Hắn trải qua buổi tối hôm ấy cho đến tận mười giờ để lang thang từ chốn ăn chơi thấp kém này đến chốn khác. Katia cũng xuất hiện và hát một bài ca đường phố khác, về việc một kẻ
“phản diện và bạo chúa nào đó”
“bắt đầu hôn Katia.”
Svidrigaïlov khoản đãi Katia, người kéo đàn phong cầm, dăm ca sĩ, các bồi bàn cùng hai viên tiểu công chức. Hắn bị thu hút đặc biệt bởi hai viên công chức này ở chỗ cả hai đều có những chiếc mũi vẹo, một người quẹo sang trái còn người kia quẹo sang phải. Cuối cùng, họ dẫn hắn đến một khu vườn giải trí, nơi hắn trả tiền vé vào cửa cho họ. Trong vườn có một cây thông ba năm tuổi khẳng khiu và ba bụi cây, bên cạnh một cái gọi là “Vauxhall” - thực chất là một quán rượu có phục vụ cả trà, xung quanh bày vài chiếc bàn ghế màu xanh lá. Một nhóm ca sĩ thảm hại và một tên hề người Đức say mèm nhưng vô cùng chán nản đến từ Munich với chiếc mũi đỏ đang mua vui cho công chúng. Bọn công chức gây gổ với vài tay công chức khác và một trận ẩu đả có vẻ sắp xảy ra. Svidrigaïlov được chọn để phân xử cuộc tranh chấp. Hắn lắng nghe họ suốt một phần tư giờ, nhưng họ gào thét to đến mức không tài nào hiểu nổi họ đang nói gì. Sự việc duy nhất có vẻ chắc chắn là một trong số họ đã ăn trộm thứ gì đó và thậm chí còn tẩu tán ngay tại chỗ cho một tay Do Thái, nhưng lại không chịu chia chiến lợi phẩm cho bạn đồng hành. Cuối cùng hóa ra vật bị trộm là một chiếc thìa cà phê thuộc về quán Vauxhall. Mất tích chiếc thìa và rắc rối bắt đầu nổi lên. Svidrigaïlov trả tiền cho chiếc thìa, đứng dậy và bước ra khỏi khu vườn. Lúc đó khoảng sáu giờ. Suốt thời gian này hắn không hề chạm một giọt rượu nào và gọi trà chủ yếu là để cho có lệ mà thôi.
Đó là một buổi tối tối tăm và ngột ngạt. Những đám mây giông đe dọa kéo ù kéo về che kín bầu trời vào khoảng mười giờ. Một tiếng sấm vang lên, và mưa trút xuống như thác đổ. Nước không rơi thành giọt mà quất xuống mặt đất thành từng dòng. Chớp lóe lên từng phút và mỗi tia chớp kéo dài đủ để đếm đến năm.
Ướt sũng như chuột lột, hắn đi về nhà, khóa cửa lại, mở tủ búp-phê, lấy ra toàn bộ số tiền và xé nát hai, ba tờ giấy. Sau đó, nhét tiền vào túi, hắn định thay quần áo, nhưng nhìn qua cửa sổ và lắng nghe tiếng sấm sét cùng tiếng mưa rơi, hắn từ bỏ ý định đó, cầm lấy chiếc mũ và bước ra khỏi phòng mà không khóa cửa. Hắn đi thẳng đến chỗ Sonia. Cô có nhà.
Cô không ở một mình: bốn đứa trẻ nhà Kapernaumov đang ở cùng cô. Cô đang cho chúng uống trà. Cô đón tiếp Svidrigaïlov trong sự im lặng cung kính, kinh ngạc nhìn bộ quần áo sũng nước của hắn. Bọn trẻ lập tức chạy trốn hết với vẻ hoảng sợ khôn tả.
Svidrigaïlov ngồi xuống bàn và bảo Sonia ngồi cạnh mình. Cô rụt rè chuẩn bị lắng nghe.
“Rất có thể tôi sẽ đi Mỹ, Sofya Semyonovna,” Svidrigaïlov nói, “và vì có lẽ đây là lần cuối cùng tôi gặp cô, tôi đến để sắp xếp vài việc. Nào, hôm nay cô có gặp người phụ nữ đó không? Tôi biết bà ta đã nói gì với cô, cô không cần phải kể lại đâu.” (Sonia có cử động và đỏ mặt.) “Những kẻ đó có cách hành xử riêng của họ. Còn về các em cô và anh cô, họ thực sự đã có chỗ dựa và số tiền phân bổ cho họ đã được tôi đem đi gửi giữ cẩn thận kèm theo giấy biên nhận. Cô nên giữ lấy các giấy biên nhận này, nhỡ có chuyện gì xảy ra. Nào, cầm lấy đi! Thôi được, chuyện đó đã giải quyết xong. Đây là ba trái phiếu loại 5 phần trăm trị giá ba nghìn rúp. Hãy cầm lấy chúng cho riêng mình, hoàn toàn là của cô, và hãy giữ kín chuyện này giữa chúng ta, không cho ai biết dù cô có nghe thấy bất cứ điều gì đi nữa. Cô sẽ cần tiền, bởi vì tiếp tục sống theo cách cũ, Sofya Semyonovna ạ, là điều tồi tệ, và vả lại bây giờ cũng chẳng còn cần thiết phải thế nữa.”
“Em mang ơn anh rất nhiều, bọn trẻ và mẹ kế của em cũng vậy,” Sonia vội vã nói, “và nếu em nói ít quá... xin anh đừng để tâm...”
“Đủ rồi! Đủ rồi!”
“Nhưng còn về số tiền này, Arkady Ivanovitch ạ, em rất biết ơn anh, nhưng bây giờ em không cần đến nó. Em lúc nào cũng có thể tự kiếm sống được. Xin anh đừng nghĩ em là kẻ vô ơn. Nếu anh rộng lượng đến thế, thì số tiền ấy....”
“Nó là dành cho cô, cho cô, Sofya Semyonovna, và xin đừng tốn lời về chuyện đó nữa. Tôi không có thời gian đâu. Cô sẽ cần đến nó. Rodion Romanovitch đang đứng trước hai con đường: một viên đạn vào óc hoặc đi Siberia.” (Sonia ngẩng đầu nhìn hắn đầy hoảng loạn và giật mình.) “Đừng lo lắng, tôi biết tất cả mọi chuyện chính từ miệng cậu ta và tôi không phải kẻ nhiều chuyện; tôi sẽ không nói cho ai biết đâu. Đó là một lời khuyên đúng đắn khi cô bảo cậu ta ra đầu thú và thú nhận. Mọi chuyện sẽ tốt hơn cho cậu ta rất nhiều. Nào, nếu kết quả là đi Siberia, cậu ta sẽ đi và cô sẽ đi theo cậu ta. Phải thế không? Và nếu vậy, cô sẽ cần tiền. Cô sẽ cần nó vì cậu ta, cô hiểu chứ? Đưa tiền cho cô cũng giống như tôi đưa tiền cho cậu ta vậy. Hơn nữa, cô đã hứa trả cho Amalia Ivanovna khoản nợ còn thiếu. Tôi đã nghe thấy. Sao cô có thể ôm đồm những nghĩa vụ đó một cách bất cẩn như thế, Sofya Semyonovna? Đó là món nợ của Katerina Ivanovna chứ không phải của cô, thế nên lẽ ra cô không cần để ý đến mụ đàn bà người Đức ấy mới phải. Cô không thể sống ở đời với cách đó được đâu. Nếu có ai hỏi cô về tôi - ngày mai hoặc ngày kia người ta sẽ hỏi cô - đừng nói gì về chuyện tôi đến thăm cô lúc này và đừng cho ai xem tiền hay hé nửa lời về nó. Thôi, giờ thì tạm biệt.” (Hắn đứng dậy.) “Gửi lời chào của tôi đến Rodion Romanovitch. Nhân tiện, tốt hơn là cô nên đem số tiền này gửi cho anh chàng Razumihin giữ hộ trong lúc này. Cô biết anh chàng Razumihin chứ? Chắc chắn là biết rồi. Cậu ta không phải kẻ tồi đâu. Hãy mang nó đến cho cậu ta vào ngày mai hoặc... khi thời gian đến. Còn cho đến lúc đó, hãy cất giấu nó thật cẩn thận.”
Sonia cũng chồm dậy khỏi ghế và nhìn Svidrigaïlov đầy hoang mang. Cô rất muốn cất lời, muốn đặt câu hỏi, nhưng những giây phút đầu tiên cô không dám và không biết bắt đầu từ đâu.
“Sao anh lại... sao anh lại có thể đi lúc này, trong trận mưa thế này cơ chứ?”
“Chà, sắp khởi hành đi Mỹ mà lại để mưa ngăn cản sao! Ha, ha! Tạm biệt Sofya Semyonovna, cô bé quý mến của tôi! Hãy sống và sống cho lâu, cô sẽ giúp ích cho người khác đấy. Nhân tiện... hãy nhắn với anh chàng Razumihin rằng tôi gửi lời thăm cậu ta. Hãy nhắn rằng Arkady Ivanovitch Svidrigaïlov gửi lời thăm. Nhất định phải nhắn đấy nhé.”
Hắn bước ra, để lại Sonia trong trạng thái lo âu ngơ ngác và nỗi sợ hãi mơ hồ.
Mãi sau này người ta mới biết rằng vào cùng buổi tối hôm đó, lúc mười một giờ hai mươi phút, hắn đã thực hiện một chuyến thăm kỳ quặc và bất ngờ nữa. Trời vẫn mưa tầm tã. Ướt sũng từ đầu đến chân, hắn bước vào căn hộ nhỏ nơi bố mẹ vị hôn thê của hắn sinh sống, nằm ở Phố Ba trên đảo Vassilyevsky. Hắn gõ cửa một lúc lâu mới được mở cửa, và chuyến ghé thăm của hắn thoạt đầu gây ra sự xáo trộn lớn; nhưng Svidrigaïlov có thể vô cùng có sức hút khi hắn muốn, thế nên phỏng đoán ban đầu và quả thực rất thông minh của cặp vợ chồng khôn ngoan rằng Svidrigaïlov có lẽ đã uống say mèm đến mức chẳng biết mình đang làm gì đã lập tức biến mất. Người cha già lom khom được người mẹ dịu dàng và tháo vát đẩy xe lăn ra gặp Svidrigaïlov; như thường lệ, bà bắt đầu cuộc trò chuyện bằng đủ thứ câu hỏi lạc đề. Bà không bao giờ hỏi thẳng vào vấn đề, mà bắt đầu bằng nụ cười và động tác xoa tay, rồi sau đó, nếu buộc phải tìm hiểu điều gì - chẳng hạn như khi nào Svidrigaïlov muốn tổ chức đám cưới - bà sẽ bắt đầu bằng những câu hỏi đầy hứng thú và gần như hân hoan về Paris cùng đời sống cung đình ở đó, và chỉ từ từ mới lái dần câu chuyện quay trở lại Phố Ba. Vào những dịp khác, điều này chắc chắn đã gây ấn tượng mạnh, nhưng lần này Arkady Ivanovitch có vẻ đặc biệt thiếu kiên nhẫn, và khăng khăng đòi gặp vị hôn thê của mình ngay lập tức, mặc dù ngay từ đầu hắn đã được thông báo là cô bé đã đi ngủ rồi. Tất nhiên là cô thiếu nữ đã xuất hiện.
Svidrigaïlov thông báo ngay cho cô rằng vì những công việc vô cùng quan trọng nên hắn buộc phải rời Petersburg một thời gian, và do đó hắn mang theo mười lăm nghìn rúp, khẩn khoản xin cô nhận lấy như một món quà từ hắn, vì hắn đã định trao món quà nhỏ mọn này cho cô trước lễ cưới từ lâu. Mối liên hệ logic giữa món quà với việc hắn sắp sửa khởi hành ngay lập tức và sự cần thiết tuyệt đối phải đến thăm họ vì mục đích đó trong trận mưa xối xả lúc nửa đêm thì không được làm cho sáng tỏ cho lắm. Nhưng mọi chuyện trôi qua rất suôn sẻ; ngay cả những lời cảm thán kinh ngạc và tiếc nuối không thể tránh khỏi, những câu hỏi không thể tránh khỏi cũng vô cùng ít ỏi và kìm nén. Ngược lại, lòng biết ơn được bày tỏ thì vô cùng nồng nhiệt và được củng cố bằng những giọt nước mắt của người mẹ tháo vát nhất. Svidrigaïlov đứng dậy, cười lớn, hôn vị hôn thê, vỗ má cô, tuyên bố rằng hắn sẽ sớm quay lại, và khi nhìn thấy trong đôi mắt cô, bên cạnh vẻ tò mò ngây thơ của trẻ con, một thứ câu hỏi câm lặng đầy nghiêm túc, hắn liền suy ngẫm rồi hôn cô lần nữa, dù trong lòng hắn cảm thấy giận dữ thành thật khi nghĩ rằng món quà của hắn sẽ lập tức bị khóa kín trong sự bảo quản của người mẹ tháo vát kia. Hắn bỏ đi, để lại tất cả bọn họ trong trạng thái phấn khích tột độ, nhưng người mẹ hiền hậu, nói khẽ với giọng thì thầm một nửa, đã giải quyết một số mối nghi ngờ quan trọng nhất của họ, đi đến kết luận rằng Svidrigaïlov là một vĩ nhân, một người có tầm vóc lớn lao trong công việc lẫn các mối quan hệ và sở hữu khối tài sản khổng lồ - ai mà biết được trong đầu hắn đang nghĩ gì cơ chứ. Hắn sẽ lên đường đi xa và vứt tiền đi bất cứ khi nào hứng lên, thế nên chẳng có gì phải ngạc nhiên cả. Tất nhiên thật kỳ lạ là hắn bị ướt như chuột lột, nhưng chẳng hạn như người Anh còn kỳ quặc hơn nhiều, và tất cả những con người thuộc tầng lớp thượng lưu này đều chẳng màng đến việc người ta nói gì về mình và chẳng câu nệ lễ tiết. Thậm chí có lẽ hắn cố tình đến trong bộ dạng đó để cho thấy rằng hắn chẳng sợ bất cứ ai cả. Hơn hết, không được hé răng nửa lời về chuyện này, vì Chúa mới biết chuyện gì sẽ xảy ra, và số tiền phải được cất kỹ vào tủ, và thật may mắn làm sao khi Fedosya, người đầu bếp, vẫn chưa rời khỏi nhà bếp. Và trên hết, tuyệt đối không được nói một lời nào với mụ mèo già ấy - bà Resslich, cứ thế cứ thế. Họ ngồi thì thầm đến tận hai giờ, nhưng cô gái đã đi ngủ từ lâu, kinh ngạc và mang theo chút buồn bã.
Trong khi đó, đúng nửa đêm, Svidrigaïlov băng qua cây cầu trên đường quay trở lại phần đất liền. Cơn mưa đã ngớt và gió thổi gầm rít. Hắn bắt đầu rùng mình, và có một khoảnh khắc hắn đăm đăm nhìn dòng nước đen ngòm của Tiểu Neva với một cái nhìn đầy quan tâm đặc biệt, thậm chí là dò hỏi. Nhưng chẳng mấy chốc hắn thấy rất lạnh khi đứng bên dòng nước; hắn quay người đi về phía Đại lộ Y. Hắn bước đi dọc con phố vô tận ấy một hồi lâu, suýt soát nửa hiệp giờ, không chỉ một lần vấp ngã trong bóng tối trên mặt đường lát gỗ, nhưng liên tục tìm kiếm thứ gì đó ở phía bên phải con phố. Gần đây khi đi qua con phố này, hắn đã để ý thấy ở đâu đó về phía cuối đường có một khách sạn, được xây bằng gỗ nhưng khá lớn, và tên của nó hắn nhớ là mangρ mang máng như Adrianople. Hắn đã không nhầm: khách sạn nổi bật đến mức ở cái chốn khỉ ho cò gáy ấy, hắn không thể nào không trông thấy nó ngay cả trong bóng tối. Đó là một tòa nhà gỗ dài, đã ngả màu đen đúa, và bất chấp đêm đã khuya, trong các cửa sổ vẫn có ánh đèn và dấu hiệu của sự sống bên trong. Hắn bước vào và hỏi một tên rách rưới gặp ở hành lang một căn phòng. Kẻ kia ngước nhìn Svidrigaïlov, chỉnh đốn lại y phục và dẫn hắn đến thẳng một căn phòng chật chội và bé tí tẹo ở tận phía xa, cuối hành lang, nằm dưới chân cầu thang. Không còn phòng nào khác, tất cả đã kín chỗ. Gã rách rưới đưa mắt nhìn dò hỏi.
“Có trà không?” Svidrigaïlov hỏi.
“Có thưa ngài.”
“Còn có gì nữa?”
“Thịt bê, vodka, đồ nhắm.”
“Mang cho tôi trà và thịt bê.”
“Và ngài không muốn gì nữa sao?” gã hỏi với vẻ ngạc nhiên rõ rệt.
“Không, chẳng gì cả.”
Gã rách rưới bỏ đi, hoàn toàn vỡ mộng.
“Chắc hẳn đây là một nơi thú vị,” Svidrigaïlov nghĩ ngợi. “Sao mình lại không biết nhỉ? Chắc lúc này trông mình cứ như thể vừa bước ra từ một quán ca nhạc và gặp phải cuộc phiêu lưu nào đó trên đường đi. Sẽ rất thú vị nếu biết những ai trọ ở đây nhỉ?”
Hắn châm nến và quan sát căn phòng kỹ hơn. Đó là một căn phòng thấp đến mức Svidrigaïlov chỉ vừa vặn đứng thẳng người được; nó có một ô cửa sổ; chiếc giường rất bẩn cùng chiếc ghế tựa và chiếc bàn gỗ mộc hầu như đã chiếm trọn không gian. Những bức tường trông như làm bằng ván ép, dán giấy dán tường tả tơi, rách nát và bám bụi đến mức không thể nhận ra hoa văn nữa, dù màu sắc chung là vàng - vẫn còn có thể phân biệt được. Một bức tường bị cắt ngắn bởi phần trần nhà dốc đứng, dù căn phòng không phải là gác mái mà nằm ngay dưới cầu thang.
Svidrigaïlov đặt cây nến xuống, ngồi phịch xuống giường và chìm vào suy nghĩ. Nhưng một thứ tiếng lầm rầm kỳ lạ cứ dai dẳng, đôi khi vút cao thành tiếng quát tháo ở căn phòng bên cạnh đã thu hút sự chú ý của hắn. Tiếng lầm rầm ấy không hề dứt kể từ khoảnh khắc hắn bước chân vào phòng. Hắn lắng nghe: có ai đó đang quở trách và mắng mỏ đến mức suýt khóc, nhưng hắn chỉ nghe thấy có một giọng nói duy nhất.
Svidrigaïlov đứng dậy, dùng tay che ánh sáng ngọn nến và lập tức hắn nhìn thấy ánh sáng lọt qua một khe nở trên vách tường; hắn bước tới và ghé mắt dòm qua. Căn phòng đó, có phần rộng hơn phòng của hắn, có hai người ở. Một người trong số họ, một gã đầu xoăn tít với khuôn mặt đỏ bừng vì cáu giận, đang đứng ở tư thế của một nhà hùng biện, không mặc áo khoác, dạng rộng hai chân để giữ thăng bằng, và đấm ngực u uất. Hắn ta trách mắng người kia là kẻ ăn mày, chẳng có chút địa vị nào trên đời. Hắn tuyên bố rằng chính hắn đã lôi kẻ kia ra khỏi vũng bùn và hắn có thể tống cổ gã đi bất cứ lúc nào hắn muốn, và rằng chỉ có ngón tay của Đấng Quan Phòng mới nhìn thấu tất cả những điều đó. Đối tượng bị mắng mỏ đang ngồi trên ghế, mang dáng vẻ của một kẻ cực kỳ muốn hắt hơi nhưng lại không tài nào hắt hơi được. Thỉnh thoảng gã đảo đôi mắt đờ đẫn và ngây dại về phía kẻ đang nói, nhưng rõ ràng là chẳng có lấy một chút ý niệm nào về việc đối phương đang lải nhải gì và hầu như chẳng thèm nghe. Một cây nến đang cháy lụi dần trên bàn; có những chiếc ly uống rượu, một chai vodka gần cạn sạch, bánh mì và dưa chuột, cùng những chiếc ly đựng cặn trà nguội ngắt. Sau khi chăm chú nhìn cảnh tượng này một lát, Svidrigaïlov lạnh lùng quay đi và ngồi xuống mép giường.
Gã phục vụ rách rưới, khi mang trà quay lại, không kìm được việc hỏi lại xem ngài có muốn dùng thêm gì nữa không, và lại nhận được câu trả lời phủ định, cuối cùng đành lủi thủi rút lui. Svidrigaïlov vội vã uống một ly trà cho ấm người, nhưng chẳng thể nuốt nổi thứ gì. Hắn bắt đầu thấy hơi sốt. Hắn cởi áo khoác ngoài và, quấn mình trong tấm chăn, nằm dài lên giường. Hắn cảm thấy bực bội. “Lẽ ra nên giữ sức khỏe cho thật tốt vào dịp này,” hắn nghĩ với một nụ cười. Căn phòng ngột ngạt, ngọn nến cháy lờ mờ, bên ngoài gió đang gào thét, hắn nghe thấy tiếng con chuột cào sột soạt trong góc và căn phòng sực mùi chuột cùng mùi da thuộc. Hắn nằm miên man trong một trạng thái mơ màng: ý nghĩ này nối tiếp ý nghĩ kia. Hắn cảm thấy thèm thuồng được neo giữ trí tưởng tượng của mình vào thứ gì đó. “Chắc là có một khu vườn ngay dưới cửa sổ,” hắn nghĩ. “Có tiếng rào rào của cây cối. Sao mình lại ghét tiếng cây cối vào một đêm giông bão, trong bóng tối đến thế cơ chứ! Chúng mang lại cho người ta cảm giác thật kinh tởm.” Hắn nhớ lại mình đã ghét nó thế nào khi đi ngang qua công viên Petrovsky hồi nãy. Điều này làm hắn nhớ đến cây cầu bắc qua sông Tiểu Neva và hắn lại thấy lạnh toát như lúc đứng ở nơi đó. “Tôi chưa bao giờ thích nước,” hắn nghĩ, “ngay cả trong tranh phong cảnh,” và hắn lại bất chợt mỉm cười trước một ý nghĩ kỳ quặc: “Chắc chắn là lúc này mọi vấn đề về gu thẩm mỹ và sự thoải mái lẽ ra không nên bận tâm nữa, thế mà tôi lại trở nên khó tính hơn, giống như một con vật chọn ra một chỗ đặc biệt... cho dịp như thế này. Lẽ ra tôi nên đi vào công viên Petrovsky chứ! Chắc là tại lúc ấy thấy trời tối, lạnh, ha-ha! Cứ như thể tôi đang tìm kiếm những cảm giác dễ chịu vậy!... Nhân tiện, sao mình lại chưa thổi tắt nến nhỉ?” Hắn thổi tắt nến. “Bọn họ bên phòng bên đã đi ngủ rồi,” hắn nghĩ, không còn thấy ánh sáng lọt qua khe nức nữa. “Thôi nào, Marfa Petrovna, bây giờ chính là lúc để cô xuất hiện đấy; trời tối rồi, đây đúng là thời điểm và khung cảnh dành cho cô. Nhưng giờ thì cô sẽ không đến đâu!”
Hắn chợt nhớ lại cách đây một giờ trước khi thực hiện ý định với Dounia, hắn đã khuyên Raskolnikov hãy phó thác cô cho sự bảo bọc của Razumihin. “Có lẽ quả thực tôi đã nói điều đó, đúng như Raskolnikov đoán, chỉ để tự hành hạ bản thân. Nhưng mà Raskolnikov đúng là một tên ranh con! Cậu ta đã trải qua biết bao thăng trầm. Biết đâu một ngày nào đó khi đã dẹp bỏ được những thứ vớ vẩn đi, cậu ta sẽ trở thành một tên xảo quyệt thành đạt. Nhưng hiện tại cậu ta quá tha thiết với cuộc sống. Những kẻ trẻ tuổi thật đáng khinh ở điểm đó. Mà, mặc xác tên đó đi! Cho cậu ta muốn làm gì thì làm, chẳng dính dáng gì đến tôi.”
Hắn không tài nào chợp mắt nổi. Dần dần hình ảnh Dounia hiện lên trước mắt, và một cơn rùng mình chạy dọc sống lưng hắn. “Không, bây giờ mình phải từ bỏ tất cả những điều đó thôi,” hắn nghĩ, tự sốc lại tinh thần. “Mình phải nghĩ đến chuyện khác. Thật kỳ cục và buồn cười. Tôi chưa bao giờ căm thù ai sâu sắc, tôi cũng chưa bao giờ thực sự mong muốn trả thù, và đó là một dấu hiệu xấu, một dấu hiệu xấu, một dấu hiệu xấu. Tôi cũng chưa bao giờ thích cãi vã và chưa từng nổi giận bao giờ - đó cũng là một dấu hiệu xấu. Và cả những lời hứa mà tôi vừa hứa với cô ấy lúc nãy nữa chứ - Chết tiệt! Nhưng - ai mà biết được? - có lẽ cô ấy đã có thể biến tôi thành một con người hoàn toàn mới theo một cách nào đó....”
Hắn nghiến răng và lại chìm vào im lặng. Hình ảnh Dounia lại hiện lên trước mắt hắn, y hệt như khoảnh khắc ấy khi, sau phát súng đầu tiên, cô đã hạ khẩu súng lục xuống trong nỗi hoảng sợ và trân trân nhìn hắn, để rồi hắn có thể tóm lấy cô đến hai lần mà cô cũng chẳng buồn nhấc tay tự vệ nếu hắn không nhắc nhở cô. Hắn nhớ lại khoảnh khắc ấy hắn đã cảm thấy thương hại cô biết bao, trái tim hắn đã thắt lại nhói đau thế nào...
“Ái! Chết tiệt, lại những suy nghĩ này nữa rồi! Mình phải xua chúng đi!”
Hắn đang thiu thiu ngủ; cơn rùng mình vì sốt đã dứt, thì bỗng nhiên có cái gì đó như bò qua tay và chân hắn dưới lớp chăn. Hắn giật mình. “Ugh! Khỉ thật! Chắc là chuột rồi,” hắn nghĩ, “đấy là do miếng thịt bê tôi để lại trên bàn.” Hắn cực kỳ ngán ngẩm việc phải giật tấm chăn ra, vùng dậy, chịu cái lạnh, nhưng đột nhiên thứ gì đó khó chịu lại chạy qua chân hắn một lần nữa. Hắn giật phăng tấm chăn ra và châm nến. Run rẩy vì cơn lạnh buốt của sốt, hắn cúi xuống kiểm tra giường: chẳng có gì cả. Hắn lắc tấm chăn và bất ngờ một con chuột nhảyót ra tấm ga giường. Hắn cố tóm lấy nó, nhưng con chuột chạy ngoằn ngoèo qua lại mà không rời khỏi giường, luồn lách giữa các kẽ ngón tay hắn, chạy qua bàn tay hắn và đột nhiên lao vút xuống dưới chiếc gối. Hắn hất văng chiếc gối ra, nhưng ngay lập tức cảm thấy thứ gì đó nhảy bổ lên ngực mình, lao thốc qua cơ thể và tuột xuống lưng dọc theo vạt áo sơ mi. Hắn run lên bần bật và tỉnh giấc.
Căn phòng tối om. Hắn đang nằm trên giường, vẫn quấn chặt trong tấm chăn như trước. Gió đang gào thét ngoài cửa sổ. “Thật kinh tởm làm sao,” hắn bực bội nghĩ.
Hắn đứng dậy, ngồi bên mép giường, lưng quay về phía cửa sổ. “Tốt hơn là đừng ngủ nữa,” hắn quyết định. Tuy nhiên, có một luồng gió lạnh ẩm ướt lùa vào từ cửa sổ; chẳng buồn đứng dậy, hắn kéo chăn trùm lên người và tự quấn kín lại. Hắn chẳng suy nghĩ gì và cũng chẳng muốn suy nghĩ. Nhưng hình ảnh này nối tiếp hình ảnh kia, những mảnh vụn ý nghĩ rời rạc không đầu không cuối lướt qua tâm trí hắn. Hắn chìm vào trạng thái lơ mơ buồn ngủ. Có lẽ cái lạnh, hoặc sự ẩm ướt, hoặc bóng tối, hoặc tiếng gió gào thét bên ngoài khung cửa sổ quật ngã những tán cây đã khơi dậy một thứ khao khát dai dẳng đến mức kỳ ảo. Hắn cứ mải nghĩ về những hình ảnh của các loài hoa, hắn tưởng tượng ra một khu vườn hoa tuyệt diệu, một ngày lễ hội tươi sáng, ấm áp, gần như oi ả - ngày lễ Chúa Ba Ngôi. Một ngôi nhà tranh đồng quê xinh xắn, lộng lẫy theo phong cách Anh quốc, mọc đầy những khóm hoa ngào ngạt hương thơm, với những luống hoa vây quanh ngôi nhà; hiên nhà, được bao phủ bởi những dây leo, được bao quanh bởi các luống hoa hồng. Một chiếc cầu thang nhẹ nhàng, mát mẻ, được thảm những tấm thảm sang trọng, được trang trí bằng những chậu cây quý hiếm bằng sứ. Hắn nhận thấy rõ ràng ở các khung cửa sổ những bó hoa thủy tiên dịu dàng, trắng muốt, nặng trĩu hương thơm đang uốn cong trên những thân cây dày, dài và xanh mướt. Hắn không muốn rời xa chúng, nhưng rồi hắn bước lên cầu thang và đi vào một phòng khách lớn, cao ráo và một lần nữa ở khắp mọi nơi - bên cửa sổ, các cánh cửa dẫn ra ban công, và ngay trên ban công - toàn là hoa. Sàn nhà được rải đầy cỏ khô thơm phức mới cắt, các cửa sổ mở toang, một luồng không khí tươi mát, dịu nhẹ và thoáng đãng tràn vào phòng. Lũ chim đang ríu rít hót ngoài cửa sổ, và ở giữa căn phòng, trên một chiếc chiếc bàn được phủ một tấm vải liệm bằng sa tanh trắng, đặt một cỗ quan tài. Quan tài được bọc lụa trắng và viền một lớp ren nhún trắng dày dặn; những vòng hoa vây quanh nó từ mọi phía. Nằm giữa muôn loài hoa là một thiếu nữ mặc váy muslin trắng, với đôi tay đan chéo áp trước ngực, trông như thể được tạc bằng đá cẩm thạch. Nhưng mái tóc vàng buông xõa của cô lại ướt sũng; đầu cô đội một vòng hoa hồng. Gương mặt với những đường nét góc cạnh và đã cứng đờ trông cũng như được đẽo gọt từ đá cẩm thạch, và nụ cười trên đôi môi nhợt nhạt của cô tràn ngập nỗi đau khổ vô tận, già dặn trước tuổi cùng tiếng kêu cứu đầy sầu muộn. Svidrigaïlov biết cô gái đó; bên cạnh quan tài không có lấy một bức tượng thánh, không có ngọn nến nào đang cháy; không có âm thanh cầu kinh nào vang lên: cô gái đã tự vẫn. Cô mới chỉ mười bốn tuổi, nhưng trái tim đã tan vỡ. Và cô đã tự kết liễu đời mình, bị nghiền nát bởi một sự lăng mụclăng nhục đã làm choáng váng và kinh hoàng tâm hồn trẻ thơ ấy, đã vấy bẩn sự thanh khiết thiên thần ấy bằng nỗi nhục nhã không đáng có và giật đứt khỏi cô tiếng thét tuyệt vọng cuối cùng, không một ai mảy may hoài đoái và bị phớt lờ một cách tàn nhẫn, trong một đêm tối trời lạnh giá và ướt át khi gió đang gào thét....
Svidrigaïlov bừng tỉnh, đứng dậy khỏi giường và đi về phía cửa sổ. Hắn mò mẫm tìm chốt và mở toang nó ra. Gió lùa dữ dội vào căn phòng nhỏ, quất thẳng vào mặt và ngực hắn - lúc này chỉ mặc mỗi chiếc áo sơ mi - lạnh buốt như băng. Dưới cửa sổ hẳn phải có thứ gì đó giống như một khu vườn, và hình như là một khu vườn giải trí. Ở đó, có lẽ vào ban ngày cũng có những chiếc bàn uống trà và tiếng hát ca. Giờ đây, những giọt mưa từ cây cối và bụi cây hắt tung tóe bay vào qua cửa sổ; trời tối như trong hầm rượu, đến mức hắn chỉ có thể lờ mờ phân biệt được những khối hình mờ tối. Svidrigaïlov, khom người chống cựu tay lên bệ cửa sổ, đăm đăm nhìn vào bóng tối suốt năm phút; tiếng chuông đại bác vang lên, nối tiếp là tiếng thứ hai, vang dội trong màn đêm tối mịt mùng. “À, hiệu lệnh rồi! Sông đang dâng nước tràn bờ,” hắn nghĩ. “Đến sáng nước sẽ xoáy cuồn cuộn trên đường phố ở các khu vực trũng thấp, ngập lụt cả tầng hầm và nhà kho. Lũ chuột cống dưới hầm sẽ bơi ra ngoài, và con người sẽ chửi rủa trong gió mưa khi họ kéo đống đồ đạc rác rưởi lên các tầng trên. Bây giờ là mấy giờ rồi nhỉ?” Và hắn vừa dứt ý nghĩ ấy thì đâu đó gần đây, một chiếc đồng hồ treo tường đang đập tí tách vội vã, điểm ba tiếng.
“Aha! Một tiếng nữa là trời sáng! Việc gì phải chờ đợi? Mình sẽ ra ngoài ngay bây giờ, đi thẳng tới công viên. Mình sẽ chọn một bụi cây lớn ở đó đẫm nước mưa, để ngay khi bờ vai chạm vào nó, hàng triệu giọt nước sẽ trút xối xả lên đầu.”
Hắn rời khỏi cửa sổ, khép lại, châm nến, mặc áo ghi-lê, áo khoác ngoài và đội mũ rồi bước ra, tay cầm cây nến, đi dọc hành lang để tìm gã phục vụ rách rưới đang ngủ vùi ở xó xỉnh nào đó giữa đống đầu nến thừa và đủ loại rác rưởi, để trả tiền phòng và rời khỏi khách sạn. “Đây là thời điểm tuyệt vời nhất; mình không thể chọn lúc nào tốt hơn được nữa.”
Hắn bước đi một hồi lâu qua một hành lang hẹp dài mà chẳng gặp ai, và đang định cất tiếng gọi, thì bất chợt trong một góc tối giữa chiếc tủ cũ và cánh cửa, hắn thoáng thấy một vật thể kỳ lạ trông có vẻ như đang cử động. Hắn cúi người cầm ngọn nến soi xuống và nhìn thấy một bé gái, chắc không quá năm tuổi, đang run lẩy bẩy và khóc nức nở, với bộ quần áo ướt sũng như một mảnh giẻ lau nhà ngâm nước. Con bé có vẻ không sợ Svidrigaïlov, mà trân trân nhìn hắn bằng đôi mắt đen láy to tròn với vẻ ngơ ngác đờ đẫn. Thỉnh thoảng con bé lại nấc lên như cách trẻ con nức nở khi đã khóc suốt một thời gian dài, nhưng đang bắt đầu được dỗ dành. Khuôn mặt đứa trẻ tái nhợt và mệt mỏi, người nó tê cóng vì lạnh. “Sao nó lại có thể mò đến đây được nhỉ? Chắc nó đã trốn ở đây và thức trắng cả đêm.” Hắn bắt đầu gặng hỏi. Đứa trẻ bỗng trở nên lanh lẹ, líu lo bằng thứ ngôn ngữ trẻ con của nó, kể lể gì đó về “mẹ” và rằng “mẹ sẽ đánh,” và về chiếc bát nào đó mà nó đã “làm vỡ.” Đứa trẻ cứ thế líu lo không ngớt. Hắn chỉ có thể đoán được qua những lời nó nói rằng đây là một đứa trẻ bị bỏ bê, có lẽ người mẹ là một mụ đầu bếp nát rượu làm việc trong khách sạn, thường đánh đập và dọa nạt nó; rằng đứa trẻ đã làm vỡ cái bát của mẹ và sợ quá nên đã trốn chạy từ tối hôm trước, trốn chui trốn lủi một thời gian dài đâu đó ngoài trời mưa, cuối cùng lần mò được vào đây, nấp sau chiếc tủ và trải qua cả đêm ở đó, khóc lóc và run rẩy vì ẩm ToBounds, bóng tối và nỗi sợ hãi vì sẽ bị đòn roi nhừ tử. Hắn bế xốc nó lên tay, quay trở lại phòng mình, đặt nó ngồi lên giường và bắt đầu cởi quần áo cho nó. Đôi giày rách mà nó đi trên đôi chân không tất ướt sũng như thể chúng đã ngâm trong vũng nước suốt cả đêm. Khi đã cởi đồ cho con bé xong, hắn đặt nó lên giường, đắp chăn và quấn kỹ từ đầu đến chân. Nó chìm vào giấc ngủ ngay lập tức. Sau đó hắn lại chìm vào những suy nghĩ mông lung ảm đạm.
“Thật ngốc nghếch khi cứ tự rước phiền toái vào thân,” hắn đột nhiên quyết định với một cảm giác bực bội đè nặng. “Thật là đần độn!” Trong cơn phiền muộn, hắn cầm cây nến lên định đi tìm gã phục vụ rách rưới lần nữa để vội vã chuồn đi. “Mặc xác đứa trẻ!” hắn nghĩ khi mở cửa, nhưng rồi hắn lại quay người nhìn xem con bé đã ngủ chưa. Hắn cẩn thận vén tấm chăn lên. Con bé đang ngủ say sưa, nó đã ấm người lên dưới lớp chăn, và đôi má tái nhợt đã ửng hồng. Nhưng thật kỳ lạ, sắc hồng ấy có vẻ rực rỡ và thô kệch hơn đôi má ửng hồng của trẻ thơ. “Đó là sắc hồng của cơn sốt,” Svidrigaïlov thầm nghĩ. Trông nó giống như sắc hồng do uống rượu, cứ như thể nó vừa được cho uống cạn một ly đầy vậy. Đôi môi đỏ thắm của nó nóng hổi và rực rỡ; nhưng cái quái gì thế này? Hắn bất chợt có cảm giác như thể hàng mi dài màu đen của nó đang rung rẩy, cứ như thể đôi mắt đang mở ra và một con mắt láu cá, tinh ranh đang lén nhìn ra với một cái nháy mắt không phải của trẻ con, cứ như thể đứa trẻ không hề ngủ mà đang giả vờ. Quả đúng là như vậy. Đôi môi nó hé mở thành một nụ cười. Khóe miệng nó giật giật, như thể nó đang cố kìm nén lại. Nhưng giờ thì nó hoàn toàn buông xuôi mọi nỗ lực, giờ thì đó là một nụ cười toe toét, một nụ cười rộng ngoác; có cái gì đó vô liêm sỉ, khiêu khích trên khuôn mặt hoàn toàn không phải trẻ con đó; đó là sự trụy lạc, đó là khuôn mặt của một ả gái điếm, khuôn mặt vô liêm sỉ của một ả gái điếm người Pháp. Giờ thì cả hai mắt đều mở trừng trừng; chúng ném về phía hắn một cái nhìn rực cháy, vô liêm sỉ; chúng cười cợt, mời gọi.... Có cái gì đó vô cùng gớm ghiếc và sốc nổi trong nụ cười ấy, trong ánh mắt ấy, trong sự ghê tởm bỉ ổi hiện trên khuôn mặt một đứa trẻ. “Cái gì, mới năm tuổi đầu á?” Svidrigaïlov lẩm bẩm trong sự kinh hãi thực sự. “Nó có nghĩa là gì chứ?” Và giờ đây con bé quay về phía hắn, khuôn mặt nhỏ nhắn đỏ bừng, dang rộng đôi tay....
“Đứa trẻ đáng nguyền rủa!” Svidrigaïlov thét lên, giơ tay định giáng đòn, nhưng ngay khoảnh khắc đó hắn tỉnh giấc.
Hắn vẫn ở trên chiếc giường cũ, người vẫn quấn chặt trong tấm chăn. Ngọn nến chưa được thắp sáng, và ánh sáng ban ngày đang hắt vào qua các khung cửa sổ.
“Cả đêm mình toàn gặp ác mộng!” Hắn tức giận vùng dậy, cảm thấy rã rời tột cùng; các khớp xương đau nhức ê ẩm. Bên ngoài có một lớp sương mù dày đặc và hắn chẳng nhìn thấy gì cả. Đã gần năm giờ. Hắn đã ngủ quên mất tiêu! Hắn đứng dậy, mặc chiếc áo khoác ngắn và áo khoác ngoài vẫn còn đang ẩm ướt. Cảm nhận được khẩu súng lục trong túi, hắn lấy nó ra và rồi ngồi xuống, lôi cuốn sổ tay từ trong túi ra và ở trang bìa ngay chỗ dễ đập vào mắt nhất, hắn viết vài dòng chữ in hoa lớn. Đọc lại chúng, hắn chìm vào suy nghĩ, hai khuỷu tay chống lên bàn. Khẩu súng lục và cuốn sổ tay nằm ngay bên cạnh. Mấy con ruồi tỉnh giấc và đậu lên đĩa thịt bê chưa hề động đến vẫn đang nằm trên bàn. Hắn trân trân nhìn chúng và cuối cùng dùng bàn tay phải tự do để cố bắt một con. Hắn cố gắng cho đến khi mỏi nhừ cả tay nhưng vẫn không bắt được. Cuối cùng, nhận thức được rằng mình đang tham gia vào một trò tiêu khiển thú vị thế này, hắn giật mình, đứng dậy và kiên quyết bước ra khỏi phòng. Chỉ một phút sau hắn đã ở ngoài đường.
Một lớp sương mù đục ngầu màu sữa bao trùm lấy thị trấn. Svidrigaïlov bước đi trên mặt đường lát gỗ trơn trượt và dơ dáy hướng về phía sông Tiểu Neva. Hắn đang hình dung ra dòng nước của sông Tiểu Neva dâng lên trong đêm, đảo Petrovsky, những lối đi ướt át, bãi cỏ ướt, cây cối và bụi cây ướt át và cuối cùng là bụi cây ấy.... Hắn bực bội đảo mắt nhìn chằm chằm vào những ngôi nhà, cố gắng nghĩ về chuyện khác. Trên đường phố chẳng có lấy một chiếc xe ngựa hay bóng người qua lại. Những ngôi nhà gỗ nhỏ bé màu vàng rực rỡ trông thật nhếch nhác và thảm hại với những tấm cửa chớp khép kín. Cái lạnh và sự ẩm ướt ngấm vào toàn bộ cơ thể khiến hắn bắt đầu rùng mình. Thỉnh thoảng hắn đi ngang qua các tấm biển hiệu cửa hàng và đọc kỹ từng cái một. Cuối cùng hắn cũng đi đến tận cùng đoạn đường lát gỗ và đến trước một ngôi nhà gạch lớn. Một con chó ghẻ lở, run lẩy bẩy cắt ngang đường hắn với cái đuôi cụp giữa hai chân. Một người đàn ông mặc áo khoác dài nằm sấp mặt, say khướt bất tỉnh, vắt ngang vỉa hè. Hắn nhìn gã rồi bước tiếp. Một tòa tháp cao sừng sững ở phía bên trái. “Cha chả!” hắn nghĩ, “đây là một chỗ được đấy chứ. Sao cứ phải là Petrovsky làm gì cơ chứ? Dằng nào thì cũng sẽ có sự chứng kiến của nhân chứng công vụ thôi mà....”
Hắn suýt mỉm cười trước ý nghĩ mới mẻ này và rẽ vào con phố có ngôi nhà lớn với ngọn tháp. Tại cánh cổng lớn đang đóng kín của tòa nhà, một người đàn ông nhỏ thó đang đứng tì vai vào cổng, khoác trên mình chiếc áo choàng xám của lính tráng, đầu đội chiếc mũ đồng mang hình chiến binh Achilles. Gã ném một cái nhìn lờ đờ và hờ hững về phía Svidrigaïlov. Khuôn mặt gã mang cái vẻ cáu kỉnh chán chường vĩnh viễn, thứ in hằn một cách chua chát trên tất cả mọi gương mặt thuộc chủng tộc Do Thái mà không hề có ngoại lệ nào. Cả hai, Svidrigaïlov và Achilles, trân trân nhìn nhau vài phút mà không nói một lời. Cuối cùng Achilles thấy có điều gì đó bất thường khi một kẻ hoàn toàn tỉnh táo lại đứng cách hắn ba bước, cứ trân trân nhìn mà không hé răng nửa lời.
“Mày muốn gì ở đây hả?” gã cất giọng hỏi, không hề cử động hay thay đổi tư thế.
“Không gì cả, bạn hiền, chào buổi sáng nhé,” Svidrigaïlov đáp.
“Đây không phải chỗ.”
“Tôi chuẩn bị đi xứ người đây, bạn hiền ạ.”
“Đi xứ người á?”
“Đến Mỹ.”
“Mỹ á?”
Svidrigaïlov rút súng lục ra và lên cò. Achilles nhướng mày.
“Này, đây không phải chỗ để đùa giỡn thế đâu nhé!”
“Sao lại không phải chỗ chứ?”
“Thì bởi vì nó không phải.”
“Thôi được, bạn hiền, tôi không bận tâm đâu. Đây là một nơi tốt. Khi nào người ta hỏi, anh cứ bảo rằng hắn ta đang trên đường đi, hắn nói thế, đi Mỹ.”
Hắn chĩa khẩu súng lục vào thái dương bên phải.
“Mày không được làm thế ở đây, không đúng chỗ đâu!” Achilles hét lên, bừng tỉnh, đôi mắt trợn tròn ngày một lớn.
Svidrigaïlov bóp cò.