Thằng bé ấy rất ít nói—chính là đứa từng chỉ cho chúng tôi hai ngôi nhà nhỏ trên bờ hồ vào buổi chiều người cha ngầm bệnh. Trông em có vẻ là một người chẳng có chút cảm xúc nào. Tôi thường nhớ lại chiều hôm đó, em chẳng biết gì mấy về chuyện của những người thuê nhà sắp tới; và cách Penelope đã giải cứu tôi khỏi sự im lặng của em.... Chúng tôi gặp em luôn, vào những buổi chiều suốt mùa hè đầu tiên ấy, em thường cùng một đứa trẻ khác ra hồ tắm, nhưng hai bên chẳng hề thân thiết hơn chút nào. Thỉnh thoảng, khi tôi cưỡi ngựa vào thị trấn lấy thư vào lúc chiều tà, tôi lại thấy em đứng nhìn mình từ lối đi hoặc hiên nhà; và tôi tin rằng, cảm giác ánh nhìn ấy có gì đó khác thường thực sự đã để lại trong tôi một ấn tượng mơ hồ. Mọi chuyện cứ diễn ra từ tốn theo một nhịp điệu tự nhiên nào đó. Tôi vẫn nhớ lời chào "xin chào" của em, vừa vui vẻ lại vừa điềm tĩnh, mỗi khi tôi cưỡi ngựa ngang qua. Em luôn lặng lẽ như một con mòng biển, và trông thật hòa hợp với chập choạng hoàng hôn.... Đến một hôm, cha em bảo với tôi rằng:
"Tôi phải mua tất cả những gì anh viết cho nó đấy."
"Ồ, thế à," tôi đáp.
Tôi chưa từng nghĩ đến việc tìm kiếm độc giả ở thị trấn nhỏ bé này, hơn nữa The Abbot lúc đó mới chỉ mười bốn tuổi. (Mãi về sau, một trong những đứa lớn hơn mới đặt biệt danh cho em là The Abbot, bởi trông em có vẻ như vừa bước ra từ một chốn tu viện.) ... Cuối cùng, tôi nghe nói em có hứng thú với các vì sao và sở hữu một chiếc kính viễn vọng. Một ngày nọ, tôi gọi em đến Phòng Nghiên cứu, và chúng tôi cùng đàm đạo chuyện tinh tú. Em đã đọc tất cả những gì tôi từng đọc và thậm chí còn hơn thế. Hình như hồi bảy hay tám tuổi, trong tờ báo Chủ nhật của trường Giáo lý có đăng một mẩu tin thiên văn nào đó đã đánh thức tâm hồn em. Em đã nhờ người đọc đi đọc lại mẩu tin đó nhiều lần, nhưng rồi khả năng tự đọc sách của em đã bứt phá một cách phi thường lúc nào không hay, giống như bất kỳ môn học nào khi có niềm đam mê mãnh liệt thúc đẩy. Chẳng mấy chốc, em đã tự mình lùng sục tìm đọc những cuốn sách về các vì sao. Em đề nghị được mang kính viễn vọng đến Phòng Nghiên cứu, và đêm hôm đó, lần đầu tiên tôi được ngắm nhìn vẻ cô độc khôn tả của sao Thổ. Cảm giác ấy giống như có một bàn tay từ trường đặt lên ngực tôi. Tôi chết lặng không nói nên lời. Sau đó, cứ mỗi lần nhắm mắt lại là tôi lại thấy viên ngọc vàng rực rỡ ấy ở tận cõi xa xăm trong màn đêm. Chúng tôi trò chuyện.... Rồi chẳng bao lâu sau, tôi nghe tin em chán ghét trường học, nhưng điều này không phải do chính em nói ra. Thực tế là, tôi rất ít khi nghe được gì từ miệng em.
Thế hệ tiếp nối sau chúng tôi đây—ít ra là những đứa trẻ mà tôi từng gặp gỡ và yêu mến—không phải là những kẻ thích hoa ngôn xảo ngữ. Chúng để tự bạn khám phá ra mọi điều. Chúng có vẻ biết cách chờ đợi. Thật vô cùng thuyết phục khi thấy những sự kiện từ từ làm sáng tỏ một sự thật mà trước đó bạn đã hiểu lầm; khi thấy những hoài nghi của bạn được gạt sang một bên, không phải bằng lời nói hay sự lưu loát bề ngoài, mà theo thời gian, được giải đáp một cách thong thả bởi những cột mốc của thực tế vững chắc. Em không bao giờ bước chân đến Phòng Nghiên cứu trừ khi được gọi. Thỉnh thoảng, cô bé nhỏ nhắn lại mang tin nhắn từ em đến, hoặc mẹ của cô bé, hoặc cha của cậu bé—một người đàn ông rất đáng kính. Tôi lại nghe ngóng được rằng ở trường học em học không tốt lắm. Tôi thừa biết em là một đứa trẻ đặc biệt, rất đặc biệt, bởi tôi từng tiếp xúc với một tâm hồn đích thực qua chuyện tinh tú. Tôi thừa biết rắc rối nằm ở chỗ nhà trường bắt em phải cúi đầu nhìn xuống đất, trong khi điều em muốn là ngẩng đầu nhìn lên trời. Một hôm, bố mẹ em sang ăn tối, tôi liền nói:
"Anh chị tốt hơn hết hãy để thằng bé đến chỗ tôi mỗi ngày."
Đó chỉ là một phút bộc phát ngẫu hứng. Đến tận bây giờ tôi cũng không hiểu tại sao mình lại thốt ra câu ấy, bởi vào lúc đó tôi còn chẳng dám chắc liệu mình có đang dẫn dắt việc học hành của cô bé nhỏ kia theo phương pháp tốt nhất hay không. Hơn nữa, ngay cả khi ấy tôi cũng thấy thời gian của bản thân đã quá tải rồi. Cả bố lẫn mẹ em đều không mấy mặn mà hưởng ứng, và trong nhiều ngày liền tôi không còn nghe nhắc gì đến chuyện đó nữa. Khi tình cờ gặp lại The Abbot, tôi hỏi em dạo này việc học hành thế nào.
"Tệ lắm ạ. Cháu chẳng làm được gì cả. Cháu ghét nó."
"Bố em nghĩ là chú không nói thật lòng sao—về việc em đến chỗ chú một thời gian ấy?"
"Cháu nghĩ bố không hẳn tin là chú nói thật đâu. Với lại bố cũng không biết việc đó sẽ tốn kém thế nào."
Tôi bảo em chẳng tốn kém gì sảng cả. Lại có dịp để tôi nói chuyện với bố em một lần nữa, nhưng rồi đâu lại vào đấy, và nhiều tuần sau đó The Abbot vẫn tiếp tục chịu đựng cảnh khổ sở. Cuối cùng thì bố và chú của em cũng đến Phòng Nghiên cứu. Trông họ có vẻ rất khó khăn để mở lời về chủ đề này. Tôi đành phải khơi mầu trước sau cả tiếng đồng hồ trò chuyện quanh co về những chuyện gần gũi, thú vị hơn như thời tiết và đồng áng.
"Tôi muốn thử dạy thằng bé," tôi nói. "Nó có thể đến đây một tiếng sau bữa trưa mỗi ngày. Nó rất khác biệt. Ở trường đông học sinh quá nên họ không thể khơi gợi được tiềm năng của nó đâu."
"Nó là một kẻ mộng mơ," họ nói, nghe như thể đang thú nhận một lời nguyền rủa.
Hóa ra trong dòng họ này từng có một kẻ mộng mơ như thế, một người uyên bác nhưng rồi ruộng đất và sản nghiệp đã lần lượt tuột khỏi tay từ thủa nào.
"Đó là lý do tại sao tôi muốn giữ nó," tôi đáp.
"Nhưng vấn đề là, chúng tôi không muốn nó trở thành một kẻ vô tích sự—một kẻ——"
"Tôi hiểu, anh không muốn một kẻ bất tài vô dụng. Anh muốn một vài giấc mơ trở thành hiện thực—dù cho đó chỉ là những giấc mơ nhỏ nhoi——"
"Vâng."
Tôi vốn có đánh giá riêng của mình về một đứa trẻ có thể tự mình vẽ bản đồ các chòm sao, mà trong suốt bao nhiêu năm chẳng hề gặp được ai đủ quan tâm đến các vì sao để mà theo đuổi những bước đi của em; nhưng ngẫm lại, người ta không nên nói quá nhiều về một đứa trẻ trước mặt họ hàng của nó. Thêm vào đó, tôi cũng phải nhớ rằng thị trấn bên hồ này chỉ giao thiệp với tôi trên nền tảng thương mại. Họ nào biết thứ quỷ quái nào đang ngự trị trong tâm hồn tôi, và những kẻ đang lục lọi sách của tôi để tìm hiểu căn nguyên phần lớn chỉ càng thêm hoài nghi mà thôi. Đặc biệt là, tôi đã khiến những người đàn ông này phải bối rối khi không hề đòi hỏi bất kỳ khoản tiền nong nào.
Thế nhưng, mọi chuyện cuối cùng cũng thành hình.
Ý định ban đầu của tôi là dạy riêng em—cô bé nhỏ cùng đến với tôi vào buổi sáng, còn cậu bé đến vào buổi chiều, trong khoảng thời gian mà trước đây tôi thường dùng để đọc sách và chợp mắt. Những ngày đầu tiên quả thực khó khăn cho cả hai chúng tôi. Tôi ngồi xuống chiếc ghế bành lớn trước lò sưởi và trò chuyện với em, nhưng chẳng thu lại chút phản hồi nào. Em cứ trân trân nhìn vào những hòn đá rồi lại thẩn thờ nhìn ra cửa sổ, đôi lúc ánh mắt đờ đẫn, cơ thể đôi lúc căng cứng. Ban đầu, dường như tôi cứ đòi hỏi phải có một sự công nhận nào đó rằng tôi đang nói chuyện—nhưng chẳng có gì xuất hiện, không một cái gật đầu tán đồng, không một ánh mắt ngơ ngác hay phủ nhận.... Người ta kể rằng khi em đi ngang qua ngôi nhà xa hơn dọc theo bờ hồ sau buổi học ở Phòng Nghiên cứu, đầu em luôn cúi gằm và dáng đi nặng nề như một ông cụ tuổi cao sức yếu.
Tôi lại kiên trì bắt đầu lại vào mỗi ngày—chỉ sợ rằng mình vẫn chưa chạm đến được tâm hồn em. Tôi kể cho em nghe những điều từng giúp tôi vượt qua quãng thời gian đen tối hồi đầu đời, và cả những bài học tôi nghiệm ra sau này—giá mà ngày trước mình biết sớm hơn thì đã đỡ vất vả biết bao. Tôi thử đủ mọi hướng tiếp cận, thường xuyên quay lại chủ đề các vì sao, nhưng vẫn chẳng thu được kết quả nào nhãn tiền. Vào thời điểm này, em vẫn viết những đoạn văn ngắn cho tôi, và mặc dù tôi nhận ra trong các bài viết ấy có điều gì đó vượt xa những gì em thể hiện khi ngồi đối diện với tôi ở Phòng Nghiên cứu, nhưng văn phong của em vẫn vô cùng tối nghĩa và nặng nề—giống như kẻ đang gảy một thứ nhạc cụ mà hắn chẳng hiểu gì; quả thực, nó giống như lời của một kẻ đang nói mớ trong giấc ngủ. Cuối một buổi trò chuyện trong tuần đầu tiên, khi đã cạn kiệt mọi sáng kiến không biết mình đang đạt được cái quái gì, tôi bèn bảo:
"Hãy viết lại cho chú những gì em còn nhớ về những điều chú đã nói ngày hôm nay đi."
Tôi đã đề cập đến chuyện này trước đó. Kết quả khiến tôi sốc nặng—bài viết trả lại y hệt như một chiếc máy hát tự động, nhưng các tư tưởng lại được gói gọn một cách chắc chắn trong sự thấu hiểu của chính em. Có lần tôi từng lắng nghe một loạt bài phát biểu chào mừng của các quan chức triều đình Hoàng gia Nhật Bản gửi tới một nhóm người nước ngoài ở Tokyo. Người phiên dịch lắng nghe suốt mấy phút rồi trong khoảng lặng của diễn giả liền chuyển đoạn văn đó sang tiếng Anh cho chúng tôi nghe, hoàn toàn không mang theo sắc thái cá nhân nào, không làm thay đổi dù chỉ một cử chỉ hay ngữ điệu của người phát ra tư tưởng và sự hùng biện ấy. Một cảm giác tương tự lại dội về trong tôi từ bài viết của cậu bé. Vài ngày sau, tôi thử lại bài tập ấy một lần nữa—chỉ để cho chắc chắn. Và kết quả vẫn y nguyên như vậy.
Từ đó trở đi tôi không còn làm thế nữa, bởi tôi không muốn khuyến khích trí nhớ cơ học—một năng lực mang tính tạm bợ và vô hồn, hiện đang bị lạm dụng thái quá trong mọi triết lý giáo dục đương thời. Bạn không thể nâng đỡ hay giúp ích cho người khác nếu hai tay bạn đang cầm đầy những món đồ của riêng mình. Khi được yêu cầu làm điều gì đó bằng đôi tay để giúp người khác, người ta phải buông bỏ những vật dụng của mình xuống. Chỉ khi tay không vướng bận, người ta mới có thể thành công. Tâm trí cũng vậy. Các giác quan của bạn sẽ không thể rộng mở để đón nhận những mặc khải từ cội nguồn đích thực của mọi giá trị, nếu bộ não của bạn đang bấu víu bằng toàn lực vào những thứ mà ý chí đòi hỏi phải ghi nhớ. Trí nhớ chỉ là thứ thuộc về thời gian; nếu không phải vậy, chúng ta đã có thể thấu suốt những tầng sâu thẳm của cội nguồn vĩ đại mà từ đó chúng ta sinh ra. Chẳng có con người nào đạt được giá trị biểu đạt đích thực khi họ chỉ đang sử dụng những năng lực mang tính thời gian của mình. Thời gian sẽ tàn phá những sản phẩm do các năng lực ấy tạo ra, y hệt như cách nó tàn phá chính thể xác và công cụ đã tạo ra chúng.
Tuy nhiên, tôi nhận ra mình đang nhận được một sự chú ý gần như siêu phàm từ cậu thiếu niên ngay cả một cái gật đầu tán đồng cũng chẳng thèm ban phát. Tôi bắt đầu kể cho em nghe đôi điều về mặt kỹ thuật của việc viết lách để người khác đọc. Và ngay lập tức tôi vấp phải sự kháng cự. Cho đến khi tôi kiên quyết ép buộc một chút, những lỗi lầm cũ vẫn cứ lặp đi lặp lại. Đáng lẽ điều này phải cho tôi thấy sớm hơn rằng bản chất của cậu bé vốn chán ghét việc đấu tranh với những sự kiện thực tế—rằng em có thể nắm bắt một khái niệm bay bổng trên cao dễ dàng hơn nhiều so với việc dò dẫm từng bước dưới mặt đất; rằng em thích ngắm nhìn đường bay của một chú chim hơn là cúi xuống nhặt những chiếc đinh ghim dưới đất, dù cho có cho phép em giữ lại những chiếc đinh ấy đi nữa. Tuy nhiên, vì quá vui mừng khi đánh thức được vị "khổng lồ" trong em, tôi đành tặc lưỡi bỏ qua những vấn đề về thực tế và kỹ thuật trong lúc này.
Nhận thấy em lắng nghe rất chăm chú—rằng sự bối rối của tôi chẳng qua chỉ là do những bề mặt khó hiểu của thế hệ mới—tôi dĩ nhiên đã học cách dốc bầu tâm sự với em ngày một cởi mở hơn. Tôi tự cho phép mình kéo dài thời gian thêm một chút mỗi ngày, chẳng bận tâm hay suy nghĩ trước xem mình sẽ nói gì với em cho đến khi giờ học đến. Ban đầu, do thói quen cũ nên tôi hay buồn ngủ, nhưng rồi cảm giác đó cũng qua đi. Chẳng mấy chốc, tôi chợt nhận ra rằng ở Phòng Nghiên cứu đang diễn ra những điều vô cùng ý nghĩa cùng với cậu bé, mà cô bé nhỏ sẽ thật thiệt thòi nếu bỏ lỡ; thêm nữa, em cũng sẽ cảm thấy thoải mái hơn nếu tôi có thể chia sẻ sự chú ý của mình cho cả một người khác nữa, thế là tôi sắp xếp lại lịch của cô bé, và từ đó có hai học trò.
Theo trí nhớ của tôi, The Abbot đã đến học được khoảng ba tuần thì tôi kể cho em nghe một số giáo lý huyền bí liên quan đến các vì sao; những vấn đề rất xa rời với ngành thiên văn học khoa học vốn tiến hành các cuộc nghiên cứu hầu như hoàn toàn từ góc độ vật lý. Bạn có thể chắc chắn rằng tôi không hề nói với giọng điệu kẻ cả ra oai, mà chỉ đơn thuần như một người bổ sung thêm một vài khía cạnh thú vị mà mình khám phá được về một chủ đề vô tận. Hôm sau, em lẻ tẻ bước vào một mình sớm hơn mọi ngày, câu "xin chào" cũng nhỏ hẳn đi. Tôi ngẩng lên và em nói, giọng gần như run rẩy:
"Cháu đã có một đêm tuyệt vời."
Lời nói của em chan chứa cảm xúc đến mức khiến tôi cũng thấy nôn nao hồi hộp như đang đứng giữa những sự kiện lớn lao.
"Kể cho chú nghe xem nào," tôi nói, dịch người lại gần hơn.
Mọi chuyện đều ở đây ạ," em đáp, hắng giọng một cái.
Bài viết của chính em được ghi lại dưới đây, hầu như không hề qua bàn tay biên tập nào. The Abbot đặt tên cho bài viết của mình là—
TIẾNG NÓI XUYÊN QUA THẤU KÍNH
Vài người bảo rằng nếu ban ngày bạn suy nghĩ thật sâu về
một điều gì đó, bạn có thể mơ thấy nó. Có lẽ những gì tôi trải
qua đêm qua chỉ là một giấc mơ, nhưng nó còn vượt lên trên
cả một giấc mơ do dạ dày gây ra. Tôi thích nghĩ rằng đó là một
thị kiến đích thực. Trước giờ đi ngủ, tôi có đọc hai cuốn sách;
một cuốn sách mỏng về thiên văn học bàn về thuyết tinh vân,
và một cuốn khác kể về chuỗi hành tinh.
Chuỗi hành tinh chính là phần tiếp nối của thuyết tinh vân,
nhưng thể hiện dưới hình thái tâm linh. Chính điều đó đã đưa
tôi vào cõi thị kiến. Tôi rời xa thế giới này; không phải trong
thể xác vật chất mà trong một hình hài khác—đó là lần đầu
tiên tôi đánh mất thân xác vật chất của mình. Khi tỉnh dậy
từ cõi thị kiến, tôi thấy mình vẫn còn mặc nguyên quần áo.
Khi tôi chìm dần vào giấc ngủ vĩ đại ấy, âm thanh cuối cùng
tôi nghe được trên trần gian là tiếng mẹ tôi đang đàn và hát bài
hát "Tiếng sáo người mục tử". Nó làm lu mờ đi các giác quan
trần thế của tôi để rồi tôi chầm chậm trôi dạt vào thung lũng tâm
linh êm đềm. Còn cách nào để chìm vào giấc ngủ đẹp đẽ hơn thế
nữa chứ?...
Tôi đang từ từ bước lên sườn một quả núi lớn dẫn đến một đài
quan sát tráng lệ. Cái chóp tháp được chạm trổ vương miện vàng rực.
Khi tôi mở cửa bước vào, tôi nhìn thấy một chiếc kính viễn vọng
lớn cùng vài chiếc ghế. Chiếc ghế của quan sát viên được bọc nhung
êm ái. Đó không phải là một đài quan sát phức tạp giống như những nơi
trên trần thế.... Tôi tháo nắp đậy của chiếc kính viễn vọng lớn đang
che vật kính ra, rồi mở nắp thấu kính mắt. Khi tôi đảo mắt nhìn
khắp vòm trời để tìm kiếm dải xoắn ốc khổng lồ của các hành tinh
(được nhắc đến trong chuỗi hành tinh), tôi nghe thấy một tiếng
nói phát ra từ thấu kính của chiếc kính viễn vọng: "Đây là con
đường. Hãy theo ta."
Tôi nhìn qua thấu kính và ở đó tôi thấy một dải xoắn ốc hành tinh
kéo dài hướng thẳng lên thiên đường. Dải xoắn ốc cứ thế vươn cao
dần lên, không hề có bất kỳ dấu hiệu của bậc thềm nào, nhưng các
vòng cuộn liên tiếp khăng khít với nhau y như những vòng ren của
một con ốc vít. Càng lên tới đỉnh, dải xoắn ốc càng phình to ra cho
đến khi khuất hẳn tầm mắt. Chẳng mấy chốc tôi lại nghe thấy tiếng
nói đó vang lên: "Chắc hẳn ngươi thấy đây là một điều phức tạp."
"Vâng ạ."
"Hãy lấy nét kính viễn vọng của ngươi rồi nhìn lại xem mọi thứ
đã rõ ràng hơn chưa."
Tôi làm theo, và khi nhìn qua ống kính, tôi thấy một quả cầu lớn.
Trông nó thật lạnh lẽo và trống trải. Khắp nơi toàn là đá, và khi
quan sát kỹ hơn, tôi nhận ra đó phần lớn là đá khoáng sản. Quả
cầu đó trôi dạt đi, để lại một vệt sáng nhỏ phía sau cho đến khi
một quả cầu khác xuất hiện trong tầm mắt. Trên quả cầu này phủ
một tầng màu xanh lá, với thảm thực vật vô cùng tươi tốt. Đâu đâu
cũng là cây cối và các loài thực vật sinh trưởng đủ loại. Hành tinh
này cũng dần trôi đi giống như hành tinh trước. Hành tinh thứ ba
thì ngập tràn các loài động vật đủ mọi chủng loại—một khối hỗn
độn, một sự hỗn loạn của muông thú. Hành tinh thứ tư cũng đông
đúc không kém với những gã người rừng lông lá đang giao chiến,
hai hành tinh tiếp theo cho thấy sự tiến hóa của những con người
đó—sự tinh tế dần dần và nền văn minh. Hành tinh thứ bảy thì
tôi không trông thấy.
Tôi đang đăm đăm nhìn vào vực thẳm tối tăm của bầu trời thì lại
nghe thấy tiếng nói ấy:
"Ta đoán là ngươi vẫn còn đang kinh ngạc lắm."
"Vâng ạ."
"Thế thì, hãy lắng nghe ta và ta sẽ cố gắng giải thích tất cả.
Dải xoắn ốc vĩ đại của các hành tinh tượng trưng cho con đường
tiến bước của con người trong cuộc đời vĩnh hằng. Cuộc đời của
con người trên trái đất này chỉ ngắn ngủi bằng một tích tắc so với
quá trình tiến hóa dài đằng đẵng ấy. Sáu quả cầu mà ngươi nhìn
thấy khi lấy nét kính viễn vọng chính là biểu tượng cho sự tiến
hóa của loài người. Những hòn đá xuất hiện đầu tiên. Khi chúng
nứt vỡ và tan chảy thành đất đai, sự sống thực vật hình thành,
những sinh vật bò sát trồi lên từ thực vật và động vật sinh ra từ
đó. Con người lớn lên và tách ra khỏi hình hài của loài động vật
bậc thấp. Các quả cầu bên dưới tượng trưng cho quá trình phát
triển của con người. Trong chu kỳ tiến hóa dài lâu, con người
cứ tiếp tục tiến bước theo cách này. Sau khi kết thúc cuộc đời
trên bảy quả cầu, họ lại bắt đầu một vòng đời mới trên bảy quả
cầu khác, chỉ có điều ở nhóm tiếp theo mà họ sinh sống, cuộc đời
họ sẽ không ngừng thăng hoa. Đó không phải là lặp lại cùng một
cuộc đời cũ. Bây giờ ngươi có thể nhìn vào hành tinh thứ Bảy,
hành tinh của Tâm linh."
Khi tôi nhìn qua kính viễn vọng lần nữa, trước mắt tôi hiện ra một
quả cầu tuyệt đẹp. Nó là một khu vườn vĩ đại. Nơi đó có một chốn
tu viện của Tự nhiên. Phía trên cao, những tán cây đan xen vào nhau
tạo thành một mái vòm che chở. Tít tắp về phía bắc trải dài một
dãy đồi thoai thoải, phía đông và tây cũng vậy, nhưng ở phía nam
có một con lạch nhỏ chảy uốn lượn sát ngay bệ thờ của tu viện. Nó
trông thật hân hoan trên hành trình xuôi về hồ khi nhảy chồm qua
những ghềnh đá tạo thành các thác nước nhỏ, trong khi những tia
nắng mặt trời chiếu rọi xuyên qua tán lá đan xen của những cành
cây vươn dài ra phía trên dòng suối, khiến nơi đây trông giống như
một dòng sông bạc. Tôi đang say sưa ngắm nhìn phong cảnh thì lại
nghe thấy tiếng nói vang lên:
"Bây giờ ngươi phải đi thôi, hãy kể cho mọi người nghe những gì
ngươi đã thấy, và vào một đêm nào đó trong tương lai ngươi sẽ
được ngắm nhìn quả cầu tâm linh một cách gần hơn."
Tôi bừng tỉnh và nhận ra mình đang ngồi trên chiếc ghế bành lớn
trong phòng. "Có thể nào là sự thật, hay mình đang mơ hồ nhầm
lẫn?" Tôi tự véo mình để xem bản thân đã thức chưa; rồi bước ra
cửa sổ nhìn ra ngoài. Thế giới bên ngoài vẫn y nguyên như thế.
Quá đỗi ngây ngất trước thị kiến kỳ diệu ấy nên ngay giữa giờ khắc
nửa đêm này, tôi ngồi đây vội vã nguệch ngoạc những dòng này.
Tôi đã làm theo đúng mệnh lệnh của giọng nói huyền bí vĩ đại
kia, mặc dù bài viết hãy còn thô sơ, nhưng tôi hy vọng có dịp
nào đó sẽ lại được kể cho các bạn nghe về phần còn lại của thị
kiến và nhiều điều hơn nữa về quả cầu thứ bảy.