Sống theo khuôn phép, uốn nắn hành vi và y phục sao cho tiệm cận nhất có thể với nhịp sống đổi thay từng phút, cất lên những khúc ca mà người láng giềng vẫn hát — đó là Trật tự, nhưng là thứ trật tự bầy đàn. Chính bằng cách ấy, chúng ta đánh mất hoặc trì hoãn việc đạt tới ánh nhìn tươi mới, cùng sự nhạy cảm để cảm nhận chính mình và chân lý. Chúng ta mặc nhiên xem những gì được bảo ban là chân chính và tốt đẹp; chúng ta chấp nhận những gì đã được số đông thừa nhận. Trên thực tế, cảm thụ về cái đẹp của mỗi người là một kho báu riêng biệt. Con người ấy phải mang tinh thần của những kẻ khai hoang thì mới mong tìm về được với chính mình.
Cách đây vài năm, tôi từng rảo bước qua dăm ba tòa nhà trên đại lộ chính của một thành phố lớn — hình như là vào một buổi chiều rực nắng đầu đông, đúng vào giờ dạo phố. Các thiếu nữ và những em gái đang diện những sắc đỏ gớm ghiếc nhất — sắc đỏ của máu, của dục vọng và sự suy đồi.
“Đó là những sắc đỏ Balkan,” tôi được bảo vậy.
Một chút nọc độc vẫn còn vương lại từ nhát kiếm ấy. Tôi đã nhìn thấy một điều gì đó ở nước Mỹ mà tôi mãi chẳng thể nào quên. Những người phụ nữ và các thiếu nữ kia hoàn toàn chẳng hay biết họ đang làm gì. Họ đã u mê tiếp nhận món quà mùa mốt do ngành Thương mại ban phát. Thương mại đã khai thác triệt để sắc đỏ ấy, bởi vì cụm từ “Balkan” đang lan tràn trong không gian vào mùa thu ấy, nhân một đợt bùng phát dữ dội của căn bệnh chiến tranh. Các bà mẹ Mỹ đã dung túng cho con cái mình bắt chước những nét dã man về màu sắc — thứ vốn được thiết kế vừa khít cho những dân tộc đang lụi tàn và chìm ngập trong kinh hoàng, đẫm máu như chính vùng Balkan — chỉ vì ngành Thương mại đã mang chúng đến.
Những sắc đỏ ấy ngầm báo hiệu rằng đại đa số người Mỹ không hề ý thức được có những màu sắc tồi tệ chẳng khác nào địa ngục. Thương mại sẽ luôn dẫn dắt con người đi lạc lối. Con mắt chỉ chực chờ vụ lợi từ bạn thì chẳng thể dẫn dắt bạn đến với cái đẹp, bởi bản thân nó vốn chẳng hề biết gì về cái đẹp... Hơn thế nữa, chúng ta bị kéo trượt xuống dốc về mặt thẩm mỹ qua những bước ngắn đến nỗi thường quên mất mình đã rơi xuống vũng bùn nào... Gần đây tôi có dịp ngồi trên một chuyến xe điện, ngay gần cửa sau nơi người soát vé đứng. Tôi từng thầm thán phục cách anh điềm đạm xử lý bao rắc rối vụn vặt, cùng sự nhã nhặn mà anh thể hiện trong phần việc của mình. Khi nhìn gương mặt, đầu và tai mang vẻ hiền lành, tử tế ấy, tôi lại một lần nữa tự hỏi vì sao anh lại phải chôn chân ở chốn này.
Ngày nào anh cũng lặp đi lặp lại một công việc y hệt, giống như một đứa trẻ bị bắt phải ngồiì lỳ bên chiếc bàn nhỏ để lật đi lật lại một tập hợp đồ vật giới hạn và chẳng có gì đổi thay. Trên xe lúc ấy chỉ có lưa thưa vài hành khách. Tôi quay lên nhìn tấm lưng của người lái tàu; và từ vóc dáng ấy, tâm trí tôi lan man nghĩ về vô số những người đàn ông giống như anh, ngày đêm đang oằn mình đóng mở các van điều tiết dòng năng lượng và sức mạnh của hơi nước — băng qua những đường hầm, những chiếc cầu giàn ngay lúc này đây — điều khiển những đoàn tàu hỏa, xe điện và tàu thủy chu du khắp thế giới.
Tất cả đó chỉ là sự học hỏi Trật tự, sự dung hợp vào Trật tự; thế nhưng người lái tàu ấy lại bị kìm kẹp trong những vòng cương tỏa bằng thép cứng nhắc, lặp lại cùng một hành trình chẳng mảy may lệch hướng trên những con đường quen thuộc, có lẽ đến hai chục lần mỗi ngày — những bài học về Trật tự đã từ lâu đánh mất đi ý nghĩa của chúng; các giác quan của anh ta cứ thế thu hẹp lại như những ngón tay đang siết chặt, sợ rằng Trật tự sẽ một lần nữa vỡ vụn thành hỗn mang. Và tôi tự hỏi một người thầy chân chính có thể làm gì cho người lái tàu này hồi nhỏ, để khai thác tối ưu và phát huy hết sức mạnh tiềm ẩn trong anh. Một đứa trẻ bình thường hoàn toàn có thể được nhào nặn thành một con người phi thường. Sẽ có một ngày, không quá xa xôi, việc mở ra những con đường phát triển cho những ai đã sẵn sàng sẽ trở thành sứ mệnh hàng đầu của Đất Mẹ.
Rồi tôi quay trở lại với người soát vé; thấy mình đang chăm chú quan sát chiếc quần dài của anh.
Chúng được làm bằng thứ len dày màu xanh thẫm, chắc là cũng sạch sẽ như y phục bằng len thường ngày của đàn ông... Ở đây có một điều kỳ lạ thế này: Nếu chúng ta mặc quần áo trắng trong một hoặc hai ngày, những vết bẩn không thể chối cãi sẽ bám vào, buộc chúng ta phải thay mới. Thế nhưng, vì chẳng có tiếng la ó hay tai tiếng nào vang lên khắp những vùng văn minh hơn trên Trái Đất, đa số mọi người vẫn mặc chung một bộ âu phục bằng len suốt cả mùa đông lẫn mùa hè trong nhiều tháng ròng. Ta buộc phải chấp nhận kết luận này: Không phải là chúng ta phản đối sự dơ bẩn, mà là chúng ta không muốn sự dơ bẩn ấy bị phơi bày ra rành rành. Bộ trang phục dính bẩn có thể được mặc cho đến khi mục nát sờn chỉ, nhưng bộ trang phục làm lộ vết bẩn thì nhất định phải được giặt sạch.
... Chúng là loại len dày và có màu xanh. Không chỉ chất vải, mà chính kiểu dáng mới là thứ thu hút ánh nhìn của tôi. Chúng được cắt may sao cho có hình dáng giống như chữ W rộng mà một đứa trẻ có thể uốn bằng sợi kẽm cứng, một ký tự có thể tự đứng vững một mình. Tôi đoán rằng một công ty nào đó đã sản xuất chúng với số lượng lớn dành riêng cho nhân viên lái tàu và soát vé. Giá như chúng ta không từng bước bị dẫn dắt để rồi dễ dãi chấp nhận, thì những dị vật này chắc chắn đã phải khiến mắt ta phải kêu lên thán thiết. Chẳng có nơi nào ở phương Đông hay chốn hải đảo lại nhào nặn nên hình hài nam giới một cách quái dị đến thế. Giá như có ai đó phác họa chúng cho chúng ta, tại một nơi mà ta vẫn quen nhìn thấy những nét biếm họa; giá như ta bắt gặp chúng trong các vở opera hài, hoặc trên đôi chân của một thổ dân vùng Thái Bình Dương; hay giả sử chúng ta đến từ một hành tinh khác, thì chắc chắn sẽ chẳng có chút nhầm lẫn nào về sự suy đồi thẩm mỹ mà chúng đại diện. Trùm lên tất cả là một nỗi buồn sâu sắc khi một người đàn ông lương thiện lại phải chịu cảnh bẽ bàng đến thế.
Và khi người ta ngẫm lại những gì phụ nữ đã làm để chiều chuộng bản năng của giới thương nhân trong những năm gần đây; mùa này thì thắt lưng lại, mùa sau thì nới rộng hông hoặc tôn vòng ngực, rồi mùa tiếp theo lại thả lỏng vùng bụng như thể một nhành cây vừa được tháo bỏ chiếc gông kìm kẹp — đó mới chính là những sự đồi trụy thực sự mà chúng ta cùng nhau thực hiện dưới sự bảo bọc của bầy đàn. Sự phơi bày dẫu sao vẫn còn rành mạch và trong sáng chán so với những biểu hiện lệch lạc này của con người; để rồi kẻ mang trong mình mầm mống của một nhãn quan tươi mới hơn phải thốt lên rằng: “Nếu ta không biết gì, nếu ta không có khiếu thẩm mỹ và chẳng thể nhìn nhận sự thật, thì ít nhất xin hãy để ta làm những điều mà người khác không làm...”. Và một lần nữa, gánh nặng của tất cả những điều này nằm ở việc nuôi dạy trẻ nhỏ không biết cách nổi kháng.
Tôi đã bàn về những vấn đề này với nhóm sinh hoạt ở Nhà nguyện. Có lần tôi thấy một người đàn ông cao lớn, chuẩn bị rời đi, cúi xuống nhìn sâu vào đôi mắt của một cậu bé mà ông quý mến, và dặn rằng: “Đừng bao giờ làm bất cứ điều gì lén lút mà con không dám làm trước mặt người bạn thân nhất của mình. Thực ra, cách duy nhất để con có thể thực sự ở một mình chính là sống thấp kém hơn cả bản ngã của con.” Tôi đã ghi nhớ điều đó như một lời khuyên vô cùng khôn ngoan và ấm áp.
Trong lúc trò chuyện, tôi chợt nhận ra rằng điều chúng ta yêu quý nhất ở trẻ em chính là ánh nhìn tươi mới của chúng. Chúng ta thuật lại những lời bọn trẻ nói với một niềm thích thú bởi vì chúng nhìn vạn vật mà không bị vướng bận bởi sự nhồi sọ của thế giới; trong rất nhiều trường hợp, chúng nhìn sự vật đúng như bản chất vốn có của chúng. Và từ đó, chỉ cần một bước nữa là ta nhận ra rằng người nghệ sĩ hay người lao động tạo ra được một tác phẩm đáng giá chính là nhờ đã làm được điều này — tái tạo lại sự vật gần với thực tế hơn, nhờ vào một tầm nhìn tự nhiên và tươi mới, hoặc bởi vì họ đã nhọc nhằn qua bao năm tháng để giành lại được nhu cầu tuyệt đối là dựa dẫm vào những gì chính các giác quan và tâm hồn họ mang lại. Chính sự dựa dẫm này là điều tôi vẫn luôn nỗ lực truyền thụ vào công việc hằng ngày tại Nhà nguyện.
Hết lần này đến lần khác, bọn trẻ đã cho tôi thấy sự tan rã của nhân cách xuất phát từ mọi hình thức diễn kịch, thậm chí là ngay cả khiếm khuyết căn bản của tiểu thuyết như một phương tiện truyền tải, cùng sự sụp đổ tất yếu theo thời gian của mọi hình thức biểu đạt nhân tạo. Ngày nay, sự thật là một thông điệp quan trọng có thể được truyền tải đến đông đảo công chúng qua một vở kịch hay một cuốn tiểu thuyết hiệu quả hơn rất nhiều so với việc diễn đạt chân lý đó một cách thẳng thắn và rành mạch. Sở dĩ như vậy là vì công chúng đã bị chiều chuộng quá lâu bởi những bối cảnh và màu sắc giả tạo, khiến cho tinh thần thuần khiết của chân lý — mang sắc trắng bởi nó chứa đựng tất cả các màu sắc — lại không đủ sức thống trị và chói lọi đối với đôi mắt đã mệt mỏi và bội thực.
Chúng ta thường nói rằng việc khắc họa nhân vật trong văn huyễn tưởng, đơn cử là vậy, chính là một nghệ thuật. Một nhà văn nhung nhớ hình ảnh về một người đàn ông hay người phụ nữ trong tâm trí khi cốt truyện chứa đựng nhân vật ấy dần phát triển. Khi phác họa một nhân vật đê tiện, tâm trí buộc phải bị bóp méo và biến dạng để phục vụ cho sự biểu đạt đó. Trong một tác phẩm tiểu thuyết gồm hàng tá nhân vật khác nhau, năng lượng sáng tạo phải đi qua hàng tá khuôn đúc khác nhau trước khi tìm được tiếng nói biểu đạt. Những hình mẫu ấy cứ tồn tại trong tâm trí suốt quá trình hình thành cuốn tiểu thuyết; và vì bản nhân cách của chính chúng ta được cấu thành từ sự biểu đạt trực diện của tư duy hiện hữu trong não bộ, thiết tưởng không cần phải nhấn mạnh thêm kết luận rằng chúng ta đang phản bội lại bản ngã khi sắm vai những nhà tiểu thuyết gia, dẫu cho ta có trở nên tài hoa đến bậc thầy đi chăng nữa.
Đó là một câu chuyện xưa cũ về việc cô con gái của Dickens thường ngồi lẩn khuất trong phòng làm việc của ông, trong khi ông đang cặm cụi xây dựng một nhân vật tàn độc nào đó thuộc thế giới ngầm ở London, có lẽ là Quilp; về cách mà vị đại danh họa ấy rời khỏi bàn làm việc để đến trước tấm gương, và đứng đó thực hiện những biểu cảm cùng những cử động uốn éo kỳ dị nhất, nhằm khắc họa nhân vật thật vững chắc trong tâm trí để rồi chuyển tải thành từ ngữ một cách hoàn hảo hơn.
Cũng liên quan đến vấn đề này, một trong những quan sát thú vị và đáng buồn nhất chính là sự tan rã nhân cách của những ai chọn con đường diễn xuất làm sự nghiệp. Thế nhưng, việc viết tiểu thuyết suy cho cùng cũng chỉ là một hình thức diễn xuất bằng ngôn từ đầy tinh vi hơn mà thôi. Giá trị của những trang sách chúng ta viết một phần nằm ở sự súc tích trong việc khắc họa nhân cách — sự trôi chảy mà nhờ đó chúng ta có thể đánh mất chính mình để hóa thân thành một ai đó khác. Thuở trẻ, tôi từng biết bao lần cảm thấy hoan hỉ khi có ai đó thốt lên rằng: “Anh chắc chắn phải là con người ấy khi đang viết về họ.” Tôi sẽ đáp lại rằng: “Nhân vật ấy cứ thế hiện lên ngày một rõ ràng hơn qua từng trang sách và chẳng mấy chốc sẽ tự hành xử theo cách của riêng mình. Sau đó, người ta sẽ đọc lại phần đầu cuốn sách — nơi nhân vật vẫn đang trong quá trình hình thành — để chỉnh sửa lại sao cho phù hợp với tạo hình đã gần như hoàn thiện hơn.”
Đó là một sự phản bội của thói quen trơn tuột, của thứ nhân cách nông cạn, một sự lắt léo rồi sẽ phải lụi tàn.
Việc cất lên chân lý sẽ chẳng thể được hỗ trợ bởi hành trình đi qua một bộ óc đã bị băm nát như mặt sân khúc côn cầu bởi sự càn quét của muôn vàn nhân vật. Sự biểu đạt chân lý bảo tồn sức sống mãnh liệt của nó bằng cách đi theo một đường thẳng hết mức có thể từ nguồn cội xuyên qua công cụ truyền dẫn. Công cụ ấy lúc nào cũng kém cỏi. Nó luôn lệch lạc theo một cách nào đó, bởi vì nó mang tính người và hữu hạn. Nó không hề được tôn lên nhờ những thủ pháp nhân tạo của con người, nhờ nghệ thuật diễn xuất, hay nhờ sự đồng hóa với những điều hư cấu. Quy luật của mọi sự sống mách bảo chúng ta, và ta chẳng cần ai phải nhắc nhở nếu chịu dừng lại để chiêm nghiệm, rằng tinh thần của con người được dung hợp bởi chân lý trong biểu đạt, rằng chúng ta càng nói lên chân lý bao nhiêu, thì càng kéo cái phần mang tính người và hữu hạn xích lại gần hơn với sự bất tử ẩn giấu bên trong bấy nhiêu. Dẫn dắt tâm trí thông dịch những điều bất tử chính là cuộc sống đích thực, nền giáo dục chân chính, mà hoa trái của nó là tình yêu thương giữa người với người, sự bình yên trong tâm hồn và sự trưởng thành. Tôi từng nghe người ta nói rằng Carlyle, Whitman, Thoreau, Emerson và những bậc vĩ nhân tương tự không thể là nghệ sĩ theo nghĩa làm tiểu thuyết — rằng những nỗ lực của họ thật đáng thương khi họ cố gắng thổi hồn vào các tác phẩm văn học của mình dưới hình thức truyện kể.
Điều này hoàn toàn đúng. Thế nhưng qua lăng kính viễn vọng của thời gian, chúng ta không hề đánh giá các nhà tiểu thuyết và diễn viên vĩ đại của mình vượt trội hơn họ, bởi vì họ mới chính là những người thông dịch cho tinh thần nhân loại. Càng qua năm tháng, họ càng thông dịch sâu sắc hơn tinh thần con người khi nó vang lên qua chính tâm trí họ — nơi ngày càng tiệm cận hơn với chân lý. Mấu chốt của toàn bộ vấn đề nằm ở chỗ, khi học cách thông dịch tinh thần con người ngày một trực diện hơn, thông qua hành động thực tế trên đời hay qua những con chữ độc lập, tâm trí sẽ ngày càng khai thác sâu hơn từ một nguồn cội vô tận, để rồi sự biểu đạt của nó cuối cùng trở nên phong phú, trực diện và mạnh mẽ đến mức mọi hình thức diễn kịch hay viết tiểu thuyết đều trở thành điều bất khả.
Một lần nữa, chính sự biểu đạt trực diện vạn vật theo cách mà chúng tự hiển lộ mới là điều mê hoặc ta trong ngôn từ của trẻ thơ và các bậc thầy. Nền giáo dục chân chính là khuyến khích sự biểu đạt ấy, là giữ cho con đường huyết mạch giữa tâm trí và tâm điểm nguồn cội của nó luôn rộng mở để tuôn chảy những điều độc nhất và chân thực.
Những bộ óc non trẻ ở đây được rèn luyện để nhận thức rằng những lời sai khiến từ đời sống nội tâm của chúng thú vị và đáng tin cậy hơn bất kỳ quá trình thuần túy mang tính tư duy nào khác. Trừ khi người thầy của chúng thất bại, chúng sẽ ngày càng trở thành những kẻ truyền tải trung thực nhất cho chính bản ngã của mình. Bất kể công việc của chúng mang hình thức gì trên cõi đời này, lý tưởng được gìn giữ là chiều kích của tinh thần con người sẽ hằn in lên tác phẩm của chúng, và chỉ điều đó thôi cũng đủ khiến sứ mệnh của bất kỳ người đàn ông hay phụ nữ nào trở nên kỳ diệu, quý giá và thuộc về những kẻ được chọn.
Tôi lại nghe văng vẳng bên tai câu nói: “Nhưng anh sẽ biến họ thành những kẻ cô độc đấy...” Con đường của sự cô độc luôn đến trước — tất cả những bậc vĩ nhân đồng hành đều đã bước đi trên con đường đó từ thuở ban đầu. Sự cô độc — đó chính là bầu khí quyển để hoài thai mọi chủ nghĩa anh hùng. Khátbvọng của kẻ cô độc luôn hướng về Thượng đế. Khi đã lắng nghe được tiếng nói của Thượng đế — thì đó là lúc quay trở lại với con người... Trở thành kẻ có uy quyền trong cả hai thế giới — đó mới là lý tưởng. Sẽ có thời điểm dành cho những chú chim non trong tổ — và có thời điểm dành cho những chuyến di cư vĩ đại.