Cùng ngày hôm đó, vào khoảng bảy giờ tối, Raskolnikov đang trên đường đến phòng trọ của mẹ và em gái — căn phòng ở tòa nhà của Bakaleyev mà Razumikhin đã tìm giúp họ. Cầu thang dẫn thẳng từ đường lớn lên. Raskolnikov bước đi với đôi chân nặng nề, như thể vẫn còn đang do dự không biết có nên đi tiếp hay không. Nhưng không gì có thể kéo anh quay lại được nữa: quyết định của anh đã được định đoạt.
“Vả lại, cũng chẳng sao, họ vẫn chưa biết gì,” anh nghĩ, “và họ đã quen coi mình là kẻ kỳ cục rồi.”
Trang phục của anh thật thảm hại: quần áo rách rưới, bẩn thỉu, ướt sũng vì trận mưa dầm đêm qua. Gương mặt anh gần như biến dạng vì mệt mỏi, vì sương gió và cuộc đấu tranh nội tâm kéo dài suốt hai mươi bốn tiếng đồng hồ. Anh đã trải qua toàn bộ đêm hôm qua một mình, Chúa mới biết ở đâu. Dù sao thì anh cũng đã đưa ra quyết định.
Anh gõ cửa và người ra mở là mẹ anh. Dounia không có nhà. Ngay cả người hầu gái lúc đó cũng đi vắng. Thoạt đầu, Pulcheria Alexandrovna chết lặng vì vui mừng và ngạc nhiên; rồi bà nắm lấy tay anh kéo vào trong phòng.
“Con đây rồi!” bà cất lời, nghẹn ngào vì niềm hạnh phúc. “Đừng giận mẹ nhé, Rodya, vì đã đón con một cách ngớ ngẩn bằng những giọt nước mắt: mẹ đang cười chứ đâu có khóc. Con tưởng mẹ đang khóc à? Không, mẹ mừng lắm, nhưng mẹ lại mắc cái thói quen ngốc nghếch là cứ hay rưng rưng nước mắt. Mẹ bị thế từ hồi bố con qua đời cơ. Chuyện gì mẹ cũng khóc được. Ngồi xuống đi con yêu, chắc con mệt lắm rồi; mẹ thấy rõ điều đó mà. Cha chả, người con dính đầy bùn đất kìa.”
“Hôm qua con bị dính mưa, thưa mẹ…” Raskolnikov bắt đầu nói.
“Không, không,” Pulcheria Alexandrovna vội vã ngắt lời, “con lại tưởng mẹ sắp tra hỏi con theo cái kiểu đàn bà ngày trước phải không; đừng lo, mẹ hiểu mà, mẹ hiểu tất cả: giờ thì mẹ đã quen với cung cách ở đây và thực sự mẹ thấy chúng tốt hơn nhiều. Mẹ đã quyết định một lần cho trọn: làm sao mẹ có thể hiểu được những dự định của con hay bắt con phải báo cáo về chúng cơ chứ? Chúa mới biết con có những bận tâm hay kế hoạch gì, hay con đang ấp ủ những tư tưởng gì; thế nên mẹ nào có dám chõ vào, cứ gặng hỏi con đang nghĩ gì trong đầu chứ? Nhưng lạy Chúa tôi! Sao mẹ cứ đi tới đi lui như người mất hồn thế này… Mẹ đang đọc bài báo của con trên tạp chí lần thứ ba rồi đấy, Rodya. Dmitri Prokofitch đã mang nó đến cho mẹ. Vừa trông thấy là mẹ đã tự kêu lên: ‘Này cái đồ ngốc kia,’ mẹ tự nhủ, ‘đây chính là việc nó đang bận tâm đây; đây là lời giải đáp cho điều bí ẩn rồi! Những người học thức bao giờ cũng thế. Có lẽ lúc này trong đầu nó có những tư tưởng mới; nó đang nghiền ngẫm chúng trong khi mình cứ làm phiền và gây xáo trộn cho nó.’ Mẹ đọc nó, con yêu ạ, và dĩ nhiên có rất nhiều điều mẹ không hiểu; nhưng thế là phải — sao mẹ hiểu hết được chứ?”
“Đưa con xem nào, mẹ.”
Raskolnikov cầm lấy cuốn tạp chí và liếc nhìn bài báo của mình. Dù nó chẳng hề ¨ăn nhập gì với tâm trạng và hoàn cảnh lúc bấy giờ, anh vẫn cảm nhận được thứ cảm giác lạ lùng, vừa cay đắng vừa ngọt ngào mà bất kỳ tác giả nào cũng trải qua lần đầu tiên nhìn thấy tác phẩm của mình được in thành sách; vả lại, anh mới chỉ hai mươi ba tuổi. Cảm giác ấy chỉ kéo dài trong chốc lát. Sau khi đọc lướt qua vài dòng, anh nhíu mày và trái tim thắt lại vì đau đớn. Anh hồi tưởng lại toàn bộ cuộc giằng xé nội tâm trong những tháng qua. Anh ném phịch bài báo lên bàn với vẻ chán ghét và tức giận.
“Nhưng, dẫu mẹ có ngốc nghếch đến đâu đi nữa, Rodya, mẹ vẫn nhận ra rằng chẳng mấy chốc con sẽ trở thành một trong những nhân vật hàng đầu — nếu không muốn nói là hàng đầu — trong giới trí thức Nga. Thế mà bọn chúng lại dám nghĩ là con bị điên đấy! Con không biết đâu, nhưng chúng thực sự đã nghĩ thế đấy. Hả, lũ khốn nạn đáng khinh, làm sao chúng hiểu được thiên tài cơ chứ! Ngay cả Dounia, Dounia cũng suýt tin điều đó — con tính sao đây? Bố con đã từng hai lần gửi bài cho các tòa soạn — lần đầu là thơ (mẹ vẫn giữ bản thảo và sẽ cho con xem) và lần thứ hai là cả một cuốn tiểu thuyết (mẹ đã nài nỉ ông ấy cho mẹ chép lại) và biết bao lần chúng ta cầu nguyện mong chúng được nhận — thế mà họ chẳng thèm lấy! Mẹ đã từng đau đớn đến đứt ruột đứt gan, Rodya, chỉ vì chuyện ăn mặc và cách sống của con cách đây sáu bảy ngày thôi. Nhưng giờ thì mẹ lại thấy mình thật ngốc nghếch biết bao, vì với trí tuệ và tài năng của mình, con có thể đạt được bất kỳ địa vị nào con muốn. Chắc chắn là hiện tại con không bận tâm đến điều đó và đang mưu tính những việc quan trọng hơn nhiều…”
“Dounia không có nhà hả mẹ?”
“Không, Rodya. Mẹ thường xuyên chẳng gặp nó; nó cứ để mẹ ở nhà một mình. Dmitri Prokofitch hay sang thăm mẹ, nó tử tế quá chừng, và lúc nào cũng nói về con. Nó yêu quý và kính trọng con lắm, con yêu ạ. Mẹ không có ý chê trách Dounia thiếu chu đáo đâu. Mẹ không phàn nàn gì cả. Nó có lối sống của nó và mẹ có lối sống của mẹ; dạo này hình như nó có vài điều bí mật trong khi mẹ chẳng bao giờ giấu giếm hai anh em con điều gì. Dĩ nhiên, mẹ tin chắc là Dounia thừa sự khôn ngoan, và vả lại nó rất yêu con và yêu mẹ… nhưng mẹ không biết mọi chuyện rồi sẽ đi đến đâu. Con làm mẹ hạnh phúc biết bao khi đến thăm lúc này, Rodya, ngặt một nỗi nó lại đi vắng mất; lúc nó về mẹ sẽ bảo nó rằng: ‘Anh con đã ghé lúc con đi vắng đấy. Con đi đâu suốt thời gian qua thế?’ Con đừng có chiều hư mẹ nhé, Rodya; cứ ghé thăm khi con rảnh, còn không được thì chẳng sao đâu, mẹ chờ được mà. Dù sao thì mẹ cũng biết là con yêu quý mẹ, thế là quá đủ với mẹ rồi. Mẹ sẽ đọc những gì con viết, mẹ sẽ nghe ngóng tin tức về con từ mọi người, và thỉnh thoảng chính con sẽ ghé thăm mẹ. Còn gì tuyệt vời hơn thế chứ? Con đến đây lúc này là để an ủi mẹ đấy thôi, mẹ hiểu mà.”
Đến đây, Pulcheria Alexandrovna bắt đầu khóc.
“Lại thế nữa rồi! Đừng để ý đến cái thói ngớ ngẩn của mẹ nhé. Lạy Chúa, sao mẹ cứ ngồi thừ ra đây thế này?” bà kêu lên, vùng đứng dậy. “Có cà phê mà mẹ lại chẳng mời con lấy một ngụm. À, đúng là cái sự ích kỷ của tuổi già. Mẹ đi lấy ngay đây!”
“Mẹ đừng bận tâm, con đi ngay bây giờ đây. Con đến không phải vì chuyện đó. Xin mẹ hãy nghe con nói đã.”
Pulcheria Alexandrovna rụt rè bước lại gần anh.
“Mẹ ơi, dù có chuyện gì xảy ra đi nữa, dù mẹ có nghe thấy bất cứ điều gì về con, dù người ta có nói với mẹ thế nào đi nữa, mẹ vẫn sẽ mãi yêu con như lúc này chứ?” anh đột nhiên hỏi từ tận đáy lòng, như thể không hề suy nghĩ hay cân nhắc lời mình nói.
“Rodya, Rodya, có chuyện gì thế con? Sao con lại hỏi mẹ câu đó? Mà ai lại đi kể cho mẹ nghe chuyện gì về con chứ? Hơn nữa, mẹ cũng chẳng thèm tin ai, mẹ sẽ chẳng buồn nghe đâu.”
“Con đến để khẳng định với mẹ rằng con luôn yêu thương mẹ và con rất mừng vì chúng ta được ở một mình, thậm chí còn mừng vì Dounia không có nhà,” anh tiếp tục với cùng một thứ cảm xúc dâng trào. “Con đến để nói với mẹ rằng, dẫu mẹ có phải đau khổ, thì mẹ hãy tin rằng đứa con trai này hiện tại yêu mẹ còn hơn cả bản thân mình, và tất cả những gì mẹ từng nghĩ về con, rằng con tàn nhẫn và chẳng màng đến mẹ, tất cả đều là hiểu lầm cả. Con sẽ không bao giờ ngừng yêu thương mẹ… Thôi, thế là đủ rồi: con nghĩ mình phải làm việc này và bắt đầu từ điều này…”
Pulcheria Alexandrovna lặng lẽ ôm lấy anh, ép sát anh vào ngực và khóc nức nở nghẹn ngào.
“Mẹ không biết con bị làm sao nữa, Rodya,” cuối cùng bà cất lời. “Suốt thời gian qua mẹ cứ nghĩ rằng chúng ta chỉ làm con thấy phiền chán, còn giờ thì mẹ thấy rằng một nỗi buồn lớn đang chờ đón con, và đó là lý do khiến con khổ sở. Mẹ đã linh cảm thấy điều đó từ lâu rồi, Rodya. Tha lỗi cho mẹ vì đã nhắc đến chuyện này nhé. Mẹ cứ nghĩ hoài về nó và thao thức suốt đêm. Đêm qua em gái con ngủ cứ lẩm bẩm suốt, miệng không ngớt nhắc đến một mình con. Mẹ có nghe lõm bõm được vài từ, nhưng chẳng hiểu gì cả. Suốt cả sáng nay mẹ cứ có cảm giác như mình sắp bị đem đi treo cổ, cứ ngóng chờ điều gì đó, thấp thỏm đợi chờ điều gì đó, và giờ thì nó đã đến rồi! Rodya, Rodya, con định đi đâu thế? Con sắp đi đâu xa à?”
“Vâng.”
“Mẹ biết ngay mà! Con biết là mẹ có thể đi cùng con nếu con cần mà. Cả Dounia nữa; nó rất yêu con, yêu con vô cùng — và nếu con muốn, Sofya Semyonovna cũng có thể đi cùng chúng ta. Con thấy đấy, mẹ rất sẵn lòng coi con bé như con gái của mình… Dmitri Prokofitch sẽ giúp chúng ta đi cùng nhau. Nhưng… con… định đi đâu?”
“Tạm biệt mẹ.”
“Sao cơ, đi ngay hôm nay ư?” bà kêu lên, hệt như thể sắp vĩnh viễn mất đi đứa con trai vậy.
“Con không thể ở lại, bây giờ con phải đi ngay…”
“Thế mẹ không thể đi cùng con sao?”
“Không, nhưng mẹ hãy quỳ xuống cầu xin Chúa phù hộ cho con. Có lẽ lời cầu nguyện của mẹ sẽ thấu tới Ngài.”
“Để mẹ chúc phúc và làm dấu thánh cho con. Đúng rồi, thế mới phải chứ. Ôi Chúa ơi, chúng ta đang làm cái gì thế này?”
Phải, anh cảm thấy nhẹ nhõm, anh rất mừng vì ở đây không có ai khác, vì anh được ở một mình với mẹ. Lần đầu tiên sau ngã ba tháng ngày kinh hoàng ấy, trái tim anh mềm xèo trở lại. Anh quụp xuống trước mặt mẹ, hôn lên đôi bàn chân bà và cả hai ôm lấy nhau khóc nức nở. Và lần này bà không hề ngạc nhiên hay gặng hỏi gì anh cả. Mấy ngày nay bà đã láng mang nhận ra rằng một điều khủng khiếp nào đó đang giáng xuống đầu con trai mình và rằng một khoảnh khắc tột cùng phũ phàng đã điểm với nó.
“Rodya, cục cưng của mẹ, đứa con trai đầu lòng của mẹ,” bà nức nở nói, “giờ con lại y hệt như hồi còn bé xíu. Con cứ hay chạy đến bên mẹ thế này, ôm chầm lấy mẹ và hôn hít. Hồi bố con còn sống và nhà mình nghèo khó, con chỉ cần hiện diện ở đó thôi cũng đủ an ủi chúng ta rồi, và khi mẹ chôn cất bố con, biết bao lần chúng ta đã ôm nhau khóc bên nấm mồ của ông ấy, y như bây giờ. Và nếu dạo này mẹ hay khóc, ấy là vì trái tim người mẹ đã sớm linh cảm thấy tai hoạ. Lần đầu tiên gặp lại con vào cái buổi tối hôm ấy, con còn nhớ chứ, ngay lúc bọn mẹ đến đây, mẹ đã đoán ra chỉ qua ánh mắt của con. Tim mẹ chùng xuống ngay lập tức, và hôm nay lúc mở cửa nhìn thấy con, mẹ đã nghĩ rằng giờ phút định mệnh ấy đã đến rồi. Rodya, Rodya, hôm nay con không đi đâu chứ?”
“Không!”
“Con sẽ lại đến chứ?”
“Vâng… con sẽ đến.”
“Rodya, đừng giận nhé, mẹ không dám gặng hỏi con đâu. Mẹ biết mình không được phép. Chỉ nói với mẹ hai tiếng thôi — nơi con sắp đến có xa lắm không?”
“Rất xa.”
“Điều gì đang chờ đón con ở đó thế? Một chức vụ hay một con đường công danh nào đó chăng?”
“Chúa ban sao thì nhận vậy… mẹ chỉ cần cầu nguyện cho con.” Raskolnikov bước về phía cửa, nhưng bà chồm tới níu chặt lấy anh và tuyệt vọng nhìn sâu vào mắt anh. Gương mặt bà co giật vì khiếp hãi.
“Thôi đủ rồi, mẹ,” Raskolnikov nói, vô cùng hối hận vì đã quay lại đây.
“Không phải vĩnh viễn chứ, chưa phải là vĩnh viễn đúng không? Con sẽ đến chứ, ngày mai con sẽ đến chứ?”
“Con sẽ đến, nhất định con sẽ đến, tạm biệt mẹ.” Cuối cùng anh cũng vùng ra được.
Đó là một buổi tối ấm áp, trong lành và tươi sáng; trời đã hửng nắng từ ban sáng. Raskolnikov rảo bước về phòng trọ; anh đi rất vội. Anh muốn kết thúc mọi chuyện trước khi mặt trời lặn. Cho đến lúc đó, anh chẳng muốn chạm mặt bất kỳ ai. Khi bước lên cầu thang, anh nhận ra Nastasya đang lao từ chỗ cái ấm samovar ra để đăm đăm nhìn mình. “Liệu có ai đến tìm mình không nhỉ?” anh tự hỏi. Trong đầu anh hiện lên hình ảnh đầy ghê tởm của Porfiry. Nhưng vừa mở cửa phòng ra, anh đã thấy Dounia. Con bé đang ngồi một mình, chìm đắm trong những suy nghĩ sâu xa và trông có vẻ như đã chờ đợi từ lâu lắm rồi. Anh khựng lại ngay ngưỡng cửa. Dounia giật mình đứng phắt dậy khỏi chiếc ghế sô-pha, quay mặt đối diện với anh. Ánh mắt con bé dán chặt vào anh, đong đầy sự hoảng sợ và nỗi đau khổ vô bờ. Và chỉ cần nhìn vào ánh mắt ấy thôi là anh hiểu ngay rằng nó đã biết chuyện.
“Anh vào hay nên đi ra?” anh hỏi với giọng ngập ngừng.
“Em đã ở bên Sofya Semyonovna cả ngày hôm nay. Bọn em cùng chờ anh. Bọn em nghĩ thể nào anh cũng sẽ đến đó.”
Raskolnikov bước vào phòng và kiệt sức đổ sụp xuống một chiếc ghế.
“Anh thấy yếu lắm, Dounia ạ, anh mệt mỏi lắm rồi; và giá như lúc này anh có thể tự chủ được bản thân thì tốt biết mấy.”
Anh liếc nhìn con bé với vẻ đầy hoài nghi.
“Đêm qua anh đi đâu thế?”
“Anh nhớ không rõ lắm. Em biết đấy, anh muốn dứt khoát định đoạt một lần cho xong, và mấy bận anh cứ thẫn thờ đi dọc bờ sông Neva, anh nhớ là mình muốn chấm dứt tất cả ở đó, nhưng… anh không tài nào quyết định nổi,” anh thì thầm, lại đưa mắt nhìn con bé với vẻ ngờ vực.
“Tạ ơn Chúa! Đó cũng chính là điều mà em và Sofya Semyonovna lo sợ nhất. Thế là anh vẫn còn niềm tin vào cuộc sống phải không? Tạ ơn Chúa, tạ ơn Chúa!”
Raskolnikov cười nhạt.
“Anh chẳng còn niềm tin nào cả, nhưng anh vừa mới khóc trong vòng tay của mẹ; anh chẳng còn niềm tin, nhưng anh vừa xin mẹ cầu nguyện cho mình. Anh cũng không hiểu thế nào nữa Dounia ạ, anh chẳng tài nào hiểu nổi.”
“Anh đã đến chỗ mẹ ư? Anh đã nói cho mẹ biết rồi sao?” Dounia hoảng hốt kêu lên. “Chẳng lẽ anh lại làm thế thật à?”
“Không, anh không nói thẳng… bằng lời; nhưng mẹ đã hiểu được rất nhiều điều. Mẹ nghe thấy em lẩm bẩm trong giấc ngủ. Anh chắc là mẹ đã láng máng hiểu ra phân nửa rồi. Có lẽ anh đã sai khi đến gặp mẹ. Anh cũng chẳng hiểu sao mình lại đến đó nữa. Anh quả là một kẻ đê tiện, Dounia ạ.”
“Là một kẻ đê tiện, nhưng lại sẵn sàng đối mặt với sự trừng phạt! Anh là thế phải không?”
“Đúng, anh sắp đi đây. Ngay bây giờ. Đúng vậy, để trốn tránh sự nhục nhã, anh đã nghĩ đến chuyện nhảy xuống sông tự vẫn, Dounia ạ, nhưng khi nhìn xuống dòng nước, anh nghĩ rằng nếu từ trước đến nay mình vẫn tự cho là kẻ mạnh thì tốt hơn hết đừng nên sợ hãi sự ô nhục,” anh nói với giọng dồn dập. “Đó là tính kiêu ngạo đấy, Dounia.”
“Tính kiêu ngạo, Rodya.”
Một tia sáng lóe lên trong đôi mắt đục ngầu của anh; anh dường như cảm thấy hả hê khi nghĩ rằng mình vẫn còn chút kiêu ngạo.
“Em không nghĩ rằng, em gái ạ, là anh chỉ vì sợ nước đấy chứ?” anh hỏi, nhìn vào mặt con bé với một nụ cười nham hiểm.
“Ôi Rodya, thôi đi!” Dounia đau đớn thốt lên. Im lặng bao trùm trong hai phút. Anh ngồi cúi đầu đăm đăm nhìn xuống sàn nhà; Dounia đứng ở đầu bên kia chiếc bàn, đau đớn nhìn anh. Bỗng anh đứng phắt dậy.
“Trễ rồi, đến giờ phải đi thôi! Anh đi ra đầu thú đây. Nhưng anh cũng chẳng hiểu sao mình lại phải đi đầu thú nữa.”
Những giọt nước mắt lớn lăn dài trên má con bé.
“Em đang khóc đấy à, em gái, nhưng liệu em có thể chìa tay ra với anh không?”
“Anh lại nghi ngờ điều đó sao?”
Con bé lao đến ôm chầm lấy anh.
“Chẳng phải anh đang chuộc lại một phần tội lỗi bằng cách dũng cảm đối mặt với sự trừng phạt đó sao?” con bé khóc nức nở, siết chặt lấy anh và hôn anh.
“Tội lỗi ư? Tội lỗi gì chứ?” anh thét lên trong cơn giận dữ đột ngột. “Rằng anh đã giết chết một con rệp độc hại, một ả cho vay nặng lãi già nua chẳng tích sự gì cho đời!… Giết ả ta là chuộc tội cho bốn mươi điều ác. Ả đang hút máu những người nghèo khổ cơ mà. Thế có phải là tội ác không? Anh chẳng thèm nghĩ đến nó và cũng chẳng nghĩ đến chuyện chuộc tội gì sất, sao tất cả các người cứ nhai đi nhai lại mãi thế nhỉ? ‘Tội ác! Tội ác!’ Chỉ đến bây giờ anh mới thấy rõ sự ngu ngốc trong sự hèn nhát của mình, ngay lúc anh quyết định đối mặt với cái sự nhục nhã thừa thãi này. Chỉ vì anh là kẻ đê tiện và chẳng có tích sự gì trong người nên anh mới quyết định làm thế, có lẽ phần vì lợi ích của chính anh nữa, y như cái điều mà… Porfiry… đã gợi ý!”
“Anh ơi, anh ơi, anh đang nói gì thế hả? Chẳng phải anh đã đổ máu đó sao?” Dounia tuyệt vọng kêu lên.
“Thứ máu mà muôn người vẫn đổ,” anh cướp lời gần như điên cuồng, “thứ máu vẫn tuôn chảy và từ trước đến nay vẫn tuôn chảy thành dòng, bị đổ ra như rượu sâm-panh, và vì thế người ta được đội vòng nguyệt quế ở Điện Capitol rồi sau đó được tôn vinh là những ân nhân của nhân loại. Hãy nhìn nhận nó cho thấu đáo và hiểu cho đúng vào! Anh cũng muốn làm điều tốt cho con người và sẽ làm hàng trăm, hàng ngàn việc thiện để bù đắp cho cái sự ngu ngốc đó — thậm chí chẳng phải ngu ngốc, mà chỉ là vụng về thôi, vì ý tưởng đó vốn dĩ không hề ngu ngốc như nó có vẻ lúc này khi mà nó đã thất bại… (Mọi thứ đều có vẻ ngu ngốc khi nó thất bại.) Chỉ vì sự vụng về đó mà anh muốn tự đưa mình vào một vị thế độc lập, bước đi bước đầu tiên, kiếm lấy phương tiện, rồi sau đó mọi chuyện sẽ được dung hòa bằng những ân huệ vô bờ bến so với việc đó… Nhưng anh… anh thậm chí còn chẳng thực hiện nổi bước đầu tiên, bởi vì anh là kẻ đê tiện, vấn đề là ở chỗ đó đấy! Thế mà anh sẽ không nhìn nhận nó theo cách của các người đâu. Nếu anh thành công thì anh đã được đội vòng nguyệt quế vinh quang, còn giờ thì anh mắc bẫy rồi.”
“Nhưng không phải thế, không phải thế đâu anh! Anh đang nói gì thế hả?”
“Hừ, nó không đẹp đẽ hào nhoáng, không có sức hút thẩm mỹ chắc! Anh tài nào hiểu nổi vì sao việc nã pháo oanh tạc người ta theo kiểu vây hãm chính quy lại được coi là đáng trân trọng hơn cơ chứ. Nỗi sợ hãi trước ánh mắt người đời chính là triệu chứng đầu tiên của sự bất lực. Chưa bao giờ, chưa bao giờ anh nhận thức được điều này rõ ràng như lúc này, và anh càng lúc càng thấy việc mình làm chẳng phải là tội ác. Chưa bao giờ, chưa bao giờ anh thấy mình mạnh mẽ và tin chắc như lúc này.”
Màu máu bừng lên trên gương mặt tái nhợt và kiệt quệ của anh, nhưng khi thốt ra lời giải thích cuối cùng đó, anh chợt bắt gặp ánh mắt của Dounia và anh nhìn thấy nỗi đau đớn tột cùng trong đôi mắt ấy khiến anh không tài nào nói tiếp được nữa. Anh cảm thấy rằng dẫu sao thì mình cũng đã làm cho hai người phụ nữ tội nghiệp này đau khổ, rằng dẫu sao thì mình cũng là nguyên nhân….
“Dounia cưng, nếu anh có tội xin hãy tha thứ cho anh (dù rằng anh không thể được tha thứ nếu quả thực anh có tội). Tạm biệt nhé! Chúng ta sẽ không tranh cãi nữa đâu. Đã đến lúc, rất trừng lúc phải đi rồi. Đừng đi theo anh, anh nài nỉ đấy, anh còn phải đến một nơi khác… Còn em, hãy về ngay với mẹ đi. Anh van em đấy! Đó là thỉnh cầu cuối cùng của anh dành cho em. Đừng rời xa mẹ lúc nào nhé; anh để mẹ ở trong trạng thái lo lắng đến mức bà không thể chịu nổi đâu; mẹ sẽ chết hoặc phát điên mất. Hãy ở bên mẹ! Razumikhin sẽ ở cùng hai người. Anh đã nói chuyện với cậu ấy rồi… Đừng khóc vì anh: anh sẽ cố gắng sống thật lương thiện và nam tính suốt đời, dẫu anh có là kẻ sát nhân đi chăng nữa. Biết đâu có ngày anh cũng làm nên tên tuổi. Anh sẽ không làm nhục em đâu, em cứ chờ mà xem; anh vẫn sẽ chứng tỏ… Thôi tạm biệt em nhé,” anh vội vã chốt lại khi lại nhận ra vẻ kỳ lạ trong ánh mắt Dounia trước những lời hứa hẹn vừa rồi của mình. “Sao em lại khóc? Đừng khóc, đừng khóc nữa: chúng ta đâu phải vĩnh biệt nhau! À phải rồi! Chờ anh một phút, anh suýt quên mất!”
Anh bước đến bàn, cầm lấy một cuốn sách dày bám đầy bụi, lật mở nó ra và rút từ giữa những trang giấy một bức chân dung vẽ màu nước nhỏ trên nền ngà voi. Đó là chân dung con gái của bà chủ nhà trọ đã qua đời vì bệnh sốt, cô gái kỳ lạ từng muốn trở thành nữ tu. Trong một phút giây, anh đăm đăm nhìn gương mặt thanh tú đầy biểu cảm của vị hôn thê cũ, đặt một nụ hôn lên bức chân dung rồi đưa nó cho Dounia.
“Anh từng trò chuyện rất nhiều với cô ấy về chuyện đó, chỉ với cô ấy mà thôi,” anh trầm ngâm nói. “Anh đã thổ lộ với trái tim cô ấy rất nhiều điều mà sau này đã biến thành hiện thực một cách kinh hoàng như thế. Đừng lo lắng,” anh quay sang nói với Dounia, “cô ấy cũng phản đối chuyện đó dữ dội như em vậy, và anh mừng vì cô ấy đã đi rồi. Điểm cốt yếu là giờ đây mọi thứ sẽ đổi khác, sẽ bị bẻ gãy làm đôi,” anh bỗng thốt lên, rồi lại chìm nghỉm vào nỗi chán chường. “Mọi thứ, mọi thứ đều thế, và liệu anh đã sẵn sàng cho điều đó chưa? Chính bản thân anh có muốn điều đó không? Người ta bảo anh cần phải chịu đựng đau khổ! Mục đích của những sự đau khổ vô nghĩa này là gì chứ? Liệu khi bị vùi dập bởi nhọc nhằn cùng sự ngu muội, và yếu đuối như một ông lão sau hai mươi năm tù khổ sai, anh có hiểu rõ hơn vì sao mình phải chịu đựng không? Và khi ấy anh sẽ sống vì điều gì cơ chứ? Sao lúc này anh lại thuận tình chấp nhận cuộc sống đó cơ chứ? Ồ, anh biết mình là một kẻ hèn hạ khi đứng nhìn dòng sông Neva lúc rạng sáng hôm nay mà!”
Cuối cùng cả hai đều bước ra ngoài. Với Dounia, mọi thứ thật quá đỗi nặng nề, nhưng con bé yêu anh. Nó bước đi, nhưng đi được năm mươi bước thì nó quay lại nhìn anh lần nữa. Vẫn còn nhìn thấy bóng anh. Ở góc phố, anh cũng quay đầu lại và lần cuối cùng ánh mắt họ chạm nhau; nhưng nhận ra con bé đang nhìn mình, anh bực dọc xua tay ra hiệu bảo nó đi đi, rồi rẽ ngoặt qua góc phố.
“Mình thật độc ác, mình thấy rõ điều đó,” anh tự nhủ, giây lát sau cảm thấy xấu hổ vì cái cử chỉ cáu giận vừa rồi với Dounia. “Nhưng sao họ lại yêu quý mình đến thế trong khi mình chẳng hề xứng đáng? Ôi, giá như mình chỉ có một mình và chẳng ai yêu mình, và bản thân mình cũng chưa từng yêu ai cả! Sẽ chẳng có chuyện gì trong số những thứ này xảy ra cả. Nhưng ngộ nhỡ trong mười lăm hay hai mươi năm tới, liệu mình có trở nên ngoan ngoãn đến mức biết cúi đầu trước mọi người và khóc lóc van xin ở mọi câu rằng mình là kẻ tội phạm hay không? Vả lại, đúng thế rồi, chính là thế đấy, đó là lý do họ đày mình đến đó, đó là điều họ muốn. Nhìn kìa, lũ người đang chạy ngược chạy xuôi ngoài đường phố kia, đứa nào trong thâm tâm cũng là một tên để tiện, một tên tội phạm và tệ hơn thế nữa, là một lũ ngu ngốc. Nhưng thử cứu mình thoát xem, thể nào chúng chẳng nổi giận đùng đùng với thái độ phẫn nộ đầy ra vẻ đạo mức. Ồ, mình căm ghét tất cả bọn chúng biết bao!”
Anh bắt đầu trầm ngâm suy nghĩ bằng cách nào mà anh có thể cúi đầu trước tất cả bọn họ, không một ngoại lệ — cúi đầu vì sự thuyết phục. Mà rốt cuộc thì tại sao lại không chứ? Chắc chắn phải thế thôi. Chẳng lẽ hai mươi năm tù đày liên miên lại không thể nghiền nát anh ra thành cám sao? Nước chảy đá mòn mà. Và tại sao, tại sao anh phải sống tiếp sau chuyện đó? Tại sao lúc này anh vẫn cứ đi trong khi biết chắc mọi chuyện sẽ là như thế? Có lẽ đây là lần thứ một trăm anh tự hỏi bản thân câu hỏi ấy kể từ chiều tối hôm qua, thế nhưng anh vẫn bước đi.