“Lỡ như người ta đã lùng sục rồi thì sao? Lỡ tôi tìm thấy chúng ngay trong phòng mình thì sao?”
Nhưng đây là phòng hắn. Chẳng có gì và cũng chẳng có ai. Không một bóng người ghé mắt. Thậm chí Nastasya cũng chưa hề động đến. Ôi lạy Chúa! Sao hắn có thể bỏ lại toàn bộ số đồ đạc ấy trong cái hốc tường cơ chứ?
Hắn lao vội tới góc phòng, thò tay dưới lớp giấy dán tường, lôi đống đồ ra và nhét đầy các túi áo. Tổng cộng có tám món: hai chiếc hộp nhỏ đựng hoa tai hoặc thứ gì đó đại loại thế, hắn chẳng buồn nhìn kỹ; tiếp theo là bốn chiếc ví da nhỏ. Lại có cả một sợi dây chuyền chỉ được gói ghém trong tờ báo, và một vật gì đó bọc báo trông giống như một tấm huân chương... Hắn nhét tất cả vào các túi áo khoác và chiếc túi quần còn lại, cố giấu kín hết mức có thể. Hắn cũng lấy cả chiếc ví. Sau đó, hắn bước ra khỏi phòng, để ngỏ cửa. Hắn rảo bước nhanh và kiên quyết, dẫu cảm thấy rã rời, đầu óc hắn vẫn vô cùng tỉnh táo. Hắn sợ bị truy đuổi, sợ rằng chỉ nửa tiếng nữa, hoặc có lẽ chỉ mười lăm phút nữa thôi, lệnh lùng bắt hắn sẽ được ban ra, thế nên bằng mọi giá, hắn phải xóa sạch mọi dấu vết trước thời điểm đó. Hắn phải dọn dẹp ổn thỏa mọi chuyện khi trong người vẫn còn chút sức lực, chút minh mẫn sót lại... Hắn phải đi đâu đây?
Điều đó từ lâu đã được định đoạt: “Quẳng chúng xuống kênh, giấu nhẹm mọi dấu vết dưới làn nước, thế là chấm dứt.” Hắn đã tự nhủ như vậy trong đêm mê sảng, khi mà vài lần hắn có thôi thúc chồm dậy và bỏ đi, thật mau chóng tống khứ tất cả đi cho rảnh nợ. Nhưng tống khứ chúng hóa ra lại là một việc vô cùng khó khăn. Hắn lang thang dọc bờ kênh Ekaterininsky suốt nửa tiếng đồng hồ hoặc hơn thế, dăm ba lần ngó nghiêng những bậc thềm dẫn xuống mặt nước, nhưng đời nào hắn dám thực hiện ý định; hoặc là những chiếc bè đậu sát mép bậc thềm, mấy người phụ nữ đang khom lưng giặt giũ ở đó, hoặc là thuyền bè neo đậu san sát, người qua lại nhộn nhịp khắp nơi. Hơn nữa, người ta có thể nhìn thấy và chú ý đến hắn từ mọi phía bờ kênh; sẽ cực kỳ khả nghi nếu một kẻ lủi thủi đi xuống, khựng lại rồi ném thứ gì xuống nước. Mà nhỡ mấy chiếc hộp nổi lềnh bềnh thay vì chìm nghỉm thì sao? Và chắc chắn là chúng sẽ nổi rồi. Ngay lúc ấy thôi, bất cứ ai đi ngang qua cũng có vẻ đang trừng trừng nhìn ngó hắn, cứ như thể họ chẳng có việc gì khác ngoài việc săm soi hắn vậy. “Tại sao lại thế nhỉ, hay là do mình tự tưởng tượng ra?” hắn nghĩ thầm.
Cuối cùng, hắn chợt lóe lên suy nghĩ rằng chi bằng đến sông Neva thì hơn. Ở đó thưa người hơn, hắn sẽ ít bị chú ý hơn, mọi bề đều tiện lợi hơn, và trên hết là nó ở xa hơn. Hắn tự thắc mắc sao mình lại có thể lang thang suốt nửa tiếng đồng hồ đằng đẵng, lo lắng bồn chồn ở cái khu vực hiểm hóc này mà trước đó lại không nghĩ ra cơ chứ. Và hắn đã hoài phí nửa tiếng đồng hồ cho một kế hoạch phi lý, chỉ vì hắn đã nghĩ ra nó trong cơn mê sảng! Hắn đã trở nên cực kỳ đãng trí, quên trước quên sau và bản thân hắn thừa nhận điều đó. Hắn quả thực phải nhanh chân lên thôi.
Hắn rảo bước về phía sông Neva theo đại lộ V——, nhưng dọc đường một ý định khác lại xẹt qua đầu hắn. “Sao lại phải ra sông Neva? Chi bằng đi đâu đó thật xa, lại ra mấy hòn đảo ấy, rồi giấu đống đồ ở một nơi vắng vẻ nào đó, trong rừng hoặc dưới bụi cây, khéo còn phải đánh dấu vị trí lại nữa chứ?” Dù cảm thấy bản thân chẳng thể phán đoán rõ ràng, ý kiến đó hãy còn vẻ hợp lý chán. Nhưng hắn đâu có số mệnh được đặt chân đến đó. Khi vừa rẽ từ đại lộ V—— ra quảng trường, bên trái hắn xuất hiện một lối đi nhỏ chạy giữa hai bức tường trống trải dẫn vào một khoảng sân. Phía bên tay phải, bức tường xám xịt chưa quét vôi của một ngôi nhà bốn tầng kéo dài tít tắp vào sâu trong sân; bên trái, một hàng rào gỗ chạy song song với nó chừng hai mươi bước chân rồi đột ngột ngoặt sang trái. Nơi đây là một bãi đất trống bị rào chắn lại, ngập rác rưởi đủ loại. Ở tận cùng góc sân, cái chòi đá thấp lè tè, nhem nhuốc, nom như một phần của xưởng thợ nào đó, lấp ló sau hàng rào gỗ. Đó có lẽ là xưởng đóng xe ngựa hoặc thợ mộc; toàn bộ khu đất từ cửa vào đen sì bụi than. Nơi này chính là chỗ lý tưởng để quẳng đống đồ đi, hắn nghĩ. Thấy chẳng có ai trong sân, hắn lách mình bước vào, và ngay gần cổng, hắn thấy một chiếc bồn rửa tay—thứ thường được đặt ở những sân nhà có nhiều thợ thuyền hoặc phu xe; còn trên hàng rào gỗ phía trên, người ta nguệch ngoạc bằng phấn một câu châm ngôn xưa như trái đất: “Nghiêm cấm đứng đây.” Thế lại càng hay, vì hành vi bước vào của hắn sẽ chẳng có gì là khả nghi cả. “Ở đây mình có thể quẳng tất cả vào một xó rồi chuồn lẹ!”
Đảo mắt nhìn quanh thêm lần nữa, tay đã đút sẵn trong túi, hắn nhận thấy áp sát bức tường ngoài, nằm giữa lối vào và chiếc bồn rửa, là một hòn đá cuội lớn chưa đẽo gọt, nặng có lẽ tới sáu mươi cân. Bên kia bức tường chính là đường phố. Hắn có thể nghe thấy tiếng người qua lại, vốn dĩ tấp nập ở cái khu này, nhưng từ lối vào thì không thể trông thấy hắn, trừ phi có ai đó từ ngoài đường bước vào, mà điều đó hoàn toàn có thể xảy ra, thế nên cần phải khẩn trương.
Hắn cúi rạp người xuống hòn đá, dùng cả hai tay bám chặt lấy đỉnh đá và dồn toàn lực lật úp nó lại. Dưới hòn đá là một cái hốc nhỏ trên mặt đất, và hắn trút ngay túi áo của mình xuống đó. Chiếc ví nằm ở trên cùng, vậy mà cái hốc vẫn chưa đầy. Đoạn, hắn lại tóm lấy hòn đá, chỉ bằng một cú xoay đã trả nó về vị trí cũ, dẫu có nhỉnh hơn một chút. Nhưng hắn vội vun đất xung quanh và lấy chân nén chặt các mép lại. Sẽ chẳng ai nhận ra điều gì bất thường cả.
Rồi hắn bước ra, rẽ hướng quảng trường. Lại một lần nữa, niềm vui sướng tột độ, gần như không thể chịu đựng nổi trào dâng trong hắn suốt khoảnh khắc ngắn ngủi, y hệt như lúc ở đồn cảnh sát. “Ta đã chôn vùi sạch dấu vết! Và ai, ai có thể ngờ mà mò xuống dưới hòn đá đó cơ chứ? Chắc nó nằm lốc nhốc ở đấy từ cái hồi ngôi nhà này được xây lên, và sẽ còn nằm đó thêm bao nhiêu năm nữa. Tựa hồ như có tìm thấy, thì ai lại đi nghĩ đến ta? Mọi chuyện chấm dứt rồi! Chẳng còn manh mối nào sất!” Và hắn bật cười. Phải, hắn nhớ ra rằng mình đã bắt đầu cười—một tiếng cười the thé, đầy căng thẳng, không một tiếng động—và cứ cười mãi trong suốt quãng đường băng qua quảng trường. Nhưng khi vừa đặt chân đến đại lộ K——, nơi hai hôm trước hắn từng chạm trán cô gái ấy, tiếng cười của hắn bỗng nhiên vụt tắt. Những ý nghĩ khác lại luồn lách vào tâm trí hắn. Hắn bỗng cảm thấy thật ghê tởm khi phải đi ngang qua chiếc ghế dài—nơi sau khi cô gái rời đi, hắn từng ngồi đó để trầm ngâm suy tính—và hắn cũng thấy thật căm ghét cái tay cảnh sát rậm râu mà hắn từng dúi cho hai mươi kopeck: “Mặc thây hắn!”
Hắn bước đi, mắt đảo quanh đầy giận dữ và lơ đễnh. Giờ đây, mọi suy nghĩ trong đầu hắn dường như cứ quần quật xoay quanh một điểm duy nhất, và hắn cảm thấy quả thực có một điểm như thế, để giờ đây, ngay lúc này đây, hắn bị bỏ lại đối mặt trực diện với cái điểm đó—và quả thực, đây là lần đầu tiên trong suốt hai tháng qua.
“Mặc kệ đời!” hắn đột ngột nghĩ bụng, trong cơn cuồng nộ không tài nào kìm chế nổi. “Đã đâm lao thì phải theo lao. Tiên sư cái cuộc sống mới mẻ này! Lạy Chúa, sao mà ngốc nghếch thế cơ chứ!... Và hôm nay mình đã thốt ra bao nhiêu lời dối trá! Sao mình lại có thể hèn hạ nịnh hót cái lão Ilya Petrovitch khốn nạn đó đến vậy! Nhưng chuyện đó nhảm nhí hết! Ta thèm vào mấy kẻ đó, thèm vào cái thói nịnh hót của ta làm gì! Không phải thế! Hoàn toàn không phải thế!”
Đột ngột, hắn khựng lại; một câu hỏi mới, hoàn toàn bất ngờ và vô cùng đơn giản bỗng làm hắn bối rối và hoang mang đến cực điểm.
“Nếu tất cả những chuyện này thực sự được trù tính có chủ đích chứ không phải do ngu ngốc, nếu quả thực ta có một mục đích chắc chắn và rõ ràng, sao ta lại đến cả cái liếc mắt vào trong ví cũng không làm, và rốt cuộc chẳng biết bên trong có những gì, thứ mà vì nó ta phải chịu đựng bao đớn đau này, và đã chủ tâm dấn thân vào cái trò đê tiện, bẩn thỉu nhục nhã này? Vậy mà ở đây ta lại muốn ngay lập tức quẳng chiếc ví xuống nước cùng với toàn bộ đống đồ đạc mà bản thân còn chưa từng ngó ngàng tới... thế là thế nào nhỉ?”
Phải, là thế đấy, mọi chuyện đúng là thế đấy. Ấy vậy mà hắn đã biết hết thảy những điều đó từ trước, và đó chẳng phải là câu hỏi mới mẻ gì đối với hắn, ngay cả khi nó được quyết định trong đêm tối mà chẳng mảy may do dự hay đắn đo, tựa hồ như mọi chuyện phải thế, tựa hồ như chẳng thể có cách nào khác... Phải, hắn đã biết tất cả, đã hiểu tất cả; chắc chắn mọi thứ đã được định đoạt từ ngày hôm qua, ngay khoảnh khắc hắn cúi người xuống chiếc hộp và lôi những chiếc tráp đựng đồ trang sức ra khỏi đó... Phải, sự tình chính là như vậy.
“Đó là vì ta đang lâm trọng bệnh,” cuối cùng hắn đành nhắm mắt buông lời quả quyết với vẻ mặt tối sầm, “ta cứ mãi bận tâm lo lắng và dằn vặt bản thân, để rồi chẳng biết mình đang làm cái quái gì nữa... Ngày hôm qua, ngày hôm kia và suốt khoảng thời gian này ta cứ tự hành hạ mình... Ta sẽ khỏe lại và sẽ thôi không dằn vặt nữa... Nhưng nhỡ ta cứ bệnh hoài không khỏi thì sao? Lạy Chúa, sao mà ta ngán ngẩm cái cảnh này đến thế!”
Hắn cứ thế cắm cổ bước đi chẳng nghỉ ngơi. Hắn thèm khát đến cuồng si một sự khuây khỏa nào đó, nhưng lại chẳng biết phải làm gì, phải thử vươn tới điều chi. Một cảm giác ngột ngạt mới mẻ đang ngày một lấn át và bủa vây lấy tâm trí hắn: đó là sự ghê tởm vô bờ bến, gần như thuộc về thể xác, đối với vạn vật xung quanh, một nỗi căm ghét ngoan cố và đầy ác độc. Tất cả những ai đi ngang qua đều khiến hắn thấy gớm ghiếc—hắn căm ghét gương mặt họ, cử động của họ, điệu bộ của họ. Hắn có cảm giác rằng nếu lúc ấy có ai cất lời bắt chuyện với mình, hắn sẵn sàng nhổ nước bọt vào mặt hoặc lao vào cắn kẻ đó cho bõ ghét...
Hắn sững người dừng bước khi ra tới bờ Tiểu Neva, gần cây cầu bắc sang đảo Vassilyevsky. “Ơ hay, hắn ở đây cơ mà, ở cái tòa nhà kia kìa,” hắn thầm nghĩ, “sao mình lại chẳng hề có ý định đến gặp Razumihin thế này! Lại cái trò cù nhầy y hệt rồi... Dù sao thì cũng rất đáng để xem xét; thế rốt cuộc là mình đến đây có mục đích hay chỉ lang thang vô tình bước đến đây? Kệ đi, hôm kia mình từng bảo hai ngày nữa sẽ ghé thăm hắn cơ mà; thì đây, ta sẽ ghé! Hơn nữa, lúc này ta thực sự chẳng thể lê bước đi xa hơn nổi nữa.”
Hắn tiến lên căn phòng của Razumihin ở tầng năm.
Gã bạn hắn đang ở nhà, ngồi trên gác xép cặm cụi viết lách, và chính tay gã đã mở cửa. Đã bốn tháng nay hai người chưa gặp lại nhau. Razumihin mặc chiếc áo choàng tắm rách rưới, chân trần xỏ dép, đầu tóc bù xù, râu ria xồm xoàm và mặt mũi nhếch nhác chưa rửa. Gã ngó hắn với vẻ ngạc nhiên tột độ.
“Cậu đấy ư?” gã kêu lên. Gã đảo mắt đánh giá bộ dạng bạn từ đầu đến chân; rồi sau một khoảng lặng ngắn, gã huýt sáo. “Túng quẫn đến mức độ này cơ á! Chà, người anh em, cậu qua mặt tớ rồi đấy!” gã nói thêm, liếc nhìn bộ quần áo rách rưới của Raskolnikov. “Vào đây ngồi đi, tớ cá là cậu mệt lử rồi chứ gì.”
Và khi Raskolnikov thả mình xuống chiếc ghế sô-bê-fa bọc da kiểu Mỹ—thậm chí còn tồi tàn hơn cả chiếc ghế của chính gã—Razumihin nhận ra ngay lập tức vị khách của mình đang đổ bệnh.
“Ơ hay, cậu đang ốm nặng đấy, cậu có biết không?” Gã bắt đầu bắt mạch cho bạn. Raskolnikov liền giật phắt tay lại.
“Không sao,” hắn bảo, “tớ đến vì chuyện này: tớ chẳng còn mối dạy kèm nào... tớ muốn,... nhưng thực ra tớ cũng chẳng cần dạy kèm nữa...”
“Nhưng tớ nói thật đấy! Cậu đang mê sảng rồi còn gì!” Razumihin nhận xét, chăm chú quan sát bạn.
“Không, tớ không hề.”
Raskolnikov đứng phắt dậy khỏi chiếc ghế dài. Lúc bước lên những bậc cầu thang dẫn vào phòng Razumihin, hắn vốn chưa hề ý thức được rằng mình sắp sửa phải đối mặt trực diện với cậu bạn thân. Giờ đây, trong một chớp mắt, hắn nhận ra rằng thứ mà hắn ít muốn làm nhất trên đời vào lúc này chính là giáp mặt với bất kỳ ai trên cõi đời rộng lớn này. Cơn thịnh nộ bốc lên ngùn ngụt trong lòng. Hắn suýt nghẹn thở vì tức tối chính mình ngay khi vừa đặt chân qua thềm cửa nhà Razumihin.
“Chào cậu nhé,” hắn cộc lốc nói, rồi quay bước ra cửa.
“Đứng lại, đứng lại! Cậu hâm dở này.”
“Tớ không muốn,” Raskolnikov đáp, lại giật phắt tay ra.
“Thế quái nào mà cậu lại lết xác đến đây? Cậu điên rồi hay sao hả? Bộ trò này... suýt thì thành ra hỗn láo đấy nhé! Tớ không đời nào để cậu chuồn kiểu đó đâu.”
“Thì... tớ đến tìm cậu vì tớ chẳng biết một ai ngoài cậu có thể giúp... để bắt đầu... vì cậu tử tế hơn bất kỳ ai—ý tớ là thông minh hơn, và có thể phán đoán... và giờ thì tớ thấy mình chẳng cần cái quái gì nữa. Cậu nghe thấy chưa? Chẳng cần gì sất... chẳng cần ơn huệ của ai... chẳng cần sự thông cảm của ai cả. Tớ tự lo lấy... một mình. Thôi, thế là đủ rồi. Để mặc tớ yên.”
“Chờ tí đã, cái đồ quỷ sứ này! Cậuích kỷ và điên khùng thật rồi đấy. Tùy cậu muốn thế nào thì tùy, tớ chẳng thèm chấp. Tớ chẳng có học sinh nào cả, cậu thấy đấy, và tớ cũng chẳng màng chuyện đó, nhưng có một tay hàng sách tên là Heruvimov—và hắn chính là nguồn thu thay cho việc dạy kèm đấy. Tớ đố ai đổi được hắn lấy năm suất dạy kèm đấy nhé. Hắn đang hì hục lo việc xuất bản sách vở nào là cẩm nang khoa học tự nhiên các thứ và mấy cuốn ấy phát hành chạy lắm chứ bộ! Chỉ riêng nhan đề sách thôi đã đủ đáng đồng tiền bát gạo rồi! Cậu lúc nào cũng cả quyết rằng tớ là một thằng ngốc, nhưng thề có Chúa, bạn hiền ạ, còn khối kẻ ngốc hơn cả tớ cơ! Giờ đây hắn đang phất cờ làm người đi đầu thời đại, dẫu trong đầu hắn chẳng hề lõm bõm một chữ bẻ đôi nào về thời đại, nhưng đương nhiên là tớ vẫn phải xúi bẩy hắn rồi. Đây là hai bản thảo in thử tiếng Đức—theo quan điểm của tớ, đây là một trò bịp bợm trơ trẽn hết chỗ nói; nó bàn về vấn đề: ‘Liệu phụ nữ có phải con người hay không?’ Và dĩ nhiên, nó hùng hồn chứng minh rằng họ chính xác là con người. Heruvimov sắp sửa tung ra ấn phẩm này như một đóng góp cho phong trào phụ nữ; tớ đang dịch nó đây; hắn sẽ phóng đại hai bản rưỡi in thử ấy thành sáu bản, tụi mình sẽ nặn ra một cái tựa đề kêu như chuông dài nửa trang giấy và bán với giá nửa rúp. Thế là đủ ấm! Hắn trả tớ sáu rúp cho mỗi bản in thử, tính ra cũng khoảng mười lăm rúp cho cả cục việc này, và tớ đã ứng trước được sáu rúp rồi đấy. Khi nạm xong món này, tụi mình sẽ chuyển sang dịch một bài về loài cá voi, rồi sau đó tớ đã chấm sẵn mấy vụ bê bối nhạt nhẽo nhất trích từ phần hai cuốn Tự Thú để dịch; có kẻ nào đó rỉ tai Heruvimov rằng Rousseau đại loại cũng giống như Radishchev vậy. Cậu cứ yên tâm là tớ chẳng đời nào cãi lại hắn đâu, mặc thây lão! Thế nào, cậu có muốn nhận dịch bản thảo phần hai của cuốn ‘Liệu phụ nữ có phải con người hay không’ không? Nếu muốn, cứ cầm lấy bản tiếng Đức, bút và giấy—tất cả đều có sẵn đây rồi—và cầm lấy ba rúp tiền mặt; vì tớ đã ứng trước sáu rúp cho toàn bộ công việc, nên ba rúp này là phần công sức của cậu đấy. Và khi nào cậu dịch xong bản thảo ấy, sẽ có thêm ba rúp nữa cho cậu. Và xin đừng nghĩ rằng tớ đang ban ơn cứu rỗi gì cho cậu nhé; hoàn toàn ngược lại đấy, ngay lúc cậu bước chân vào, tớ đã nhìn ra ngay cậu có thể giúp tớ những gì; thứ nhất, chính tả của tớ dốt đặc cán mai, và thứ hai, đôi khi tớ mù tịt tiếng Đức, thế nên phần lớn thời gian toàn là tớ tự bịa ra hành văn cho trôi chảy. Niềm an ủi duy nhất là nó chắc chắn sẽ đổi mới theo chiều hướng khá hơn. Mặc dù ai mà biết được, khối khi nó lại tệ đi cũng nên. Cậu có nhận hay không nào?”
Raskolnikov lầm lì cầm lấy tập tài liệu tiếng Đức, cầm lấy ba rúp rồi quay lưng bước thẳng ra cửa mà không nói một lời. Razumihin trân trân ngước nhìn theo với vẻ kinh ngạc tột độ. Nhưng khi Raskolnikov vừa ra đến con phố kế tiếp, hắn liền quay quắt trở lại, leo ngược cầu thang lên phòng Razumihin, ném bịch bài báo tiếng Đức cùng ba đồng rúp lên bàn rồi lại lủi thủi đi ra, vẫn không thèm hé răng lấy nửa lời.
“Cậu lên cơn điên hay đành hanh cái quái gì thế hả?” Razumihin lồng lộn cáu tiết gào lên. “Trò hề gì thế này? Cậu muốn làm cho tớ phát điên theo cậu luôn đấy phỏng... rốt cuộc cậu lết xác đến đây làm cái khỉ mốc gì thế, đồ quỷ tha ma bắt?”
“Tớ không muốn... dịch nữa,” Raskolnikov lẩm bẩm từ ngoài cầu thang vọng vào.
“Thế rốt cuộc cái quái gì mới làm cậu vừa lòng hả trời?” Razumihin từ trên cao gầm thét vọng xuống. Raskolnikov vẫn lầm lũi cắm cổ bước xuống cầu thang trong im lặng.
“Này! Cậu đang rúc ở xó nào thế hả?”
Bặt âm vô tín.
“Ừ, thế thì mặc xác cậu đi cho khuất mắt!”
Nhưng Raskolnikov lúc này đã bước ra tới mặt phố. Trên cầu Nikolaevsky, một sự cố khó chịu đã kéo hắn bừng tỉnh khỏi cơn mê sảng và đưa hắn trở về với thực tại đầy đủ. Sau khi gào mồm quát tháo hai ba lần mà không thấy hắn tránh, một gã đánh xe ngựa đã quất cho hắn một roi đau điếng vào lưng vì tội suýt đà lao đầu vào gầm móng ngựa. Cú quất roi giận dữ đến mức hắn lồng lộn lao phắt bám lấy lan can cầu (chẳng hiểu vì lý do giời ơi đất hỡi nào mà nãy giờ hắn cứ lang thang đi ngay giữa lòng đường xe cộ ngược xuôi trên cầu). Hắn giận tím mặt, nghiến răng ken két. Đương nhiên là hắn nghe thấy tiếng cười cợt xung quanh.
“Đáng đời cái đồ túng quẫn!”
“Chắc lại là thằng móc túi chứ gì.”
“Ra vẻ say xỉn cố tình lao đầu vào bánh xe để vạ lây cho người ta chứ giời lạ gì cái giống ấy, rồi lại chuốc họa vào thân gánh nợ thay cho nó.”
“Thành nghề ruột của bọn chúng cả rồi còn gì.”
Nhưng trong lúc hắn còn đứng bấu chặt vào lan can, mặt vẫn trơ ra vẻ bàng hoàng giận dữ nhìn theo chiếc xe ngựa đang lủi thủi khuất dạng và đưa tay xoa xoa cái lưng ê ẩm, hắn bỗng cảm thấy có ai đó nhét thứ gì vào tay mình. Hắn cúi xuống nhìn. Đó là một người đàn bà luống tuổi trùm khăn vuông, đi giày da dê, đi cùng một thiếu nữ—có lẽ là con gái bà—đội mũ và tay cầm chiếc ô che nắng màu xanh lục.
“Cầm lấy đi ông ơi, vì danh Chúa nhân từ.”
Hắn cầm lấy rồi họ bước qua đi luôn. Đó là một đồng xu hai mươi kopeck. Nhìn qua trang phục và vẻ bề ngoài của hắn, họ hoàn toàn có lý khi đinh ninh hắn là một kẻ ăn mày đang lê la xin xỏ dọc đường, và món quà hai mươi kopeck kia chắc chắn là tấm lòng xót thương dành cho cú quất roi thấu xương vừa rồi.
Hắn khép chặt tay lại bọc lấy đồng hai mươi kopeck, lê bước đi thêm mười bước rồi quay mặt hướng ra sông Neva, ngước nhìn về phía cung điện. Bầu trời không một gợn mây và dòng nước mang một màu xanh lam ngọc bích rực rỡ—điều hiếm thấy ở dòng Neva này. Mái vòm nhà thờ chính tòa—vốn đẹp nhất khi ngắm nhìn từ đoạn cầu cách nhà nguyện chừng hai mươi bước chân—tỏa sáng rực rỡ dưới ánh mặt trời, và trong bầu không khí trong trẻo ấy, từng món họa tiết trang trí trên đó hiện lên rõ mồn một. Cơn đau rát do nhát roi giáng xuống đã lùi xa, và Raskolnikov hoàn toàn quên bẵng nó đi; một ý nghĩ bất an, mông lung và chưa rõ hình hài giờ đây chiếm trọn tâm trí hắn. Hắn đứng chết trân tại chỗ, đăm đăm nhìn xa xăm vào cõi hư không; khung cảnh này quá đỗi thân thuộc đối với hắn. Thời còn cồn cào đèn sách ở trường đại học, đã hàng trăm lần—thường là trên đường lủi thủi bước về phòng trọ—hắn cứ đứng lặng ngắt ở cái góc này, ngắm nghía bức tranh hoành tráng đến nao lòng này và hầu như lần nào cũng ngạc nhiên trước thứ cảm xúc mơ hồ và kỳ bí mà nó khơi gợi trong lòng hắn. Nó mang lại cho hắn một cảm giác lạnh lẽo đến kỳ lạ; bức tranh hoa lệ ấy đối với hắn trơ trụi và vô hồn biết bao. Hắn ngạc nhiên tự hỏi bản thân trước những ấn tượng u ám và bí hiểm ấy, để rồi hoài nghi chính mình, lại gác lại việc tìm kiếm lời giải đáp cho nó. Hắn sống động nhớ lại những mối băn khoăn và ngờ vực thuở trước, và hắn có cảm giác rằng việc bản thân nhớ lại chúng lúc này không đơn thuần chỉ là một sự ngẫu nhiên. Hắn thấy thật kỳ quặc và lố bịch làm sao khi mình lại dừng chân đúng y cái chỗ cũ thế này, tựa hồ như hắn thực sự tưởng tượng ra rằng mình có thể suy ngẫm những luồng tư tưởng cũ, có thể hứng thú với những học thuyết và bức tranh từng làm hắn say mê... chỉ mới cách đây ít lâu. Hắn cảm thấy điều đó vừa buồn cười làm sao, nhưng cũng quặn thắt cả tâm can. Tận sâu thẳm bên trong, bị khuất lấp đi khỏi tầm mắt, tất cả những thứ ấy giờ đây đối với hắn—toàn bộ quá khứ cũ kỹ, những tư tưởng cũ kỹ, những vấn đề và học thuyết cũ kỹ, những ấn tượng cũ kỹ cùng bức tranh ấy và chính bản thân hắn và tất cả, tất cả... Hắn có cảm giác như thể mình đang tung bay vút lên bầu trời, và vạn vật đang nhòa đi khuất tầm mắt. Bất giác buông lơi cử động cánh tay, hắn bỗng nhận ra đồng tiền xu đang nằm gọn trong nắm đấm của mình. Hắn xòe tay ra, trân trân nhìn chằm chằm vào đồng xu, rồi vung tay ném phăng nó xuống dòng nước sâu; đoạn hắn quay lưng cắm cổ bước về nhà. Hắn có cảm giác rằng từ khoảnh khắc ấy, hắn đã tự cắt đứt mọi liên dây với tất cả mọi người và vạn vật trên đời.
Buổi chiều tối đã buông xuống khi hắn lết về đến phòng, tính ra hắn đã lang thang đi bộ khoảng sáu tiếng đồng hồ. Bằng cách nào và đi qua những nẻo đường nào để trở về, hắn hoàn toàn không nhớ nổi nữa. Cởi bỏ quần áo, run lẩy bẩy như một con chiến mã bị vắt kiệt sức, hắn thả người nằm vật xuống chiếc ghế dài, kéo chiếc áo khoác đại cán trùm lên người, và chìm ngay vào cõi vô thức...
Trời đã nhá nhem tối khi hắn bị đánh thức bởi một tiếng thét kinh hoàng. Lạy Chúa tôi, tiếng thét gì mà khủng khiếp thế! Những âm thanh phi tự nhiên ấy, tiếng hú hét, gào khóc, nghiến răng, tiếng nức nở, những đòn roi và chửi rủa vang lên thứ âm thanh mà hắn chưa từng nghe thấy bao giờ.
Hắn chưa bao giờ có thể tưởng tượng ra nổi sự tàn nhẫn và cuồng loạn đến thế. Trong cơn khiếp đảm, hắn chồm dậy ngồi trên giường, suýt ngất lịm đi vì đau đớn. Nhưng tiếng ẩu đả, gào khóc và chửi rủa ngày càng dội lên to hơn, dữ dội hơn. Và rồi, đến sự kinh ngạc tột độ của bản thân, hắn nhận ra giọng của mụ chủ nhà. Mụ đang gào thét, tru tréo và khóc lóc một cách dồn dập, luống cuống, lắp bắp đến mức hắn chẳng tài nào nghe ra mụ đang lải nhải cái quái gì; chắc hẳn mụ đang van xin đừng đánh đập mình, vì mụ đang bị đòn roi vô thương tích giã nát người ngay ngoài cầu thang. Giọng của kẻ ra tay hành hung mụ gớm ghiếc đến mức rợn tóc gáy vì căm hận và cuồng nộ, nghe chừng khàn đặc cả đi; nhưng gã ta cũng đang gào thét thứ gì đó, dồn dập và ú ớ chẳng kém, vừa hộc hệch vừa phun nước bọt. Đột nhiên Raskolnikov run lẩy bẩy; hắn nhận ra cái giọng nói ấy—đó chính là giọng của Ilya Petrovitch. Lão Ilya Petrovitch đang ở đây và đang giở trò thượng cẳng chân hạ cẳng tay với mụ chủ nhà! Lão đang đá mụ, đang đập đầu mụ vào những bậc cầu thang—rõ mồn một thế cơ mà, điều đó có thể nhận ra qua âm thanh, qua tiếng khóc thét và những cú va đập thình thịch. Quái lạ, thế cái thế giới này đảo lộn tùng phèo cả rồi hay sao? Hắn nghe rõ mồn một tiếng người ta đang ào ào tụ tập từ tất cả các tầng và các ngách cầu thang chạy túa ra; hắn nghe thấy tiếng người, tiếng hò hét, tiếng đập cửa, tiếng sập cửa ầm ầm. “Nhưng rốt cuộc tại sao, tại sao, và làm sao chuyện này lại xảy ra cơ chứ?” hắn cứ lẩm bẩm lặp đi lặp lại, thực sự đinh ninh rằng mình đã phát điên mất rồi. Nhưng không, hắn nghe quá rõ ràng cơ mà! Và rồi thế nào họ cũng sẽ kéo đến phòng hắn cho mà xem, “vì chắc chắn là... tất cả chỉ vì chuyện đó... vì chuyện ngày hôm qua... Lạy Chúa tôi!” Hắn toan chốt cửa lại bằng then cài, nhưng đôi tay chẳng còn chút sức lực nào để nhấc lên nổi... hơn nữa, làm thế cũng chẳng để làm gì. Nỗi kinh hoàng bóp nghẹt trái tim hắn lạnh ngắt như băng, tra tấn hắn và tê liệt hóa tâm can hắn... Nhưng cuối cùng thì mớ hỗn độn huyên náo đó, sau chừng mười phút kéo dài, cũng bắt đầu dịu dần xuống. Mụ chủ nhà đang rên rỉ và khóc lóc tỉ tê; Ilya Petrovitch vẫn tiếp tục phun ra những lời đe dọa và nguyền rủa... Nhưng rồi cuối cùng dường như cả lão ta cũng im bặt, chẳng còn nghe thấy tiếng lão nữa. “Bộ lão ta chuồn mất rồi chắc? Lạy Chúa!” Đúng thế, và giờ thì mụ chủ nhà cũng đang tập tễnh lê bước đi, miệng vẫn sụt sùi khóc lóc rên rỉ... rồi tiếng sập cửa phòng mụ vang lên... Giờ thì đám đông đang lục đục rời khỏi cầu thang để về phòng, họ vừa đi vừa bàn tán xôn xao, tranh cãi, gọi với nhau, có lúc cất cao giọng gào thét, có lúc hạ thấp xuống thì thầm to nhỏ. Chắc hẳn phải có đến cả đống người—gần như toàn bộ cư dân trong khu chung cư. “Nhưng lạy Chúa, sao chuyện này lại có thể xảy ra được cơ chứ! Và tại sao, tại sao lão ta lại mò đến đây!”
Raskolnikov kiệt sức thả mình sụp xuống chiếc ghế sô-bê-fa, nhưng chẳng tài nào chợp mắt nổi. Hắn nằm đờ đẫn suốt nửa tiếng đồng hồ trong nỗi thống khổ tột cùng, một cảm giác kinh hoàng vô tận không thể tả xiết mà trước đó hắn chưa từng trải qua bao giờ. Bất thình lình, một thứ ánh sáng chói lọi rọi thẳng vào phòng hắn. Nastasya bước vào tay cầm ngọn nến và một đĩa súp. Đăm đăm nhìn hắn kỹ lưỡng và xác định chắc chắn rằng hắn chưa chìm vào giấc ngủ, mụ đặt ngọn nến lên bàn rồi bắt đầu bày biện những thứ mang theo—bánh mì, muối, một chiếc đĩa, một cái thìa.
“Chắc chắn là từ hôm qua đến giờ chú em chẳng hột cơm nào vào bụng rồi phỏng. Cả ngày lết đi lết lại lang thang để rồi giờ đây người ngợm run bần bật vì sốt rét thế này đây.”
“Nastasya... rốt cuộc người ta đánh mụ chủ nhà vì chuyện gì thế?”
Mụ đăm đăm nhìn thẳng vào mặt hắn.
“Ai đánh mụ chủ nhà cơ?”
“Hồi nãy ấy... cách đây nửa tiếng đồng hồ, lão Ilya Petrovitch, gã phó ty cảnh sát, ngay ngoài cầu thang ấy... Sao lão ta lại đối xử tàn nhẫn với mụ ấy như thế, và... sao lão lại có mặt ở đây?”
Nastasya săm soi hắn, mặt đăm đăm gặng hỏi và im lặng chẳng nói gì, ánh nhìn của mụ kéo dài dằng dặc. Hắn bỗng thấy bất an, thậm chí hoảng sợ trước đôi mắt soi mói ấy của mụ.
“Nastasya, sao cô chẳng nói năng gì thế?” cuối cùng hắn rụt rè cất giọng yếu ớt hỏi.
“Là do máu đấy thôi,” cuối cùng mụ lẩm bẩm đáp lại gọn lỏn, nghe như thể đang tự lầm bầm một mình.
“Máu? Máu gì cơ chứ?” hắn ú ớ thảng thốt, mặt cắt không còn giọt máu, quay phắt mặt vào phía vách tường.
Nastasya vẫn trân trân nhìn hắn không nói một lời.
“Chẳng có ai đánh đập mụ chủ nhà nào sất,” cuối cùng mụ khẳng định chắc nịch với giọng điệu kiên quyết.
Hắn trân trân nhìn mụ, gần như chẳng thở nổi.
“Chính tai tôi nghe thấy cơ mà... Tôi có ngủ ngáy gì đâu... Tôi vẫn đang ngồi thức đây chứ,” hắn càng lúc càng rụt rè thanh minh. “Tôi đã lắng nghe suốt một hồi lâu. Gã phó ty cảnh sát đã đến... Tất cả mọi người từ các căn hộ đều nhốn nháo chạy túa ra cầu thang.”
“Chẳng có ai bén mảng đến đây cả. Đấy là do tiếng máu đang đập bùng bùng trong tai chú em đấy thôi. Khi máu không tìm được lối thoát và bị vón cục lại, chú em bắt đầu sinh ra ảo giác vớ vẩn ấy mà... Chú có muốn ăn chút gì không?”
Hắn chẳng đáp lời. Nastasya vẫn đứng sừng sững trùm lên người hắn, đăm đăm quan sát từng biểu cảm.
“Cho tôi xin chút nước uống... Nastasya.”
Mụ lủi thủi đi xuống nhà dưới rồi quay lên với một chiếc vò nước bằng đất nung màu trắng. Hắn chỉ nhớ lờ mờ là mình vừa ngụm được một ngụm nước lạnh và làm đổ té cả ra cổ áo. Rồi sau đó, mọi thứ chìm dần vào cõi vô thức lãng quên.