Thế là anh nằm miên man suốt một khoảng thời gian rất dài. Thỉnh thoảng, anh dường như tỉnh giấc và nhận ra lúc ấy đêm đã về khuya, nhưng ý nghĩ phải đứng dậy hoàn toàn không xuất hiện trong đầu anh. Cuối cùng, anh nhận thấy trời bắt đầu hửng sáng. Anh nằm ngửa, đầu óc vẫn còn mụ mẫm sau cơn mê muội vừa qua. Những tiếng kêu gào hoảng loạn, tuyệt vọng vang lên chói lói từ ngoài đường—những âm thanh mà đêm nào anh cũng nghe thấy, quả thực là vậy, ngay dưới cửa sổ phòng anh sau hai giờ đêm. Giờ thì chúng đánh thức anh dậy.
“À! Mấy kẻ say rượu đang rời quán tửu điệu đấy mà,” anh nghĩ, “đã quá hai giờ rồi,” và anh bật dậy ngay lập tức, tựa như có ai vừa kéo anh khỏi chiếc ghế sô-bông.
“Gì cơ! Đã quá hai giờ rồi sao!”
Anh ngồi sụp xuống ghế—và sực nhớ lại mọi thứ ngay tức khắc! Tất cả ùa về trong mộtloáng, anh nhớ lại toàn bộ sự việc.
Khoảnh khắc đầu tiên, anh nghĩ rằng mình sắp phát điên. Một luồng lạnh buốt thấu xương bao trùm lấy anh; nhưng cái lạnh ấy xuất phát từ cơn sốt đã manh mún từ lâu trong giấc ngủ. Giờ đây, anh bất chợt lên cơn run lẩy bẩy dữ dội, đến mức hàm răng đánh vào nhau và toàn thân tê dại. Anh mở cửa và lắng nghe—mọi vật trong nhà đều đang chìm vào giấc ngủ. Anh kinh ngạc nhìn chính mình và mọi thứ xung quanh căn phòng, tự hỏi làm thế nào mà tối qua mình có thể lẻn vào nhà mà không khóa cửa, rồi lao phắt lên ghế sô-bông mà không thèm cởi quần áo, thậm chí chẳng buồn cởi cả mũ. Chiếc mũ đã rơi xuống và đang nằm lăn lóc trên sàn gần chiếc gối.
“Nếu có ai bước vào, họ sẽ nghĩ gì nhỉ? Rằng ta say khướt hay là...”
Anh lao bổ tới bên cửa sổ. Ánh sáng đã đủ rõ, và anh hớt hải tự soi xét khắp người từ đầu đến chân, kiểm tra từng mảnh y phục; không có dấu vết nào chứ? Nhưng làm thế nào mà kiểm tra kiểu đó được; trong cái rét căm căm vì run rẩy, anh bắt đầu cởi sạch quần áo ra để xem xét lại lần nữa. Anh lật tung mọi thứ cho đến từng sợi chỉ và mảnh giẻ rách cuối cùng, và vì không tin vào chính mình, anh đã lục soát kỹ lưỡng tới ba lần.
Nhưng dường như chẳng có gì cả, không một dấu vết, ngoại trừ một chỗ có mấy giọt máu đặc quánh đang bám vào mép sờn rách của chiếc quần. Anh với lấy con dao xếp lớn và cắt bỏ phần vải sờn ấy đi. Hình như không còn gì khác nữa.
Bất chợt, anh nhớ ra rằng chiếc ví và những thứ anh lấy ra từ chiếc tráp của mụ già vẫn còn nằm trong túi áo! Cho đến lúc đó, anh vẫn chưa hề nghĩ đến việc lấy chúng ra và cất giấu! Anh thậm chí còn chẳng nghĩ đến chúng trong lúc đang soi xét quần áo của mình nữa! Giờ thì tính sao đây? Ngay lập tức, anh lao tới lôi hết ra rồi ném phăng lên bàn. Sau khi lộn trái từng chiếc túi để chắc chắn không còn sót lại gì, anh ôm trọn đống đồ đó mang thẳng vào góc phòng. Tấm giấy dán tường ở sát chân đã bong tróc và đang rủ xuống từng mảng tả tơi. Anh nhét tất cả mọi thứ vào cái lỗ hổng ẩn sau lớp giấy: “Xong rồi nhé! Đã khuất mắt hết, cả chiếc ví nữa!” anh hân hoan nghĩ ngợi, rồi đứng dậy ngây người nhìn chằm chằm vào cái lỗ hổng vốn nay càng phình to ra hơn trước. Bỗng nhiên, anh run lạy bạy vì khiếp hãi; “Lạy Chúa!” anh thầm thì trong tuyệt vọng: “Chuyện gì thế này? Thế này mà gọi là cất giấu ư? Giấu giếm kiểu này à?”
Anh đã không tính toán trước việc mình sẽ có những món đồ trang sức cần phải cất giấu. Anh chỉ nghĩ đến tiền mà thôi, thế nên chẳng hề chuẩn bị sẵn một chỗ ẩn nấp nào.
“Nhưng giờ đây, lúc này, ta đang mừng cái gì chứ?” anh tự nhủ, “Đấy gọi là giấu đồ đấy phỏng? Trí khôn của ta đang bỏ ta mà đi—thế thôi!”
Anh kiệt sức ngồi phịch xuống ghế sô-bông và ngay lập tức lại bị một cơn run rẩy hành hạ không sao chịu nổi. Theo phản xạ, anh với lấy chiếc áo khoác mùa đông cũ kỹ của sinh viên để ở chiếc ghế bên cạnh—tấm áo vẫn còn hơi ấm dẫu đã rách tả tơi—tự đắp lên người rồi lại chìm dần vào trạng thái lơ mơ và mê sảng. Anh bất tỉnh.
Chưa đầy năm phút trôi qua, anh lại chồm dậy lần thứ hai, và ngay lập tức lao vào đống quần áo với một cơn cuồng nộ.
“Sao ta lại có thể ngủ tiếp được khi mọi việc chưa đâu vào đâu thế này? Đúng rồi, đúng rồi; ta chưa cắt bỏ cái quai vải ở nách áo! Mình lại quên mất, lại quên một chi tiết rành rành như thế! Một vật chứng rành rành thế cơ mà!”
Anh giật phăng sợi dây quai, hối hả cắt nó thành từng mảnh vụn rồi vứt lẫn vào đống đồ lót dưới gối.
“Những mảnh vải rách tơi tả thì chẳng thể khơi gợi sự nghi ngờ nào đâu, dù chuyện gì xảy ra đi nữa; chắc chắn là thế, thế nào cũng vậy thôi!” anh lặp đi lặp lại, đứng giữa căn phòng, rồi với sự tập trung đau đớn, anh lại đảo mắt nhìn quanh khắp nơi, từ sàn nhà cho đến mọi ngõ ngách, cố gắng chắc chắn rằng mình không bỏ sót thứ gì. Sự thật phũ phàng rằng mọi năng lực của anh, ngay cả trí nhớ cùng khả năng tư duy đơn giản nhất cũng đang dần rời bỏ anh, bắt đầu trở thành một sự đày đọa không thể chịu đựng nổi.
“Chẳng lẽ mọi chuyện đã bắt đầu rồi sao? Chẳng lẽ đây chính là sự trừng phạt đang giáng xuống đầu ta ư? Chính nó rồi!”
Những mảnh vải sờn rách mà anh vừa cắt khỏi chiếc quần đang nằm chình ình giữa sàn nhà, ngay giữa phòng, nơi bất cứ ai bước vào cũng có thể nhìn thấy rõ mồn một!
“Chuyện gì xảy ra với ta thế này!” anh lại thét lên, như một kẻ đoạn tình mất trí.
Rồi một ý nghĩ kỳ lạ xẹt qua đầu anh; rằng rất có thể toàn bộ quần áo của anh đều dính đầy máu, rằng có lẽ có rất nhiều vết bẩn, nhưng anh lại chẳng nhìn thấy, chẳng nhận ra vì các giác quan của anh đang mai một, đang rệu rã... lý trí của anh đã bị che mờ... Bỗng nhiên, anh nhớ ra là trên chiếc ví cũng có vết máu. “À! Thế thì trong túi áo chắc chắn cũng phải dính máu, vì ta đã nhét chiếc ví ướt sũng đó vào túi cơ mà!”
Trong chớp mắt, anh lộn trái chiếc túi áo ra và, quả nhiên!—vẫn còn những dấu vết, những vết ố trên lớp lót túi!
“Thế là trí tuệ của ta vẫn chưa hoàn toàn mai một, ta vẫn còn chút ý thức và trí nhớ, vì chính ta đã đoán ra được điều đó,” anh đắc thắng thầm nghĩ, thở phào nhẹ nhõm một hơi dài; “đây chỉ là sự suy nhược do cơn sốt, một phút mê sảng mà thôi,” và anh xé toạc toàn bộ lớp lót bên trái của chiếc quần. Đúng lúc đó, ánh nắng mặt trời chiếu rọi lên chiếc ủng bên trái của anh; trên chiếc tất lòi ra khỏi miệng ủng, anh mang máng thấy có những vệt máu! Anh vứt phăng đôi ủng ra; “dấu vết rõ mồn một đây chứ đâu! Mũi tất đã đẫm máu;” chắc hẳn anh đã vô ý bước vào vũng máu đó rồi... “Nhưng giờ ta phải làm gì với đống này đây? Phải vứt chiếc tất, mấy mảnh giẻ với cái túi lót này đi đâu chứ?”
Anh gom tất cả vào lòng bàn tay rồi đứng chôn chân giữa phòng.
“Ném vào lò sưởi ư? Nhưng họ sẽ lục soát cái lò sưởi đầu tiên. Đốt chúng đi ư? Nhưng lấy gì mà đốt? Thậm chí đến một que diêm cũng chẳng có. Không, tốt hơn là cứ ra ngoài rồi ném quách đi đâu đó. Đúng vậy, vứt đi là hơn,” anh lặp lại, rồi lại ngồi phịch xuống ghế sô-bông, “và ngay lập tức, ngay bây giờ, không được chần chừ...”
Nhưng đầu anh lại gục xuống gối. Lại một lần nữa cái lạnh buốt thấu xương hành hạ anh; anh lại kéo chiếc áo khoác trùm lên người.
Và trong một khoảng thời gian dài, suốt mấy tiếng đồng hồ, anh bị ám ảnh bởi cái ý giục giã “phải đi đâu đó ngay lập tức, ngay bây giờ, rồi vứt sạch mọi thứ đi, để chúng khuất mắt và chấm dứt hẳn, ngay lập tức, ngay lập tức!” Đã mấy lần anh cố chồm dậy khỏi chiếc ghế nhưng không sao đứng lên nổi.
Cuối cùng, anh bị đánh thức hoàn toàn bởi tiếng đập cửa dữ dội.
“Mở cửa mau lên, còn sống hay đã chết rồi hả ngày cái thói cứ ngủ lì ra thế!” Nastasya vừa đấm thùm thụp vào cửa vừa quát. “Nó ngáy như chó suốt cả ngày trời thế này! Mà cũng chẳng khác gì con chó thật. Mở cửa bảo tao mau. Đã quá mười giờ rồi đấy.”
“Biết đâu cậu ta không có nhà,” một giọng nam vang lên.
“Hừ! Giọng lão gác cổng đây mà... Lão muốn gì chứ?”
Anh chồm dậy ngồi ngay ngắn trên ghế. Nhịp tim đập thình thịch khiến anh đau buốt cả ngực.
“Thế thì ai đã chốt cửa bên trong hả?” Nastasya đáp trả. “Lại còn giở cái thói tự khóa trái cửa nữa chứ! Tưởng mình đáng giá lắm để mà người ta thèm ăn trộm chắc! Mở cửa ra đồ ngốc kia, tỉnh dậy mau!”
“Chúng muốn gì nhỉ? Tại sao lại có cả lão gác cổng? Mọi chuyện bại lộ hết rồi chăng. Kháng cự hay là mở cửa đây? Chuyện gì đến rồi cũng phải đến thôi!...”
Anh nửa nằm nửa ngồi, rướn người về phía trước rồi tháo chốt cửa.
Căn phòng nhỏ đến mức anh có thể vặn chốt mà chẳng cần phải bước chân khỏi giường. Đúng vậy; lão gác cổng và Nastasya đang đứng ngoài đó.
Nastasya trân trân nhìn anh với vẻ lạ lẫm. Anh liếc nhìn lão gác cổng bằng ánh mắt ngạo nghễ và tuyệt vọng, trong khi lão ta cứ im lặng giì một tờ giấy màu xám đã gấp lại được niêm phong bằng sáp đỏ.
“Giấy triệu tập từ văn phòng,” lão thông báo khi đưa tờ giấy cho anh.
“Văn phòng nào?”
“Giấy triệu tập đến đồn cảnh sát chứ văn phòng nào nữa. Cậu thừa biết là đồn nào rồi còn gì.”
“Đến cảnh sát ư?... Để làm gì chứ?...”
“Tôi biết sao được. Người ta gọi thì cứ đi đi.”
Lão đàn ông nhìn anh dò xét, đảo mắt quanh phòng rồi quay lưng bỏ đi.
“Cậu ta ốm nặng thật rồi đấy!” Nastasya nhận xét, ánh mắt vẫn không rời khỏi anh. Lão gác cổng quay đầu lại trong giây lát. “Cậu ta bị sốt từ hôm qua cơ,” cô ta nói thêm.
Raskolnikov không đáp lời, tay cầm tờ giấy mà chẳng thèm mở ra. “Thế thì đừng có dậy nữa,” Nastasya lại nói với giọng thông cảm khi thấy anh đang thả hai chân xuống ghế. “Cậu đang ốm thì cứ nằm đi; chẳng việc gì phải vội vàng thế. Cầm cái gì trong tay thế hả?”
Anh cúi xuống nhìn; trong bàn tay phải, anh vẫn đang nắm chặt những mảnh vải cắt từ chiếc quần, chiếc tất và mấy miếng giẻ lót túi. Hóa ra anh đã ôm khư khư chúng trong tay suốt lúc ngủ. Sau này ngẫm lại, anh mới nhớ ra là trong cơn mê sảng nửa tỉnh nửa mê, anh đã nắm thật chặt những thứ này trong tay rồi cứ thế chìm vào giấc ngủ lúc nào không hay.
“Nhì xem cái đống giẻ rách cậu ta nhặt nhạnh rồi ôm ngủ cùng kìa, cứ làm như vớ được kho báu không bằng...”
Và Nastasya lại bụm miệng cười rúc rích đầy vẻ cuồng loạn.
Ngay lập tức, anh nhét tống nhét tháo tất cả vào trong chiếc áo khoác dài rồi trừng trừng nhìn cô ta. Dù chẳng còn đủ khả năng tư duy rạch ròi vào lúc đó, anh vẫn cảm nhận được rằng không ai lại đi cư xử như thế với một kẻ sắp bị bắt giữ cả. “Nhưng mà... cảnh sát cơ mà?”
“Hay là uống chút trà đi nhé? Chị mang vào cho, vẫn còn một ít đấy.”
“Không... tôi đi đây; tôi đi ngay bây giờ,” anh lẩm bẩm, gượng đứng dậy.
“Ơ hay, thế thì cậu xuống cầu thang kiểu gì nổi!”
“Được chứ, tôi tự đi được.”
“Tùy cậu vậy.”
Cô ta theo chân lão gác cổng bước ra ngoài.
Anh vội vã lao ngay lại chỗ có ánh sáng để kiểm tra chiếc tất và đống giẻ rách.
“Vẫn còn vết bẩn, nhưng không đến nỗi dễ nhận ra; tất cả đều dính đầy bụi đất, bị chà xát và đã phai màu rồi. Nếu không có sẵn hoài nghi thì chẳng ai nhận ra được điều gì đâu. May quá, đứng từ xa như Nastasya thì chắc chắn không thể thấy được!” Đoạn, trong cơn run rẩy, anh bóc lớp sáp niêm phong tờ giấy triệu tập và bắt đầu đọc; anh phải mất một lúc lâu mới hiểu được nội dung. Đó chỉ là một giấy triệu tập thông thường của đồn cảnh sát khu vực, yêu cầu anh có mặt tại văn phòng thanh tra quận vào lúc chín giờ rưỡi ngày hôm đó.
“Nhưng chuyện quái quỷ gì thế này? Ta có bao giờ dính líu gì đến cảnh sát đâu cơ chứ! Mà sao lại đúng vào ngày hôm nay cơ chứ?” anh bàng hoàng tự hỏi trong nỗi đau đớn khôn cùng. “Lạy Chúa, ước gì mọi chuyện chóng qua đi!”
Anh toan quỳ xuống cầu nguyện nhưng lại bật cười buông xuôi—không phải cười vì ý niệm cầu nguyện, mà là cười chính bản thân mình.
Anh hối hả mặc quần áo, “Mất mát thì đã mất rồi, sao cũng được mặc xác chúng! Có nên xỏ chiếc tất này vào không nhỉ?” bỗng anh tự hỏi, “nó sẽ càng bám đầy bụi hơn và những dấu vết kia sẽ biến mất hẳn.”
Nhưng vừa xỏ chân vào, anh lại giật phăng ra trong niềm kinh tởm và ghê sợ. Anh cởi nó ra, nhưng rồi nghĩ lại rằng mình chẳng còn chiếc tất nào khác, anh đành nhặt lên và xỏ vào lại—để rồi lại bật cười.
“Tất cả chỉ là quy ước, tất cả chỉ mang tính tương đối, chẳng qua là cách nhìn nhận vấn đề mà thôi,” anh thầm nghĩ trong chớp mắt, trong khi toàn thân vẫn đang run lẩy bẩy, “thôi được, ta xỏ vào rồi đấy! Cuối cùng thì cũng xỏ nó vào rồi đây thôi!”
Nhưng tiếng cười vừa dứt thì nỗi tuyệt vọng lại ập đến.
“Không, quá sức chịu đựng của ta rồi...” anh nghĩ thầm. Đôi chân anh lẩy bẩy. “Vì sợ hãi đây mà,” anh lẩm bẩm. Đầu anh quay cuồng và nhức buốt vì những di chứng của cơn sốt. “Đây là một cái bẫy! Chúng muốn dụ ta đến đó để vạch trần mọi chuyện,” anh ngẫm nghĩ khi bước ra cầu thang— “tệ nhất là lúc này đầu óc ta gần như mụ mẫm... nhỡ đâu ta lại lỡ thốt ra điều gì ngốc nghếch...”
Ra đến cầu thang, anh chợt nhớ ra là mình vẫn để nguyên toàn bộ số tang vật trong cái lỗ trên tường, “và rất có thể chúng sẽ lục soát ngay khi ta vắng nhà,” anh nghĩ, rồi khựng lại. Nhưng anh đã bị chuỗi tuyệt vọng và sự bất cần đời của một kẻ cùng đường—nếu có thể gọi như thế—gặm nhấm đến mức anh vung tay bước tiếp. “Chỉ mong cho xong chuyện!”
Ra ngoài đường, cái nóng lại ngột ngạt đến không thở nổi; chẳng có lấy một giọt mưa rơi trong suốt mấy ngày qua. Lại khói bụi, gạch ngói và vôi vữa, lại cái thứ mùi xú uế bốc lên từ các cửa hàng và quán rượu, lại những gã say xỉn, những kẻ buôn bán người Phần Lan và những cỗ xe ngựa đã rệu rã. Ánh mặt trời chói chang chiếu thẳng vào mắt khiến anh đau nhức, và anh cảm thấy đầu óc mình đang quay cuồng—cảm giác thường thấy ở một kẻ đang bị sốt khi bước ra đường dưới ánh nắng gắt.
Khi đến khúc quẹo hướng về con phố cũ, trong nỗi hoảng sợ tột cùng, anh liếc mắt nhìn xuống đó... hướng về ngôi nhà... rồi vội vã quay đi ngay lập tức.
“Nếu chúng gặng hỏi, có khi ta cứ khai sạch ra cho rồi,” anh thầm nghĩ khi đến gần đồn cảnh sát.
Đồn cảnh sát cách đó chừng một phần tư dặm. Gần đây nó đã được chuyển đến trụ sở mới nằm trên tầng bốn của một tòa nhà mới xây. Anh đã từng ghé qua văn phòng cũ một lần thoáng qua nhưng chuyện ấy đã từ lâu lắm rồi. Rẽ qua cổng, anh nhìn thấy bên phải có một cầu thang mà một gã nông dân đang bước lên với một cuốn sổ trên tay. “Chắc chắn là lão gác cổng rồi; vậy thì văn phòng ở đây chứ đâu,” nghĩ thế, anh bắt đầu bước lên cầu thang với hy vọng mong manh. Anh chẳng muốn hỏi han bất cứ ai.
“Mình sẽ bước vào, quỳ lạy và thú nhận hết mọi chuyện...” anh nghĩ thầm khi lên đến tầng bốn.
Cầu thang dốc, hẹp và nhoe nhoét nước bẩn. Khu bếp của các căn hộ đều hướng ra cầu thang và mở toang hầu như suốt cả ngày. Thế nên mùi hôi thối và hơi nóng bốc lên nồng nặc khủng khiếp. Cầu thang đông nghịt những gã gác cổng tay kẹp sổ sách đang lên xuống tấp nập, những viên cảnh sát và đủ mọi thành phần nam thanh nữ tú. Cửa văn phòng cũng mở toang hoác. Những người nông dân đang đứng chờ bên trong. Ở đó, không khí ngột ngạt đến ngộp thở cùng với mùi sơn mới và dầu hắc cũ nồng nặc đến phát nôn bốc lên từ những căn phòng vừa mới được sửa sang.
Đứng chờ một lát, anh quyết định bước tiếp vào căn phòng kế tiếp. Tất cả các phòng đều nhỏ và trần thấp. Sự nôn nóng tột cùng cứ giục giã anh bước mãi bước hoài. Chẳng ai thèm để ý đến anh. Ở căn phòng thứ hai, một vài viên thư ký đang cồi cụi viết lách, ăn mặc chẳng khá hơn anh là bao và trông có vẻ khá kỳ dị. Anh tiến lại gần một người trong số họ.
“Có chuyện gì thế?”
Anh chìa tờ giấy triệu tập vừa nhận được ra.
“Cậu là sinh viên à?” gã đó hỏi, liếc mắt nhìn tờ giấy.
“Vâng, trước đây là sinh viên.”
Viên thư ký nhìn anh nhưng chẳng hề lộ chút quan tâm nào. Gã có vẻ ngoài cực kỳ nhếch nhác với ánh mắt đờ đẫn của một kẻ đang ám ảnh bởi một ý nghĩ cố định.
“Sẽ chẳng moi được gì từ gã này đâu, vì hắn chẳng quan tâm đến bất cứ thứ gì trên đời,” Raskolnikov thầm nghĩ.
“Vào trong kia gặp viên chánh văn phòng ấy,” gã thư ký nói, hất hàm chỉ về phía căn phòng trong cùng.
Anh bước vào căn phòng đó—căn phòng thứ tư theo thứ tự; đây là một căn phòng nhỏ chật ních người, ăn mặc chỉnh tề hơn mấy phòng bên ngoài một chút. Trong số đó có hai phụ nữ. Một người ăn mặc nghèo nàn để tang, đang ngồi bên bàn đối diện với chánh văn phòng, cặm cụi viết theo lời đọc của hắn ta. Người kia là một phụ nữ dáng người rất đẫy đà, phì nhiêu với khuôn mặt đỏ bầm lấm tấm vết nám, ăn diện cực kỳ chải chuốt gài chiếc trâm cài áo to bằng cái đĩa sa-lát trước ngực, đang đứng một bên có vẻ như đang chờ đợi điều gì. Raskolnikov liền chìa tờ giấy triệu tập cho chánh văn phòng. Hắn liếc nhìn qua, bảo: “Chờ một lát,” rồi tiếp tục quay sang giải quyết công việc cho người phụ nữ đang chịu tang.
Anh thấy dễ thở hơn chút ít.
Dần dần, anh bắt đầu lấy lại được sự tự tin, anh tự nhủ phải thật can đảm và bình tĩnh.
“Chỉ vì một chút ngốc nghếch, một chút sơ suất cỏn con mà ta có thể tự bán đứng mình sao! Hừ... tiếc là ở đây chẳng có tí không khí nào,” anh thầm rủa, “ngột ngạt quá... Đầu óc lại càng quay cuồng hơn... cả tư duy nữa chứ...”
Anh cảm nhận được một cơn bão táp tột cùng đang cuộn trào trong lồng ngực. Anh sợ mình sẽ mất đi sự tự chủ; anh cố bấu víu vào điều gì đó và tập trung tâm trí vào nó, một thứ hoàn toàn chẳng dính dáng gì đến chuyện này, nhưng hoàn toàn thất bại. Dù vậy, viên chánh văn phòng vẫn khiến anh rất chú ý, anh cứ ôm hy vọng có thể nhìn thấu con người hắn và đoán biết điều gì đó qua nét mặt.
Hắn là một thanh niên rất trẻ, chừng đôi mươi, với gương mặt ngăm đen linh hoạt trông già dặn hơn tuổi. Hắn ăn mặc theo mốt và chải chuốt điệu đà, tóc chẻ ngôi giữa, chải mượt pomat, ngón tay trắng trẻo đeo đầy nhẫn và trên áo ghi-lê có đeo một sợi dây chuyền vàng. Hắn thốt ra vài từ tiếng Pháp khá chuẩn với một người nước ngoài đang có mặt trong phòng.
“Luise Ivanovna, cô có thể ngồi xuống,” hắn thản nhiên nói với người phụ nữ ăn diện lòe loẹt mặt đỏ bầm vẫn đang đứng lì như thể không dám ngồi dù chiếc ghế bên cạnh đang để trống.
“Ich danke,” người phụ nữ đáp, rồi khe khẽ sột soạt tà áo lụa ngồi sụp xuống ghế. Chiếc váy màu xanh nhạt viền ren trắng bồng bềnh quanh chiếc bàn trông hệt như một quả khinh khí cầu và chiếm gần nửa căn phòng. Người cô ta sực nức mùi nước hoa. Nhưng rõ ràng cô ta rất bẽn lẽn vì chiếm mất nửa phòng và tỏa ra mùi nước hoa nồng nặc như thế; và dù nụ cười vừa có vẻ trơ trẽn vừa khép nép của cô ta đã tố cáo rõ sự bất an tột độ.
Người phụ nữ để tang cuối cùng cũng viết xong và đứng dậy. Bỗng nhiên, với một tiếng động mạnh, một viên sĩ quan bước vào rất hiên ngang, với cái nhún vai đặc trưng ở mỗi bước chân. Hắn ném chiếc mũ có quân hiệu lên bàn rồi ngả người ngồi phịch xuống chiếc bành ky. Người phụ nữ diêm dúa suýt nhảy dựng lên khỏi ghế khi nhìn thấy hắn, rồi sụp xuống nhún gối chào với vẻ đê mê cuồng nhiệt; thế nhưng viên sĩ quan chẳng thèm đếm xỉa gì đến cô ta, và cô ta cũng chẳng dám ngồi xuống trước mặt hắn nữa. Hắn là phó thanh tra. Hắn có bộ râu mép hung đỏ chĩa thẳng sang hai bên và những đường nét trên khuôn mặt vô cùng nhỏ gọn, chẳng biểu lộ điều gì ngoài vẻ xấc láo trơ trẽn. Hắn liếc xéo Raskolnikov với vẻ bất bình; hắn ăn mặc quá ư tồi tàn, thế nhưng bất chấp hoàn cảnh nhục nhã ấy, phong thái của anh ta lại chẳng hề ăn nhập chút nào với bộ dạng nghèo hèn đó. Raskolnikov đã vô tình dán chặt ánh mắt thẳng thừng và đầy soi mói vào hắn, khiến viên phó thanh tra cảm thấy bị xúc phạm thực sự.
“Mày muốn gì?” hắn quát lên, có lẽ ngạc nhiên vì một tên rách rưới như thế lại không chịu khuất phục trước uy nghi của cái nhìn từ hắn.
“Tôi được triệu tập... theo một tờ giấy...” Raskolnikov ấp úng.
“Vụ đòi tiền nợ của tên sinh viên,” viên chánh văn phòng vội vã xen vào, rời mắt khỏi đống giấy tờ. “Đây này!” và hắn ném cho Raskolnikov một văn bản, chỉ tay vào một chỗ. “Đọc đi!”
“Tiền? Tiền nào cơ chứ?” Raskolnikov thầm nghĩ, “nhưng mà... thế thì... chắc chắn không phải chuyện kia rồi.”
Và anh run lên vì sung sướng. Anh cảm thấy một sự nhẹ nhõm khôn tả đột ngột dâng trào. Cả một tảng đá đè nặng trên vai bỗng chốc được nhấc bổng.
“Và thưa ngài, ngài được yêu cầu có mặt vào lúc mấy giờ hả?” viên phó thanh tra quát lên, vì một lý do quái quỷ nào đó càng lúc càng tỏ ra bực bội hơn. “Người ta bảo mày đến từ lúc chín giờ, mà bây giờ đã là mười hai giờ rồi đấy!”
“Tờ giấy triệu tập mới chỉ được mang đến cho tôi cách đây đúng mười lăm phút,” Raskolnikov lớn tiếng đáp lại qua vai. Trái với dự tính của chính mình, anh cũng bỗng nhiên nổi giận và cảm thấy trong đó có một sự hả hê kỳ lạ. “Và việc tôi lết cái thân hình ốm đau vì sốt đến được đây là đủ lắm rồi.”
“Xin vui lòng đừng có lớn tiếng ở đây!”
“Tôi không lớn tiếng, tôi đang nói rất nhỏ nhẹ, chính các ông mới là kẻ đang quát vào mặt tôi. Tôi là sinh viên, và không cho phép bất cứ ai được phép quát nạt mình.”
Viên phó thanh tra tức giận đến mức trong phút đầu tiên hắn chỉ biết ú ớ không thành lời. Hắn vùng dậy khỏi ghế.
“Im ngay! Mày đang đứng trong cơ quan chính phủ đấy. Đừng có hỗn láo, hả!”
“Ông cũng đang ở trong cơ quan chính phủ đấy thôi,” Raskolnikov thét lên, “vậy mà ông vừa hút thuốc vừa quát tháo cơ đấy, thế tức là ông đang tỏ thái độ bất kính với tất cả chúng tôi ở đây.”
Anh cảm thấy sự thỏa mãn vô bờ bến vì đã thốt ra được câu nói đó.
Viên chánh văn phòng mỉm cười nhìn anh. Viên phó thanh tra đang giận tím mặt rõ ràng là lúng túng thấy rõ.
“Đấy không phải là việc của mày!” cuối cùng hắn hét lên với âm lượng lớn một cách bất thường. “Làm ơn khai báo theo đúng những gì được yêu cầu đi. Đưa cho hắn xem đi, Alexandr Grigorievitch. Có đơn kiện mày đấy! Mày không chịu trả nợ! Đẹp mặt nhỉ, cái giống nhà mày!”
Nhưng Raskolnikov lúc này chẳng thèm bận tâm nghe nữa; anh háo hức chộp lấy tờ giấy, hòng tìm kiếm một lời giải thích. Anh đọc lại lần thứ nhất, rồi lần thứ hai, mà vẫn chẳng tài nào hiểu nổi.
“Cái quái gì thế này?” anh hỏi viên chánh văn phòng.
“Đơn đòi nợ theo giấy nhận nợ, trát đòi hầu tòa. Anh bắt buộc phải trả toàn bộ số tiền kèm theo mọi khoản chi phí, án phí, vân vân; hoặc phải viết giấy cam kết khi nào có khả năng thanh toán, đồng thời phải cam đoan không được rời khỏi kinh đô khi chưa trả nợ, không được bán hay tẩu tán tài sản. Chủ nợ có quyền phát mại tài sản của anh và kiện anh ra tòa theo đúng luật định.”
“Nhưng tôi... có nợ nần ai đâu cơ chứ!”
“Đó không phải việc của chúng tôi. Ở đây có một giấy nhận nợ một trăm mười lúp, đã được công chứng hợp pháp, đến hạn thanh toán và đã được giao cho chúng tôi để đòi nợ, do chính anh ký nhận cho góa phụ Zarnitxyn—vợ của viên cố vấn—từ chín tháng trước, và giấy nợ này đã được bà góa phụ Zarnitxyn chuyển nhượng lại cho ngài Tchebarov. Do đó chúng tôi mới triệu tập anh đến đây.”
“Nhưng mụ ta là chủ nhà của tôi cơ mà!”
“Thì sao chứ, dẫu mụ ta có là chủ nhà của anh đi nữa thì liên quan gì?”
Viên chánh văn phòng nhìn anh với nụ cười thương hại đầy bề trên, đồng thời phảng phất nét đắc thắng như đang nhìn một tân binh mới ra trận lần đầu—hắn như muốn nói: “Thế nào, thấy cảm giác ra sao rồi hả?” Nhưng lúc này thì giấy nhận nợ với trát đòi tòa quái gì chứ! Có đáng để bận tâm hay thậm chí để mắt tới nữa đâu cơ chứ! Anh đứng đó, anh đọc, anh lắng nghe, anh đáp lời, thậm chí tự mình đặt câu hỏi, nhưng tất cả đều diễn ra như một cỗ máy. Cảm giác đắc thắng của sự an toàn, sự giải thoát khỏi mối hiểm nguy tột cùng—đó mới là thứ đang ngập tràn trong tâm can anh lúc này mà chẳng màng tới tương lai, chẳng cần phân tích, chẳng giả định hay suy đoán, không mảy may nghi ngờ hay thắc mắc. Đó là khoảnh khắc của niềm vui trọn vẹn, trực diện và thuần túy bản năng. Thế nhưng ngay đúng lúc ấy, một trận cuồng phong bỗng bùng nổ ngay trong văn phòng. Viên phó thanh tra, vẫn chưa hết bàng hoàng vì sự bất kính của Raskolnikov, vẫn đang hậm hực và rõ ràng muốn vớt vát lại sĩ diện bị tổn thương của mình, đã chồm tới trút giận lên đầu người đàn bà diêm dứa khốn khổ—người vẫn đang ngước nhìn hắn từ nãy đến giờ với một nụ cười đần độn đến tội nghiệp.
“Đồ đĩ tồi tệ!” bỗng hắn gào lên hết cỡ. (Người phụ nữ để tang đã rời khỏi phòng từ trước.) “Đêm qua ở nhà mày xảy ra chuyện quái quỷ gì thế hả? Hả! Lại một vụ nhục nhã nữa, mày là cái gai gây nhơ nhuốc cho cả con phố này rồi. Lại đánh nhau với say xỉn à. Mày có muốn vào trại cải tạo không hả? Tao đã cảnh cáo mày mười lần rồi là không có cái chuyện tao bỏ qua đến lần thứ mười một đâu đấy nhé! Mà mày vẫn chứng nào tật nấy, lại còn... lại còn...!”
Tờ giấy tuột khỏi tay Raskolnikov, và anh ngây người nhìn mụ đàn bà diêm dứa đang bị đối xử một cách thô bạo. Nhưng anh nhanh chóng hiểu ra cơ sự, và lập tức cảm thấy vụ bê bối này thật buồn cười làm sao. Anh lắng nghe với sự thích thú đến mức chỉ muốn cười vang lên ha hả... mọi dây thần kinh trong người anh đều căng cứng.
“Ilya Petrovitch!” viên chánh văn phòng lo lắng mở lời, nhưng ngậm miệng lại ngay vì thừa kinh nghiệm biết rằng chẳng thứ gì có thể ngăn chặn vị phó thanh tra đang nổi đóa ngoài vũ lực.
Còn về phần mụ đàn bà diêm dứa, thoạt đầu cô ta run lẩy bẩy trước cơn thịnh nộ. Nhưng kỳ lạ thay, những lời lăng mạ càng dày đặc và hung hãn bao nhiêu, trông cô ta lại càng ra chiều thân thiện bấy nhiêu, và những nụ cười đưa tình cô ta dành cho viên cảnh sát đáng sợ lại càng quyến rũ bấy nhiêu. Cô ta thấp thỏm không yên, nhún gối liên hồi, sốT sắng chờ đợi cơ hội để chen mồm vào: và cuối cùng thì cô ta cũng chớp được thời cơ.
“Nhà tôi chẳng hề có tiếng ồn hay đánh nhau gì sất, thưa ngài Đại úy,” cô ta tuôn một tràng nhanh như rổ đậu rơi, nói tiếng Nga rất rành rọt dù mang nặng âm sắc Đức, “và chẳng có vụ bê bối nào cả, chính ngài ấy đến trong tình trạng say khướt, và tôi xin thề là tôi nói toàn bộ sự thật, thưa ngài Đại úy, và tôi hoàn toàn vô can... Nhà của tôi là một căn nhà đàng hoàng, thưa ngài Đại úy, cách cư xử cũng vô cùng đàng hoàng, thưa ngài Đại úy, và bản thân tôi luôn luôn, lúc nào cũng ghét cay ghét đắng mọi tai tiếng. Thế nhưng ngài ấy xông vào trong tình trạng say khướt mèm, lại còn đòi thêm ba chai nữa, rồi ngài ấy giơ một chân lên, bắt đầu dùng một chân để chơi dương cầm, mà như thế thì hoàn toàn không đúng phép tắc trong một nhà đàng hoàng chút nào, và ngài ấy đã làm hỏng bét cả chiếc đàn, tệ hại không tả nổi và tôi đã phải nói thẳng ra như thế. Thế rồi ngài ấy vớ lấy một chai rượu định tẩn tất cả mọi người. Lúc đó tôi mới gọi lão gác cổng, rồi Karl chạy đến, thế là ngài ấy tóm lấy Karl đấm thẳng vào mắt nó; rồi ngài ấy cũng đấm Henriette tím cả mắt, lại còn giáng cho tôi tận năm cái tát vào mặt nữa chứ. Xử sự như thế thật là bất lịch sự đối với một gia đình tử tế, thưa ngài Đại úy, thế nên tôi mới phải la làng lên. Rồi ngài ấy mở cửa sổ hướng ra kênh đào, đứng trơ ra ở đó, tru tréo lên như một con lợn con; thật là mất thể diện hết chỗ nói. Ai đời lại đi tru tréo như heo con ngoài cửa sổ nhìn ra đường phố cơ chứ! Thật đáng xấu hổ cho ngài ấy thay! Thế rồi Karl phải lôi ngài ấy rời khỏi cửa sổ bằng cách túm áo, và đúng là như vậy đấy, thưa ngài Đại úy, Karl đã làm rách cái sein rock (áo khoác) của ngài ấy. Thế rồi ngài ấy gào lên rằng man muss (phải) đền cho ngài ấy mười lăm lúp tiền bồi thường thiệt hại. Và tôi đã đền rồi đấy, thưa ngài Đại úy, năm lúp cho cái sein rock của ngài ấy. Ngài ấy đúng là một vị khách vô lại chẳng ra gì và là kẻ gây ra toàn bộ vụ náo loạn này. ‘Tao sẽ bêu rếu tụi mày,’ ngài ấy nói thế, ‘vì tao có thể viết bài đăng lên mọi tờ báo về tụi mày’ cơ đấy.”
“Thế ra hắn ta là nhà văn à?”
“Vâng, thưa ngài Đại úy, và đúng là một vị khách vô học trong một ngôi nhà đàng hoàng...”
“Thôi đi! Đủ lắm rồi! Tao đã bảo mày rồi đấy...”
“Ilya Petrovitch!” viên chánh văn phòng nháy mắt nhắc nhở đầy ngụ ý.
Viên phó thanh tra liếc nhanh sang hắn; viên chánh văn phòng khẽ lắc đầu.
“... Cho nên ta nói cho mày biết điều này, Luise Ivanovna đáng kính ạ, và đây là lần cuối cùng ta cảnh cáo mày,” viên phó thanh tra tiếp tục. “Nếu cái nhà đàng hoàng của mày mà còn xảy ra chuyện lôi thôi lếch thếch một lần nữa, chính mày sẽ phải vào buồng giam tối đấy, theo cách gọi lịch sự của xã hội thượng lưu. Mày có nghe rõ không hả? Thế hóa ra một nhà văn, một tác giả lại đi ăn vạ năm lúp tiền vạt áo trong một ‘ngôi nhà đàng hoàng’ cơ đấy? Đúng là một lũ văn nhân khốn kiếp!”
Và hắn ném một cái nhìn khinh miệt về phía Raskolnikov. “Mới hôm nọ trong một nhà hàng cũng xảy ra một vụ tương tự. Một tên nhà văn ăn xong bữa tối mà trơ tráo không chịu trả tiền; ‘Tao sẽ viết bài châm biếm tụi bay,’ hắn ta bảo thế. Rồi tuần trước lại thêm một tên nữa trên tàu thủy đã dùng những lời lẽ vô văn hóa nhất xúc phạm đến gia đình đáng kính của một viên cố vấn dân sự, vợ và con gái ông ta. Rồi mới đợt rồi có một tên bị đuổi cổ khỏi tiệm bánh ngọt. Bọn chúng đấy, toàn nhà văn với chánh văn phòng, sinh viên với loa phường... Phì! Biến đi cho khuất mắt tao! Có ngày tao sẽ tự mình ghé qua cái nhà của tụi mày đấy. Lúc đó thì liệu hồn mà cẩn thận! Nghe rõ chưa?”
Với vẻ kính cẩn vội vã, Luise Ivanovna liên tục nhún gối chào tứ phía, và cứ thế lùi dần ra cửa. Nhưng vừa đến cửa, cô ta va phải một viên sĩ quan ưa nhìn với gương mặt tươi tắn, cởi mở và bộ ria mép vàng dày dặn tuyệt đẹp. Đó chính là chánh thanh tra quận, Nikodim Fomitch. Luise Ivanovna vội vã nhún gối chào gần sát đất, rồi với những bước chân lúng túng uốn éo, cô ta uyển chuyển chuồn khỏi văn phòng.
“Lại sấm chớp với bão táp nữa rồi!” Nikodim Fomitch cất tiếng bằng giọng điệu lịch thiệp và thân thiện với Ilya Petrovitch. “Cậu lại nổi đóa lên rồi đấy, lại bốc hỏa rồi đấy! Tớ nghe thấy tiếng từ tận ngoài cầu thang cơ đấy!”
“Thì sao nào!” Ilya Petrovitch kéo dài giọng với vẻ bất cần đời của một quý tộc; hắn bước đến chiếc bàn khác cùng với mấp máy xấp giấy tờ trên tay, kèm theo cái nhún vai hiên ngang ở mỗi bước chân. “Đây này, nếu ngài vui lòng liếc qua xem: một nhà văn, hay chí ít cũng từng là sinh viên, nợ đần không chịu trả, viết giấy nhận nợ rồi lì lợm không chịu dọn đi, đơn khiếu nại cứ nộp lên dồn dập, và thế mà hắn ta lại dám cả gan đứng lên phàn nàn việc tôi hút thuốc trước mặt hắn đấy! Bản thân cư xử chẳng khác gì đồ vô lại, mà ngài cứ nhìn hắn ta mà xem. Kìa, nhân vật bảnh bao đây rồi đấy!”
“Nghèo đói không phải là cái tội đâu anh bạn ạ, nhưng tụi tớ lạ gì cái tính dễ nổ như thuốc súng của cậu, chẳng chịu nổi một chút phật ý nào đâu, chắc là cậu lại tự ái rồi làm quá lên chứ gì,” Nikodim Fomitch tiếp tục, quay sang Raskolnikov với vẻ niềm nở. “Nhưng cậu sai rồi đấy; cậu ta thực ra là một gã tuyệt vời, tớ đảm bảo đấy, chỉ có cái là dễ nổi đóa, cực kỳ dễ nổ! Nóng tính, bốc đồng, sôi máu lên là chẳng ai cản nổi! Nhưng rồi đâu lại vào đấy ấy mà! Suy cho cùng thì hắn ta có một trái tim bằng vàng! Hồi trong quân ngũ, biệt danh của hắn ta là Trung úy Bộc Phá cơ mà...”
“Mà cái trung đoàn hồi đó cũng thật quái quỷ,” Ilya Petrovitch thốt lên, vô cùng thỏa mãn trước lời trêu chọc dễ nghe này dù mặt vẫn còn phụ nữ hờn dỗi.
Raskolnikov bỗng nhiên có mong muốn thốt ra một điều gì đó đặc biệt dễ nghe với tất cả bọn họ. “Xin lỗi ngài Đại úy,” anh bắt đầu với thái độ thoải mái, bất ngờ hướng về phía Nikodim Fomitch, “ngài có thể đặt mình vào hoàn cảnh của tôi không?... Tôi sẵn sàng xin lỗi nếu mình đã cư xử vô lễ. Tôi chỉ là một sinh viên nghèo túng, ốm yếu và bị sự nghèo đói bóp nghẹt (từ ‘bóp nghẹt’ là từ anh đã dùng). Tôi hiện không thể tiếp tục việc học vì không thể tự lo nổi cho bản thân, nhưng tôi sẽ sớm có tiền thôi... Tôi có mẹ và em gái ở tỉnh X. Họ sẽ gửi tiền lên cho tôi, và tôi sẽ thanh toán sòng phẳng. Chủ nhà của tôi là một người phụ nữ tốt bụng, nhưng vì quá bực bội chuyện tôi đã mất hết học trò gia sư và không trả nổi tiền nhà suốt bốn tháng qua, nên mụ ta thậm chí chẳng thèm dọn cơm lên cho tôi ăn nữa... và tôi hoàn toàn chẳng hiểu cái giấy nhận nợ quái quỷ này là thế nào cả. Mụ ta đang đòi tôi thanh toán theo tờ giấy nợ đó. Lấy gì ra để trả đây? Xin các ngài tự phán xét xem nào!...”
“Nhưng đó không phải là việc của chúng tôi, cậu biết đấy,” viên chánh văn phòng xen vào.
“Vâng, vâng. Tôi hoàn toàn đồng ý với ngài. Nhưng xin cho phép tôi được giải thích...” Raskolnikov lại chen vào, vẫn hướng về Nikodim Fomitch nhưng cố hết sức để ngó sang cả Ilya Petrovitch—dù gã sau cứ kiên quyết cắm cúi lục lọi đống giấy tờ và phớt lờ anh với vẻ khinh miệt. “Xin cho phép tôi được giãi bày rằng tôi đã trọ ở nhà mụ ta ngót nghét ba năm nay và thuở ban đầu... ban đầu... hà cớ gì mà tôi phải giấu giếm, ngay từ lúc mới bắt đầu, tôi đã hứa sẽ cưới con gái mụ, đó là một lời hứa miệng, hoàn toàn tự nguyện... cô bé ấy là một thiếu nữ... thực tình tôi cũng có cảm tình với cô ấy, dẫu không hẳn là yêu say đắm... tóm lại chỉ là chuyện bồng bột tuổi trẻ mà thôi... nghĩa là ý tôi muốn nói là, hồi đó chủ nhà cho tôi thiếu nợ rất thoải mái, và tôi sống một cuộc đời... rất đỗi vô tư...”
“Chẳng ai hỏi cậu mấy cái chi tiết cá nhân lôi thôi này cả, chúng tôi không có thời gian để lãng phí đâu,” Ilya Petrovitch thô lỗ ngắt lời với giọng điệu đắc thắng; nhưng Raskolnikov gay gắt chặn họng hắn lại, dù bỗng nhiên anh thấy việc thốt ra lời trở nên vô cùng khó khăn.
“Nhưng xin ngài hãy nghe tôi, xin hãy nghe tôi. Tôi phải giải thích... mọi chuyện đã diễn ra thế nào... Theo lẽ của tôi... dù tôi đồng ý với các ngài... là không cần thiết. Nhưng cách đây một năm, cô bé ấy mất vì bệnh sốt phát ban. Tôi vẫn tiếp tục ở trọ đó như trước, và khi chủ nhà chuyển đến căn hộ hiện tại, mụ ta đã bảo với tôi rằng... bằng một giọng điệu rất thân tình... rằng mụ hoàn toàn tin tưởng tôi, nhưng dẫu sao đi nữa, tôi có thể viết cho mụ một giấy nhận nợ một trăm mười lúp, tổng số tiền tôi còn thiếu mụ được không. Mụ bảo chỉ cần tôi đưa cho mụ tờ giấy đó, mụ sẽ lại tin tưởng tôi bao nhiêu tùy thích, và mụ sẽ không bao giờ, không bao giờ—đó là nguyên văn lời mụ—mang tờ giấy nợ đó ra sử dụng cho đến khi nào tôi có khả năng tự trả... và giờ đây, khi tôi đã mất hết học trò và chẳng có gì để ăn, mụ lại đi kiện tôi ra tòa. Tôi phải nói sao đây về chuyện này?”
“Tất cả mấy cái chi tiết cảm lụy vớ vẩn ấy chẳng dính dáng gì đến việc của chúng tôi cả,” Ilya Petrovitch thô lỗ cắt ngang. “Cậu bắt buộc phải viết giấy cam kết, còn chuyện tình cảm hay mấy thứ kịch tính của cậu thì mặc kệ cậu, chúng tôi chẳng quan tâm.”
“Thôi nào... cậu khắc nghiệt quá đấy,” Nikodim Fomitch lẩm bẩm, ngồi xuống bàn và cũng bắt đầu cầm bút viết. Trông ông ta có vẻ hơi ngượng ngùng.
“Viết đi!” viên chánh văn phòng bảo Raskolnikov.
“Viết cái gì?” anh cộc cằn hỏi lại.
“Tôi đọc cho cậu viết.”
Raskolnikov lờ mờ cảm thấy viên chánh văn phòng đối xử với mình có phần cợt nhả và khinh mỉa hơn sau bài phát biểu vừa rồi, nhưng kỳ lạ thay, anh bỗng thấy hoàn toàn dửng dưng trước ý kiến của bất kỳ ai, và sự biến chuyển tâm lý ấy diễn ra chỉ trong chớp mắt, trong một khoảng khắc. Giả sử lúc đó mà có hứng suy ngẫm một chút, hẳn anh sẽ phải kinh ngạc vì sao mình lại có thể tuôn ra những lời lẽ như thế với bọn họ chỉ cách đó một phút trước, lại còn trơ trẽn áp đặt cảm xúc của mình lên họ nữa chứ. Mà những cảm xúc ấy từ đâu ra cơ chứ? Giờ đây, nếu căn phòng này không chứa đầy cảnh sát mà thay vào đó là những người thân thiết nhất, ruột thịt nhất của anh, thì anh cũng chẳng thể thốt ra lấy nổi một lời người với họ, bởi cõi lòng anh lúc này đã trống rỗng hoàn toàn. Một cảm giác u ám về sự cô độc đớn đau, vĩnh cửu và xa cách vô tận đang hình thành rõ rệt trong tâm hồn anh. Không phải sự hèn mọn từ những lời tâm sự sướt mướt trước mặt Ilya Petrovitch, cũng chẳng phải sự đắc thắng hèn hạ của gã kia đã gây ra cú sốc tâm lý bất ngờ này trong lòng anh. Ồ, lúc này thì anh còn bận tâm gì đến sự hèn kém của bản thân, đến mấy thứ hư danh vặt vãnh, mấy gã sĩ quan, mụ đàn bà Đức, mấy món nợ nần hay đồn cảnh sát nữa chứ? Giả như lúc ấy anh bị kết án hỏa thiêu, chắc anh cũng chẳng buồn nhúc nhích, thậm chí chẳng thèm nghe hết câu tuyên án cho trót. Một điều gì đó hoàn toàn mới mẻ, bất ngờ và vô danh đang xảy ra với chính cơ thể anh. Không phải là anh hiểu, mà là anh cảm nhận rõ rệt bằng toàn bộ cường độ giác quan rằng anh sẽ chẳng bao giờ có thể cầu cứu những con người ở đồn cảnh sát này bằng những lời lẽ sướt mướt như màn vừa rồi, hay bằng bất cứ thứ gì khác nữa; và rằng giả sử họ có là anh em ruột thịt đi chăng nữa chứ không phải lũ cảnh sát, thì việc mở lời cầu cứu họ trong bất kỳ hoàn cảnh nào của cuộc đời cũng là điều tuyệt đối không thể tưởng tượng nổi. Anh chưa bao giờ trải qua một cảm giác kỳ lạ và khủng khiếp đến nh thế. Và điều đau đớn nhất—đó là một cảm giác nhiều hơn là một khái niệm hay tư duy, một cảm giác trực diện, đớn đau nhất trong tất cả những đớn đau mà anh từng nếm trải trong đời.
Viên chánh văn phòng bắt đầu đọc cho anh viết theo mẫu khai báo thông thường: rằng anh không có khả năng chi trả, rằng anh cam kết sẽ thanh toán vào một thời điểm trong tương lai, rằng anh sẽ không rời khỏi thành phố, không tẩu tán tài sản, vân vân.
“Nhưng cậu có viết được đâu, cầm bút còn chẳng vững cơ mà,” viên chánh văn phòng nhận xét, tò mò nhìn Raskolnikov. “Cậu ốm đấy phỏng?”
“Vâng, tôi bị hoa mắt. Cứ đọc tiếp đi!”
“Xong rồi đấy. Ký tên đi.”
Viên chánh văn phòng cầm lấy tờ giấy, quay người giải quyết công việc cho những người khác.
Raskolnikov trả lại chiếc bút; nhưng thay vì đứng dậy bỏ đi, anh chống hai khuỷu tay lên bàn rồi dùng hai tay ôm chặt lấy đầu. Anh có cảm giác như có một chiếc đinh đang được đóng thẳng vào hộp sọ. Một ý nghĩ kỳ lạ bất chợt lóe lên trong đầu: đứng dậy ngay lập tức, bước tới gặp Nikodim Fomitch và khai sạch mọi chuyện đã xảy ra ngày hôm qua, rồi cùng ông ta về trọ để chỉ cho ông ta thấy đống tang vật giấu trong cái lỗ ở góc tường. Thôi thúc ấy mạnh mẽ đến mức anh chồm hẳn người khỏi ghế để thực hiện. “Hay là nghĩ lại một phút đã nhỉ?” ý nghĩ ấy xẹt qua tâm trí anh. “Không, tốt hơn là vứt bỏ gánh nặng này đi mà chẳng cần suy nghĩ gì sất.” Nhưng ngay lập tức, anh đứng sững lại, chân chôn chặt xuống nền nhà. Nikodim Fomitch đang hăng say trò chuyện với Ilya Petrovitch, và những lời nói ấy lọt vào tai anh:
“Không thể nào đâu, thế nào bọn họ cũng được thả thôi. Trước hết, toàn bộ câu chuyện tự mâu thuẫn lẫn nhau. Tại sao họ lại phải gọi lão gác cổng nếu chính họ là thủ phạm cơ chứ? Để tự tố cáo mình à? Hay để đánh lạc hướng? Không, thế thì ranh ma quá mức! Hơn nữa, Pestryakov—tên sinh viên ấy—đã bị cả lão gác cổng lẫn một người phụ nữ nhìn thấy ở cổng khi hắn bước vào. Hắn đi cùng ba người bạn, và họ chỉ chia tay hắn ngay tại cổng, hắn còn nhờ lão gác cổng chỉ đường trước mặt nhóm bạn nữa cơ mà. Thử hỏi liệu một kẻ đang mưu tính chuyện đó có dại dột đi hỏi đường không? Còn về phần Koch, hắn ta đã la cà mất nửa tiệm kim hoàn ở tầng dưới trước khi bước lên lầu tìm mụ già, và hắn rời đi đúng vào lúc bảy giờ kém mười lăm. Bây giờ cậu cứ ngẫm xem...”
“Nhưng xin lỗi ngài, ngài giải thích mâu thuẫn này thế nào đây? Chính họ khai rằng họ đã gõ cửa và cửa bị khóa; thế mà chỉ ba phút sau khi họ quay lại cùng lão gác cổng thì hóa ra cửa lại không hề chốt.”
“Đấy chính là mấu chốt; hung thủ chắc chắn đã ở trong phòng và tự chốt cửa lại bên trong; và thế nào chúng cũng tóm được hắn chắc chắn rồi nếu Koch không phải là một thằng đần khi chạy đi tìm cả lão gác cổng nữa. Hắn ta đã chớp lấy khoảng thời gian trống đó để chuồn xuống cầu thang và lẻn qua mặt họ bằng cách nào đó. Lão Koch cứ suýt xoa cầu nguyện mãi và bảo: ‘Giờ mà tao ở đấy, thế nào hắn cũng nhảy bổ ra dùng rìu kết liễu tao rồi.’ Lão ta đang định làm lễ tạ ơn kìa—ha ha!”
“Và không ai nhìn thấy hung thủ ư?”
“Họ hoàn toàn có thể không nhìn thấy chứ; cái nhà đấy chẳng khác nào chiếc tàu Nô-ê,” viên chánh văn phòng đang chăm chú lắng nghe bèn xen vào.
“Rõ ràng, quá rõ ràng rồi còn gì,” Nikodim Fomitch hào hứng lặp lại.
“Không, chẳng có gì là rõ ràng cả,” Ilya Petrovitch khăng khăng.
Raskolnikov cúi xuống nhặt chiếc mũ rồi bước về phía cửa, nhưng anh chưa kịp chạm tới nó...
Khi tỉnh lại, anh thấy mình đang ngồi trên một chiếc ghế, có ai đó đang đỡ lấy bên phải, trong khi một người khác đứng bên trái đang cầm một chiếc cốc ngả vàng đựng đầy nước màu vàng, còn Nikodim Fomitch thì đang đứng trước mặt, đăm đăm nhìn anh. Anh lồm cồm đứng dậy khỏi ghế.
“Thế nào rồi? Cậu ốm à?” Nikodim Fomitch hỏi, giọng có phần gay gắt.
“Lúc ký tên cậu ta suýt nữa thì cầm bút không nổi,” viên chánh văn phòng nói, ngả người về chỗ cũ và tiếp tục cắm cúi làm việc.
“Cậu bị ốm từ bao giờ thế?” Ilya Petrovitch hét lên từ chỗ ngồi của mình, nơi hắn cũng đang lật giật xấp giấy tờ. Dĩ nhiên là hắn đã bước ra xem gã đàn ông ốm yếu ngất xỉu kia thế nào, nhưng lại quay ngoắt về chỗ ngay khi anh ta tỉnh lại.
“Từ hôm qua,” Raskolnikov thều thào đáp.
“Hôm qua cậu có ra ngoài không?”
“Có.”
“Dù đang ốm ư?”
“Vâng.”
“Mấy giờ?”
“Khoảng bảy giờ.”
“Và cậu đã đi đâu, xin phép được hỏi?”
“Dọc theo con phố.”
“Ngắn gọn và rõ ràng gớm nhỉ.”
Raskolnikov, mặt cắt không còn giọt máu, đã đáp lại một cách cộc lốc, trống không, mà không hề chớp mắt né tránh ánh nhìn sốT sắng rực lửa của Ilya Petrovitch.
“Đứng còn chẳng nổi thế này. Thế mà cậu...” Nikodim Fomitch toan nói tiếp.
“Mặc kệ hắn,” Ilya Petrovitch cất giọng có phần kỳ lạ.
Nikodim Fomitch định phản đối thêm câu nữa, nhưng liếc thấy viên chánh văn phòng đang trừng trừng nhìn mình nên đành thôi. Bỗng một sự im lặng bao trùm. Thật kỳ lạ.
“Thôi được rồi,” Ilya Petrovitch kết luận, “chúng tôi không giữ cậu lại nữa.”
Raskolnikov bước ra ngoài. Anh văng vẳng nghe thấy những âm thanh bàn tán sôi nổi rộ lên sau lưng, và nổi bật hơn cả là giọng hỏi han của Nikodim Fomitch. Ra đến ngoài đường, cơn choáng váng của anh biến mất hoàn toàn.
“Khám xét—sẽ có một cuộc lục soát ngay lập tức cho mà xem,” anh lẩm bẩm với chính mình khi rảo bước chạy về nhà. “Đồ khốn kiếp! Bọn chúng đã hoài nghi rồi.”
Nỗi kinh hoàng ban đầu lại một lần nữa bủa vây lấy tâm trí anh toàn tập.