulois” đăng tải một bài viết thông báo sự ra đời của tập truyện *Đêm hội Médan*. Bài viết mang chữ ký của một cái tên hãy còn vô danh: Guy de Maupassant. Sau những lời chỉ trích mang hơi hướng bồng bột nhằm vào chủ nghĩa lãng mạn cùng màn tấn công đầy nhiệt huyết nhắm vào dòng văn chương yếm thế, tác giả ca ngợi công cuộc nghiên cứu đời thực và loan báo về sự xuất hiện của tác phẩm mới. Khung cảnh ấy thật nên thơ và kiều diễm. Nơi chốn bình yên của buổi chiều tà, trên một hòn đảo giữa dòng sông Seine, dưới tán những rặng dương thay vì hàng búp tùng Napoli vốn được lòng bằng hữu của Boccaccio, giữa tiếng rì rào bất tận của thung lũng chứ không còn là âm hưởng từ những con suối vùng Pyrenean – nơi từng thì thầm khúc đệm nhạt nhoà cho câu chuyện của các hiệp sĩ nàng Marguerite, bậc thầy cùng các môn đồ luân phiên kể lại những giai thoại ấn tượng hoặc đầy bi thương về chiến tranh. Và việc hợp lực cho ra mắt những câu chuyện ấy trong một tập sách duy nhất, nơi người thầy đứng sóng vai cùng các học trò, đã mang dáng dấp của một bản tuyên ngôn, âm điệu của một lời thách thức, hay tuyên ngôn của một tín điều.

Thế nhưng, thực chất những bước khởi đầu ấy lại giản dị hơn nhiều, và họ chỉ dừng lại ở việc cùng nhau tề tựu dưới những tán cây ở Médan để thống nhất một tựa đề chung cho tác phẩm. Zola đóng góp bản thảo cuốn “Cuộc tấn công chiếc cối xay”, và chính tại nhà của Maupassant, năm chàng trai trẻ đã trao gửi những sáng tác của mình. Lần lượt từng người đọc tác phẩm của họ, và Maupassant là người cuối cùng. Khi anh đọc xong *Cô gái cục bông* (Boule de Suif), trong một niềm xúc động tự phát chưa từng phai mờ, dạt dào lòng ngưỡng mộ trước một kiệt tác vừa hé lộ, tất cả đồng loạt đứng dậy và không cần dùng đến những lời hoa mỹ thừa thãi, họ tung hô anh như một bậc thầy.

Anh nhận trách nhiệm viết bài báo cho tờ Gaulois và, cùng sự cộng tác của các bạn mình, anh đã chấp bút bằng những câu từ mà chúng ta đều quen thuộc, vừa phóng tác vừa tô điểm thêm, chiều chuộng theo cái bản năng trêu chọc bẩm sinh vốn được tuổi trẻ của anh châm chước. Điểm cốt lõi, theo anh, là phải “nhổ neo” nền phê bình.

Và nó đã được nhổ neo thật. Ngay hôm sau, Wolff cho đăng một bài biện luận đanh thép trên tờ Figaro và lôi cuốn cả các đồng nghiệp theo mình. Nhờ có *Cô gái cục bông*, tập sách đã gặt hái thành công vang dội. Bất chấp sự đổi mới và nỗ lực đầy thiện chí từ tất cả mọi người, chẳng ai đoái hoài gì đến những câu chuyện khác. Bị đẩy xuống hàng thứ yếu, chúng trôi qua trong sự lặng lẽ hoàn toàn. Ngay từ trận chiến đầu tiên trên văn đàn, Maupassant đã làm chủ chiến trường.

Lập tức, toàn bộ giới báo chí xúm vào bàn luận và đưa ra những lời lẽ xứng tầm với một tên tuổi đang chớm nở. Các nhà biên khảo lẫn phóng viên tìm kiếm thông tin về cuộc đời anh. Vì cuộc sống ấy vốn vô cùng giản dị và thẳng thắn, họ bèn tự bịa ra. Và cứ thế, ngày nay Maupassant hiện lên trước mắt chúng ta tựa như những vị anh hùng thuở cổ đại mà nguồn gốc lẫn cái chết đều được phủ một màn sương huyền bí.

Tôi sẽ không đi sâu vào những năm tháng tuổi trẻ của Guy de Maupassant. Những người thân, các bạn cũ, và chính bản thân anh rải rác qua các tác phẩm, đã cung cấp cho chúng ta đủ những tiết lộ quý giá cùng ký ức cảm động về quãng thời gian trước khi anh chạm ngõ văn chương. Nhà tiểu sử tận tụy H. Edouard Maynial, sau khi thu thập một cách thông minh toàn bộ các trước tác, cô đọng và đối chiếu chúng, đã có thể cống hiến cho chúng ta một số thông tin xác thực về thời kỳ đầu ấy.

Tôi chỉ xin nhắc lại rằng anh sinh ngày 5 tháng 8 năm 1850, gần Dieppe, tại lâu đài Miromesnil – nơi từng được anh mô tả trong *Một cuộc đời* (Une Vie). . . .

Maupassant, giống như Flaubert, là người xứ Normandie qua dòng họ bên ngoại, và chính nơi chốn chào đời đã gắn kết anh với giống người kỳ lạ và ưa mạo hiểm ấy – những kẻ mà anh vẫn thích nhắc lại các chuyến hải hành anh dũng và trường kỳ trên những con tàu buôn lênh đênh. Và hệt như tác giả cuốn *Giáo dục tình cảm* dường như đã thừa hưởng từ dòng dõi bên nội sự thực tế sắc sảo của xứ Champagne, de Maupassant xem ra cũng thừa hưởng từ tổ tiên xứ Lorraine kỷ luật thép không thể lay chuyển cùng một cái đầu lạnh lùng, minh triết.

Thời thơ ấu của anh trôi qua ở Etretat, một tuổi đẹp tươi đẹp biết bao; chính nơi đó, bản năng trong anh đã bừng tỉnh giữa hành trình khai mở của tâm hồn nguyên thủy. Những năm tháng trôi đi trong cơn ngây ngất của hạnh phúc thể xác. Niềm vui sướng khi được chạy hết tốc lực qua những cánh đồng thạch nam, vẻ quyến rũ của những chuyến thám hiểm trong các hũng sâu và khe vực, những trò chơi dưới hàng rào cây tối thắm, niềm đam mê ra khơi cùng ngư dân và, vào những đêm không trăng, thả hồn mơ mộng trên thuyền của họ về những chuyến hải hành tưởng tượng.

Bà de Maupassant – người từng dìu dắt con trai trong những trang sách vỡ lòng và cùng con chiêm ngưỡng cảnh tượng thiên nhiên siêu việt – đã tìm cách trì hoãn thời khắc chia ly càng lâu càng tốt. Thế nhưng, rồi cũng đến ngày bà phải đưa đứa trẻ vào chủng viện nhỏ ở Yvetot. Về sau, anh trở thành học sinh tại trường cao đẳng Rouen và là cộng tác viên văn chương của Louis Bouilhet. Chính tại nhà của người thầy nọ, giữa những Chủ nhật mùa đông khi tiếng mưa xứ Normandie nhấn chìm âm thanh chuông giáo đường và quất vào ô cửa kính, cậu học sinh đã học cách làm thơ.

Kỳ nghỉ đưa chàng trai chuyên văn trở lại miền bắc xứ Normandie. Giờ đây là những buổi đi săn ở Saint Julien l'Hospitalier, băng qua các cánh đồng, đầm lầy và xuyên qua những khu rừng. Kể từ khoảnh khắc đó, anh chính thức ký kết khế ước với đất mẹ, và những “rễ sâu cành mỏng” gắn chặt anh với mảnh đất chôn nhau cắt rốn bắt đầu đâm chồi. Chính xứ Normandie rộng lớn, tươi mới và đầy nam tính ấy sẽ là nguồn cảm hứng mà anh luôn tìm kiếm, nồng nàn và tha thiết hệt như tình yêu thuở thiếu thời; chính nơi lòng mẹ thiên nhiên ấy anh sẽ tìm về nương náu mỗi khi mỏi mệt với cuộc đời, khẩn cầu một khoảng lặng bình yên, hay đơn giản là khi muốn làm việc và khơi lại nguồn năng lượng qua những niềm vui cũ kỹ. Cũng vào thời điểm này, tình yêu nhục cảm dành cho biển cả đã hoài thai trong tâm hồn anh – thứ tình năng về sau là điểm tựa duy nhất có thể đưa anh rời khỏi thế giới bận rộn, mang lại cho anh sự bình tĩnh và nỗi niềm xoa dịu.

Năm 1870, anh sống ở vùng quê rồi chuyển lên Paris sinh sống; bởi khi tài sản gia đình suy sụp, anh buộc phải tìm một công việc. Trong vài năm, anh làm nhân viên văn phòng tại Bộ Hải quân, nơi anh cặm cụi lật giở những chồng giấy tờ mục nát giữa bầu không khí tẻ nhạt bên các đồng nghiệp ở sở hải vụ.

Sau đó, anh chuyển sang bộ phận Giáo dục Công cộng, nơi sự khép nép quan liêu đỡ phần khó chịu hơn đôi chút. Công việc hằng ngày quả thật chẳng nặng nhọc hơn là bao và anh có những vị sếp hay đồng nghiệp như Xavier Charmes, Leon Dierx, Henry Roujon cùng Rene Billotte, nhưng căn phòng làm việc của anh lại hướng ra một khu vườn u buồn tuyệt đẹp với những tán cây phong khổng lồ – nơi từng bầy quạ đen quây quần tụ hội quanh các vòng tròn tối tăm mỗi độ đông về.

Maupassant chia thời gian rảnh rỗi thành hai phần: một cho việc chèo thuyền, phần kia dành cho văn chương. Mỗi buổi chiều xuân, hay bất cứ ngày nghỉ nào, anh đều chạy ào ra dòng sông mà dòng chảy huyền bí – lúc ẩn hiện trong sương mù, khi lấp lánh dưới ánh mặt trời – vẫn luôn gọi mời và bỏ bùa mê hoặc anh. Giữa những hòn đảo trên sông Seine từ Chatou đến Port-Marly, dọc theo bờ Sartrouville và Triel, anh từng nổi danh một thời trong cộng đồng dân chèo thuyền nay đã mai một, nổi tiếng bởi bắp tay không biết mệt mỏi, sự tiếu lâm bựa đời đầy thân thiện, những trò chơi khăm bất tận và khiếu hài hước suồng sã. Có lúc anh chèo thuyền với tốc độ cuồng phong, tự do và hân hoan dưới ánh nắng rực rỡ trên mặt nước; có lúc anh thong thả dọc theo bờ sông, gặng hỏi cácỷ thủy thủ, tán gẫu với những kẻ mót rác trên sông, hoặc nằm dài giữa đám hoa diên vĩ và cúc tansy suốt hàng giờ liền để ngắm nhìn những côn trùng mỏng manh dạo chơi trên mặt nước, những con nhện nước hay bướm trắng, chuồn chuồn rượt đuổi nhau giữa những tán lá liễu, hay những chú ếch đang ngủ vùi trên lá súng.

Phần đời còn lại của anh bị chiếm trọn bởi công việc sáng tác. Chưa từng nản lòng, lặng lẽ và bền bỉ, anh tích lũy dần các bản thảo, thơ ca, bài phê bình, kịch bản, truyện dài lẫn tiểu thuyết. Mỗi tuần, anh đều đặn vâng lời nộp các sáng tác của mình cho đại văn hào Flaubert – người bạn thuở nhỏ của mẹ anh và người bác Alfred Le Poittevin. Bậc thầy đã đồng ý dìu dắt chàng trai trẻ, vén màn những bí mật làm nên sự bất tử của các kiệt tác. Chính ông là người buộc anh phải nghiên cứu thật công phu, sử dụng phương pháp quan sát trực tiếp, đồng thời khắc sâu vào tâm trí anh sự kinh tởm tính tầm thường và thái độ khinh miệt sự dễ dãi.

Chính Maupassant đã kể lại cho chúng ta nghe về những buổi nhập môn khắc nghiệt ấy tại phố Murillo hoặc trong lều vải ở Croisset; ông từng gợi lại phương pháp sư phạm bất dung thứ của người thầy cũ, sự thô bạo đầy ân cần cùng những lời khuyên nhủ mang tình cha con phát xuất từ một trái tim hào hiệp và chân thành. Suốt bảy năm trời, Flaubert đã phanh phui và nghiền nát những nỗ lực hãy còn vụng về của người học trò mà thành công vẫn là một ẩn số.

Đột nhiên, trong một khoảnh khắc thăng hoa đầy tự phát, anh viết nên *Cô gái cục bông*. Niềm hạnh phúc của người thầy lớn lao và ngập tràn biết bao. Ông qua đời hai tháng sau đó.

Cho đến tận cuối đời, Maupassant vẫn chìm đắm trong ánh hào quang phản chiếu từ người khổng lồ nhân hậu đã khuất, thứ ánh sáng rực rỡ cảm động tỏa ra từ cõi chết hướng về những tâm hồn từng chịu đựng sự chấn động sâu sắc bởi họ. Tôn thờ Flaubert là một thứ tín ngưỡng mà không gì có thể lay chuyển nổi anh, dẫu là công việc, danh vọng, những con sóng triều chậm rãi hay những đêm trăng dịu ngọt.

Vào cuối cuộc đời ngắn ngủi, khi tâm trí hãy còn minh mẫn, anh viết thư cho một người bạn: “Tôi vẫn luôn nghĩ về người thầy Flaubert tội nghiệp của mình, và tự nhủ rằng tôi sẵn sàng chết nếu chắc chắn có ai đó nhớ đến tôi theo cách tương tự như thế.”

Trong suốt những năm dài tập sự ấy, Maupassant đã bước chân vào các vòng tròn văn hóa thượng lưu. Anh thường ngồi lặng thinh, đầy tâm tư; và nếu có ai lấy làm lạ trước sự im lặng ấy mà gặng hỏi về dự định của anh, anh chỉ điềm tĩnh đáp: “Tôi đang học nghề.” Tuy nhiên, dưới bút danh Guy de Valmont, anh đã gửi một số bài báo cho các tờ nhật báo, và về sau, với sự chuẩn thuận cùng lời khuyên từ Flaubert, anh cho đăng trên tờ “Republique des Lettres” những ván thơ mang chính tên thật của mình.

Những vần thơ ngập tràn nhục cảm ấy – nơi bài ca tụng Đất mẹ miêu tả ngất ngây của sự giao hợp thể xác, nơi nỗi khát khao yêu đương bộc lộ qua những tiếng kêu gào não nề vang dội hệt như tiếng gọi của muôn thú trong những đêm xuân – có giá trị chủ yếu ở chỗ chúng phơi bày bản ngã nguyên thủy, chú hươu non xổng chuồng từ những khu rừng bản địa mà Maupassant từng mang trong tuổi trẻ. Dù vậy, chúng chẳng hề bồi đắp thêm chút nào cho thanh danh của anh. Đó chỉ là “những vần thơ của một nhà văn viết văn xuôi”, như nhận định của Jules Lemaitre. Nhào nặn cách diễn đạt tư tưởng theo những khuôn luật ngặt nghèo nhất, và thu hẹp nó lại ở một chừng mực nào đó, chính là mục tiêu của anh.

Noi gương một trong những người bạn ở Médan, vốn dễ bị cuốn hút bởi sự chuẩn xác trong văn phong cùng nhịp điệu câu chữ, bởi luật lệ độc đoán của thể thơ ballad, pantoum hay chant royal, Maupassant cũng từng khao khát viết những dòng thơ có nhịp điệu. Dù vậy, anh chưa bao giờ thực sự yêu mến tập thơ này và thường hối hận vì đã cho xuất bản nó. Những cuộc dạo chơi nơi thi pháp đã để lại cho anh sự mệt mỏi đơn điệu hệt như cảm giác của một kỵ sĩ hay kiếm thủ sau chuỗi giờ đồng hồ trong trường huấn luyện hoặc một hiệp đọ kiếm.

Đó là bức tranh khái quát về chặng đường tập sự văn chương của Maupassant.

Ngay ngày hôm sau khi *Cô gái cục bông* ra mắt, danh tiếng của anh bắt đầu thăng hoa chóng mặt. Phẩm chất nghệ thuật trong truyện của anh là thứ không ai bì kịp, nhưng đồng thời cũng phải thừa nhận rằng có những kẻ, vì mục đích tranh luận, muốn dựng lên một tên tuổi trẻ tuổi để đối trọng với sức mạnh tàn bạo đang chiến thắng của Zola.

Kể từ dạo ấy, theo lời thỉnh cầu của toàn thể giới báo chí, Maupassant miệt mài cầm bút viết hết truyện này đến truyện khác. Tài năng của anh, vượt thoát khỏi mọi ảnh hưởng, cùng cá tính độc đáo là điều chưa từng bị hoài nghi dù chỉ một khoảnh khắc. Với những bước chân nhanh nhẹn, vững vàng và hoạt bát, anh tiến thẳng đến đỉnh cao danh vọng – một thứ danh vọng mà chính bản thân anh chẳng hề mảy may nhận thức, nhưng lại phổ quát đến mức chưa từng có tác giả đương thời nào trong suốt cuộc đời mình đạt được điều tương tự. “Vì sao băng” tỏa ánh hào quang và những tia sáng của nó kéo dài vô tận qua từng bài báo, từng tập sách xuất bản.

Giờ đây anh đã giàu sang và nổi tiếng . . . . Anh càng được kính trọng hơn bởi người ta tin rằng anh giàu có và hạnh phúc. Nhưng họ nào đâu biết rằng chàng trai trẻ với gương mặt rám nắng, chiếc cổ dày cùng những thớ cơ cuồn cuộn – người mà họ luôn so sánh với một chú bò tót non tung tăng tự do, kẻ mà những mối tình vụ trộm của hắn được xì xào bàn tán – đang lâm bệnh, một cơn bệnh nặng. Ngay đúng thời điểm thành công gõ cửa, căn bệnh chưa từng rời bỏ anh sau đó cũng kéo đến, lặng lẽ ngồi bất động bên cạnh và giương đôi mắt nhìn anh đầy vẻ đe dọa. Anh chịu đựng những trận đau đầu khủng hoảng, tiếp nối là những đêm dài mất ngủ. Anh trải qua những cơn suy nhược thần kinh, thứ mà anh phải xoa dịu bằng thuốc an gây mê và thuốc phiện – những thứ anh lạm dụng không chút ngần ngại. Thị lực của anh, vốn từng dở chứng từng đợt, nay thực sự bị tổn thương, và một bác sĩ nhãn khoa nổi tiếng đã đề cập đến sự bất thường, sự mất cân đối của đồng tử. Chàng trai nổi tiếng ấy run rẩy trong bóng tối và bị ám ảnh bởi đủ mọi nỗi kinh hoàng.

Độc giả say mê sự lành mạnh của dòng nghệ thuật được phục hưng này, thế nhưng đâu đó, họ vẫn không khỏi ngạc nhiên khi phát hiện ra, giữa lòng những bức tranh thiên nhiên ngập tràn hơi thở nhân văn, những chuyến bay đầy bất an hướng về cõi siêu nhiên, những lời nguyền rủa thống khổ thoạt đầu được che đậy kỹ càng – đó là những cơn rùng mình vì sợ hãi thông thường nhất, chóng mặt nhất, cổ xưa như thế giới và vĩnh hằng như cõi vô định. Song, thay vì hoảng sợ, họ lại nghĩ rằng tác giả hẳn phải được phú cho trực giác không thể sai lầm để thấu suốt những vết nhơ trong tâm hồn nhân vật, thậm chí qua cả những mê cung nguy hiểm nhất của họ. Độc giả nào có hay biết rằng những ảo giác mà anh mô tả tỉ mỉ ấy chính là điều mà bản thân Maupassant từng trải qua; họ chẳng hề hay biết rằng nỗi sợ ấy ngự trị ngay trong lòng anh, thứ bóp nghẹt của nỗi sợ “không bắt nguồn từ sự hiện diện của hiểm nguy hay cái chết cận kề, mà từ một số điều kiện bất thường, từ những ảnh hưởng huyền bí nào đó khi đối mặt với những mối nguy mơ hồ”, chính là “nỗi sợ hãi sự sợ hãi, cơn kinh hoàng trước cảm giác hãi hùng không tài nào hiểu thấu.”

Làm sao có thể lý giải những đớn đau thể xác cùng nỗi thống khổ bệnh hoạn này – những thứ mà thoạt đầu chỉ có những người thân cận nhất mới thấu tỏ? Hỡi ôi! Lời giải thích ấy lại quá đỗi đơn giản. Suốt cả cuộc đời, dù ý thức hay vô thức, Maupassant vẫn luôn chiến đấu chống lại căn bệnh tiềm ẩn và gặm nhấm trong cơ thể mình.

Khi căn bệnh dần mang hình hài rõ rệt hơn, anh hướng bước chân về miền nam, chỉ ghé lại Paris để thăm bác sĩ và nhà xuất bản. Tại cảng cổ Antibes vượt qua kè chắn sóng Cannes, chiếc du thuyền Bel Ami của anh – người bạn đồng hành mà anh trân quý như ruột thịt – đang thả neo chờ đợi. Anh lái nó lướt đến những thành phố trắng của vịnh Genoa, hướng về những rặng dừa ở Hyeres hay những tán lá đỏ thắm ở Antheor.

Sau những tuần lễ bi kịch mà bằng bản năng, anh đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, vào ngày 1 tháng 1 năm 1892, anh cảm thấy mình đã hoàn toàn gục ngã không lối thoát, và trong một khoảnh khắc minh mẫn tột độ của trí tuệ, giống như Gerard de Nerval, anh đã tìm đến cái chết. Kém may mắn hơn tác giả cuốn *Sylvia*, anh đã tự sát bất thành. Thế nhưng tâm trí anh từ nay “vô cảm trước mọi nỗi bất hạnh”, đã chìm sâu vào cõi vĩnh hằng tăm tối.

Anh được đưa trở lại Paris và đặt vào nhà điều dưỡng của bác sĩ Meuriot, nơi sau mười tám tháng tồn tại như một cỗ máy vô tri, “vì sao băng” đã lặng lẽ lụi tàn.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.