Vào một buổi tối đầu tháng Bảy, trời nóng bức đến lạ thường, một thanh niên bước ra từ căn gác xép nơi cậu thuê trọ ở phố S. và lững thững đi về phía cầu K., dáng đi chần chừ như thể vẫn còn đang do dự.
Cậu đã may mắn tránh được mụ chủ nhà khi đi qua cầu thang. Căn gác trọ của cậu nằm dưới mái của một tòa nhà cao năm tầng, trông giống một chiếc tủ đựng đồ hơn là một phòng ở. Mụ chủ nhà — người cho cậu thuê gác, cung cấp bữa ăn và cả dịch vụ dọn dẹp — ở tầng dưới, thế nên cứ mỗi lần bước ra ngoài là cậu lại buộc phải đi ngang qua căn bếp nhà mụ, với cánh cửa lúc nào cũng mở toang. Và mỗi lần đi qua đó, người thanh niên lại có cảm giác buồn nôn, sợ hãi, khiến cậu cau mày và thấy xấu hổ ngập tràn. Cậu đang nợ mụ chủ nhà ngập đầu và vô cùng sợ hãi mỗi khi phải giáp mặt.
Sở dĩ như vậy không phải vì cậu hèn nhát hay ti tiện, mà trái lại; nhưng từ một dạo nay, cậu đã rơi vào trạng thái căng thẳng thần kinh quá mức, suýt chút nữa thì hóa thành bệnh trầm uất. Cậu đã chìm đắm hoàn toàn vào thế giới nội tâm và tự cô lập với xung quanh, đến nỗi không chỉ sợ chạm mặt mụ chủ nhà mà còn sợ gặp bất kỳ ai trên đời. Cậu bị nghẹt thở bởi đóng nghèo, nhưng những lo toan về hoàn cảnh dạo gần đây đã thôi không còn đè nặng lên cậu nữa. Cậu đã từ bỏ việc quan tâm đến những vấn đề thực tế đời thường, và cũng mất sạch mọi hứng thú với chúng. Chẳng có hành động nào của mụ chủ nhà có thể khiến cậu thực sự sợ hãi nữa. Thế nhưng, việc bị chặn lại trên cầu thang, buộc phải lắng nghe những lời bàn tán nhảm nhí, vô bổ của mụ, những đòi tiền phiền nhiễu, những lời đe dọa cùng ca thán, rồi phải vắt óc tìm lý do bào chữa, phải ngụy biện và nói dối — không, thà cứ bò rén như một con mèo xuống cầu thang rồi lẻn ra ngoài mà không ai thấy còn hơn là đối mặt với những thứ đó.
Thế nhưng vào buổi tối hôm nay, khi bước ra đường, cậu lại cảm nhận rõ mồn một nỗi sợ hãi của chính mình.
“Ta lại muốn làm một chuyện tày đình thế này mà lại đi sợ mấy chuyện vặt vãnh ấy ư,” cậu thầm nghĩ với một nụ cười kỳ lạ. “Hừm... phải, mọi chuyện đều nằm trong lòng bàn tay con người, thế mà ta lại để vụt mất tất cả chỉ vì hèn nhát, đó là một chân lý hiển nhiên. Thật đáng tiếc khi không biết con người ta sợ nhất điều gì. Bước đi một bước mới, cất lên một lời nói mới... đó là điều họ sợ nhất. Nhưng ta đang nói quá nhiều rồi. Chính vì hay luyên thuyên nên ta chẳng làm nổi việc gì cả. Hay có lẽ ta luyên thuyên vì ta chẳng làm nên tích sự gì chăng? Tháng vừa rồi ta đã học được thói ba hoa, nằm ì trong hang ổ của mình suốt mấy ngày liền để suy nghĩ... về Jack - kẻ diệt người khổng lồ. Sao bây giờ ta lại bước chân đến đó nhỉ? Liệu ta có đủ khả năng làm chuyện ấy không? Chuyện đó có nghiêm túc không? Hoàn toàn chẳng nghiêm túc chút nào. Đó chỉ là một trò ảo tưởng để tự giải khuây thôi, một món đồ chơi! Vâng, có lẽ chỉ là một thứ đồ chơi mà thôi.”
Cái nóng trên đường phố thật khủng khiếp: nào là không khí ngột ngạt, cảnh tượng huyên náo, vữa trát, giàn giáo, gạch ngói và bụi bặm xung quanh, cùng với thứ mùi hôi thối đặc trưng của thành phố Saint Petersburg — thứ mùi quen thuộc đến nao lòng với những ai không thể rời khỏi thị trấn vào mùa hè — tất cả đã tác động đầy đau đớn lên hệ thần kinh vốn đã căng như dây đàn của người thanh niên. Mùi hôi thối khó chịu bốc lên từ những quán rượu, vốn mọc lên nhan nhản ở khu vực đó của thành phố, cùng với những kẻ say khướt mà cậu liên tục gặp phải dẫu hôm nay là ngày làm việc, đã hoàn toàn tô điểm cho bức tranh khốn khổ đầy ghê tởm ấy. Một vẻ khinh bỉ tột cùng thoáng hiện trên gương mặt thanh tú của chàng thanh niên. Nhân tiện phải nhắc lại rằng cậu sở hữu vẻ ngoài vô cùng khôi ngô, chiều cao trên trung bình, dáng người mảnh dẻ, cân đối, với đôi mắt đen đẹp đẽ và mái tóc nâu trầm. Chẳng mấy chốc, cậu lại chìm sâu vào dòng suy nghĩ, hay nói chính xác hơn là vào một khoảng trống rỗng hoàn toàn trong tâm trí; cậu cứ thế bước đi mà chẳng màng quan sát những gì đang diễn ra xung quanh và cũng chẳng buồn để tâm đến chúng. Thỉnh thoảng, cậu lại lẩm bẩm một điều gì đó theo thói quen tự nói một mình mà cậu vừa tự thú nhận. Những lúc ấy, cậu nhận thức rõ rằng ý nghĩ của mình đôi khi trở nên rối bời và bản thân đang rất suy kiệt; đã hai ngày nay cậu hầu như chưa chạm vào hạt cơm nào.
Cậu ăn mặc tệ hại đến mức ngay cả một kẻ đã quen với sự nghèo túng cũng phải cảm thấy xấu hổ khi bước ra đường trong bộ dạng rách rưới ấy. Tuy nhiên, ở khu phố đó, hầu như chẳng có khiếm khuyết nào về trang phục có thể gây ra sự kinh ngạc. Do nằm gần khu chợ Hay Market, lại tập trung nhiều cơ sở kém lành mạnh, cùng với thành phần dân cư lao động và buôn bán đông đúc chen chúc trong các con phố và hẻm nhỏ nơi trái tim của Saint Petersburg, người ta có thể nhìn thấy đủ mọi kiểu người trên đường phố đến nỗi chẳng có dáng vẻ nào, dù quái dị đến đâu, có thể gây ra sự ngạc nhiên nữa. Thế nhưng, trong lòng người thanh niên lại tích tụ một nỗi cay đắng và khinh miệt sâu sắc đến độ, bất chấp sự kiêu kỳ của tuổi trẻ, cậu lại là kẻ ít bận tâm nhất đến những bộ quần áo rách rưới của mình khi ở ngoài đường. Mọi chuyện hoàn toàn khác khi cậu chạm mặt những người quen hay những bạn học cũ — những người mà thực tình cậu chẳng bao giờ muốn gặp ở bất kỳ thời điểm nào. Thế nhưng, khi một gã say rượu không rõ vì lý do gì được chở đi trên một cỗ xe lớn kéo bởi một con ngựa nặng nề, bất ngờ hét toáng lên với cậu khi xe chạy lướt qua: “Này, cái gã thợ mũ người Đức kia!” — hắn gào lên hết cỡ và chỉ trỏ về phía cậu — người thanh niên bỗng khựng lại và run rẩy túm lấy chiếc mũ của mình. Đó là một chiếc mũ tròn và cao của hiệu Zimmerman, nhưng đã rách tả tơi, ngả màu gỉ sét theo năm tháng, rách bươm, dính đầy vết bẩn, không vành và bị móp méo một bên trông vô cùng kệch cỡm. Tuy nhiên, thứ ập đến không phải là sự xấu hổ, mà là một cảm giác hoàn toàn khác, gần giống với sự kinh hoàng.
“Ta biết ngay mà,” cậu lẩm bẩm trong sự bối rối, “ta đã nghĩ thế rồi! Đó mới là điều tệ hại nhất! Chỉ một chuyện ngớ ngẩn thế này thôi, chi tiết nhỏ nhặt nhất cũng có thể phá hỏng toàn bộ kế hoạch. Đúng vậy, chiếc mũ của ta quá dễ gây chú ý... Trông nó thật lố bịch và chính vì thế nên nó mới dễ bị chú ý... Với bộ dạng rách rưới này, ta phải đội một cái mũ lưỡi trai, loại rẻ tiền nào cũng được, chứ không phải thứ quái gở này. Chẳng ai đội một chiếc mũ như thế cả, người ta có thể nhìn thấy nó từ khoảng cách một dặm, và sẽ nhớ mãi nó... Điều quan trọng là người ta sẽ nhớ đến nó, và điều đó sẽ cung cấp cho họ một manh mối. Cho công việc này, ta càng ít gây chú ý càng tốt... Những chi tiết nhỏ, chính những chi tiết nhỏ mới là điều quan trọng! Chính những thứ nhỏ nhặt ấy lúc nào cũng phá hỏng mọi thứ...”
Cậu không phải đi quá xa; thực ra cậu biết rõ khoảng cách từ cổng nhà trọ đến đó là bao nhiêu bước chân: chính xác là bảy trăm ba mươi bước. Cậu đã từng đếm chúng một lần khi đang chìm đắm trong những giấc mộng tưởng. Vào lúc ấy, cậu chẳng hề đặt chút niềm tin nào vào những giấc mộng đó và chỉ tự hành hạ bản thân bằng sự liều lĩnh kỳ quái nhưng táo bạo của chúng. Giờ đây, một tháng sau, cậu đã bắt đầu nhìn nhận chúng theo một cách khác độc lập hơn, và bất chấp những lời độc thoại chế giễu sự bất lực cùng tính do dự của chính mình, cậu đã vô tình coi giấc mộng “kỳ quái” này như một chiến tích cần phải thực hiện, dẫu cho bản thân cậu vẫn chưa nhận thức rõ điều đó. Lúc này, cậu thực sự đang tiến hành một buổi “tập dợt” cho dự định của mình, và theo từng bước chân, sự khích động trong cậu lại càng trở nên dữ dội hơn.
Với trái tim đập thình thịch và cơn run rẩy thần kinh, cậu tiến đến một tòa nhà lớn có một mặt hướng ra con kênh, mặt kia hướng ra đường phố. Tòa nhà này được chia thành những căn hộ vô cùng nhỏ hẹp và là nơi sinh sống của đủ mọi tầng lớp lao động — thợ may, thợ khóa, đầu bếp, đủ loại người Đức, những cô gái kiếm sống bằng bất cứ cách nào có thể, những viên chức cấp thấp, v.v. Người ta liên tục ra vào qua hai chiếc cổng và hai khoảng sân của tòa nhà. Có ba hoặc bốn người gác cổng được thuê làm việc tại đây. Người thanh niên vô cùng mừng rỡ khi không chạm mặt bất kỳ ai trong số họ, và lập tức lẻn qua cánh cửa bên phải mà không bị ai chú ý để đi lên cầu thang. Đó là lối cầu thang phụ, tối tăm và chật hẹp, nhưng cậu đã quá quen thuộc và biết rõ đường đi lối lại, và cậu rất ưa thích khung cảnh xung quanh này: trong chốn tối tăm thế này thì ngay cả những ánh mắt tò mò nhất cũng chẳng có gì phải sợ.
“Nếu bây giờ ta đã sợ thế này, thì không biết mọi chuyện sẽ ra sao nếu thực sự có lúc ta làm điều đó nhỉ?” cậu không thể kìm được ý nghĩ ấy khi lên đến tầng bốn. Tại đó, đường đi của cậu bị chặn lại bởi mấy người phu phen đang chuyển đồ đạc ra khỏi một căn hộ. Cậu biết rằng căn hộ này trước đó do một viên chức dân sự người Đức cùng gia đình thuê ở. Viên chức người Đức này đang dọn đi, thế nên tầng bốn ở cầu thang này sẽ hoàn toàn trống trải, ngoại trừ căn phòng của bà lão. “Dù sao thì thế cũng tốt,” cậu thầm nghĩ khi bấm chuông cửa căn hộ của bà lão.
Tiếng chuông vang lên inh ỏi một cách yếu ớt như thể làm bằng thiếc chứ không phải bằng đồng. Những căn hộ nhỏ trong các tòa nhà kiểu này lúc nào cũng có tiếng chuông kêu như thế. Cậu đã quên mất âm điệu của chiếc chuông đó, và giờ đây tiếng leng keng kỳ lạ ấy dường như gợi nhắc cho cậu về một điều gì đó và bày biện nó thật rõ ràng trước mắt cậu... Cậu giật mình, thần kinh lúc này đã căng thẳng đến cùng cực. Chút xíu sau, cánh cửa hé mở một khe nhỏ: bà lão qua khe cửa ấy dùng ánh mắt đầy vẻ ngờ vực dò xét vị khách, và chẳng thấy gì ngoài đôi mắt nhỏ bé đang lấp lánh trong bóng tối. Nhưng khi thấy có khá nhiều người trên chiếu nghỉ, bà ta bạo dạn hơn và mở toang cửa. Người thanh niên bước vào khoảng hiên tối tăm, được ngăn cách với căn bếp nhỏ xíu. Bà lão đứng đối diện cậu trong im lặng và nhìn cậu dò hỏi. Đó là một bà lão thấp lùn, teo tóp ở tuổi sáu mươi, với đôi mắt sắc lạnh đầy ác ý cùng chiếc mũi nhỏ nhọn hoắt. Mái tóc không màu, điểm chút bạc của bà ta được bôi đẫm dầu mỡ, và không hề có khăn trùm đầu. Quanh chiếc cổ gầy và dài trông như chân gà của bà ta được quấn một thứ giẻ nỉ nào đó, và bất chấp cái nóng bức, trên đôi vai bà ta vẫn vắt vẻo một chiếc áo choàng lông thú rụng trụi lông, đã ngả sang màu vàng úa theo năm tháng. Bà lão ho hắng và rên rỉ liên tục. Chắc hẳn người thanh niên đã nhìn bà ta với một biểu cảm khá kỳ lạ, khiến tia ngờ vực lại lóe lên trong mắt bà lão.
“Raskolnikov, một sinh viên, tôi đã đến đây cách đây một tháng,” người thanh niên vội vã lẩm bẩm, kèm theo một cái gập người chào nửa vời khi nhớ ra mình cần phải lịch sự hơn.
“Ta nhớ chứ, thưa ngài quý hóa, ta nhớ rất rõ việc ngài đến đây,” bà lão cất giọng rành mạch, đôi mắt vẫn không rời khỏi gương mặt cậu để dò xét.
“Và hôm nay... tôi lại đến vì việc cũ,” Raskolnikov tiếp lời, có phần lúng túng và ngạc nhiên trước thái độ ngờ vực của bà lão. “Có lẽ lúc nào bà ta cũng thế thôi, chỉ là lần trước ta không để ý đấy thôi,” cậu thầm nghĩ với một cảm giác bất an.
Bà lão ngập ngừng giây lát như thể đang do dự; rồi bước sang một bên, chỉ tay về phía cửa phòng và nói, nhường cho vị khách đi trước:
“Xin mời vào, thưa ngài.”
Căn phòng nhỏ mà người thanh niên bước vào, với bức tường dán giấy vàng, những chậu phong lữ và rèm mành bằng vải mù-xin ở cửa sổ, lúc bấy giờ đang được chiếu sáng rực rỡ bởi ánh hoàng hôn.
“Thế ra sau này mặt trời cũng sẽ chiếu sáng thế này ư!” ý nghĩ đó bất chợt lóe lên trong đầu Raskolnikov, và với một cái liếc mắt thật nhanh, cậu bao quát mọi thứ trong phòng, cố gắng hết sức để ghi nhận và ghi nhớ cách bài trí. Nhưng chẳng có gì đặc biệt trong căn phòng này. Đồ đạc, toàn là đồ rất cũ làm bằng gỗ màu vàng, gồm có một chiếc ghế sô-bha với phần lưng gỗ uốn cong khổng lồ, một chiếc bàn hình bầu dục đặt trước sô-bha, một chiếc bàn trang điểm gắn gương đặt giữa hai khung cửa sổ, những chiếc ghế tựa kê sát tường và hai hoặc ba bức tranh khắc giá rẻ được lồng trong khung màu vàng, vẽ những thiếu nữ Đức tay cầm chim chóc — chỉ có thế thôi. Ở góc phòng, một ngọn đèn nhỏ đang cháy trước một bức thánh tượng. Mọi thứ đều rất sạch sẽ; sàn nhà và đồ đạc được đánh bóng loáng; tất cả đều sáng bóng lên.
“Công sức của Lizaveta đây,” người thanh niên thầm nghĩ. Không hề có lấy một hạt bụi trên toàn bộ căn hộ.
“Chỉ có trong nhà của mấy bà góa phụ độc ác người ta mới tìm được sự sạch sẽ thế này,” Raskolnikov lại thầm nghĩ, và cậu lén liếc nhìn tấm rèm bằng vải bông che lối dẫn sang một căn phòng nhỏ khác — nơi đặt chiếc giường và tủ đựng quần áo của bà lão mà chưa bao giờ cậu bước vào. Hai căn phòng này gộp lại chính là toàn bộ căn hộ.
“Ngài muốn gì nào?” bà lão hỏi với giọng nghiêm khắc, bước vào phòng và vẫn đứng chắn trước mặt cậu như lúc nãy để nhìn thẳng vào mắt cậu.
“Tôi mang một thứ đến đây để cầm cố,” rồi cậu rút từ trong túi ra một chiếc đồng hồ bạc phẳng kiểu cũ, trên nắp lưng có khắc hình một quả địa cầu; dây đeo bằng thép.
“Nhưng đã quá hạn món đồ cầm cố lần trước của ngài rồi. Tròn một tháng vào ngày hôm kia cơ mà.”
“Tôi sẽ mang tiền lãi của tháng tiếp theo đến cho bà; đợi tôi một lát.”
“Nhưng việc đó thế nào là quyền của tôi chứ, thưa ngài quý hóa, muốn đợi hay đem bán đứt món đồ của ngài đi ngay lập tức.”
“Bà sẽ cho tôi bao nhiêu cho chiếc đồng hồ này, Alyona Ivanovna?”
“Ngài toàn mang đến những thứ vặt vãnh thế này, thưa ngài, chẳng đáng giá là bao. Lần trước tôi chỉ đưa cho ngài hai rúp cho chiếc nhẫn của ngài, trong khi ở tiệm kim hoàn người ta mua đồ mới tinh cũng chỉ có một rúp rưỡi.”
“Hãy đưa cho tôi bốn rúp, tôi sẽ chuộc lại nó, đây là đồng hồ của cha tôi. Chẳng mấy chốc tôi sẽ có tiền.”
“Một rúp rưỡi, cộng với tiền lãi trả trước, nếu ngài thích thì cứ thế!”
“Một rúp rưỡi ư!” người thanh niên kêu lên.
“Tùy ngài thôi” — và bà lão chìa lại chiếc đồng hồ cho cậu. Người thanh niên cầm lấy, giận đến mức định quay lưng bỏ đi; nhưng cậu liền kiềm chế lại ngay khi nhớ ra rằng mình chẳng còn nơi nào khác để đi, và rằng bản thân còn có một mục đích khác khi đến đây.
“Đưa đây nào,” cậu nói cụt ngủn.
Bา lão lần mò tìm chìa khóa trong túi, rồi biến mất sau tấm rèm sang căn phòng bên kia. Người thanh niên đứng lại một mình giữa phòng, tò mò lắng nghe và suy ngẫm. Cậu nghe thấy tiếng bà ta đang mở ổ khóa chiếc tủ đựng đồ.
“Chắc là ngăn kéo trên cùng,” cậu phỏng đoán. “Vậy là bà ta mang chìa khóa trong chiếc túi bên phải. Tất cả xâu vào một chùm trên một chiếc vòng thép... Và có một chiếc chìa khóa ở đó, to gấp ba lần những chiếc khác, có những rãnh sâu; đó không thể là chìa khóa của tủ đựng đồ... vậy chắc chắn phải có một chiếc tủ sắt hay hộp sắt nào đó... biết thế cũng tốt. Những chiếc hộp sắt lúc nào cũng dùng loại chìa khóa như thế... nhưng mọi chuyện thật là nhục nhã làm sao.”
Bà lão quay trở lại.
“Này ngài: vì chúng ta tính mười kốp-ních cho mỗi rúp một tháng, nên tôi phải trừ mười lăm kốp-ních từ một rúp rưỡi tiền lãi tháng tính trước. Còn hai rúp ngài vay tôi trước đó, giờ ngài còn nợ tôi hai mươi kốp-ních tính theo mức đó trả trước. Tổng cộng là ba mươi lăm kốp-ních. Vậy tôi phải đưa cho ngài một rúp mười lăm kốp-ních cho chiếc đồng hồ này. Tiền đây ạ.”
“Sao cơ! Giờ chỉ có một rúp mười lăm kốp-ních thôi sao!”
“Chính thế.”
Người thanh niên không tranh cãi và cầm lấy số tiền. Cậu nhìn bà lão và không vội vã rời đi ngay, như thể vẫn còn điều gì đó muốn nói hoặc muốn làm, dẫu chính cậu cũng không rõ đó là gì.
“Có lẽ tôi sẽ mang đến cho bà một thứ khác trong một hoặc hai ngày tới — một món đồ giá trị — bằng bạc — một chiếc hộp đựng thuốc lá, ngay khi tôi lấy lại được từ một người bạn...” cậu ngập ngừng bỏ lửng câu nói.
“Vâng, lúc đó chúng ta sẽ bàn tiếp, thưa ngài.”
“Tạm biệt — lúc nào bà cũng ở nhà một mình thế này à, em gái bà không ở đây cùng à?” Cậu hỏi một cách bâng quơ nhất có thể khi bước ra ngoài hành lang.
“Việc đó có can hệ gì đến ngài chứ, thưa ngài quý hóa?”
“Ồ, chẳng có gì đặc biệt đâu, tôi hỏi thế thôi. Bà nhạy cảm quá đấy... Chào bà, Alyona Ivanovna.”
Raskolnikov bước ra ngoài trong sự hoang mang tột độ. Sự hoang mang ấy ngày một dâng cao dữ dội. Khi đi xuống cầu thang, cậu thậm chí còn khựng lại hai, ba lần như thể bị giáng một đòn bất ngờ bởi một suy nghĩ nào đó. Lúc ra đến đường phố, cậu thốt lên: “Ôi Chúa ơi, sao mọi thứ lại ghê tởm đến thế này! Và liệu ta, liệu ta có thể... Không, thật nhảm nhí, toàn là rác rưởi!” cậu quả quyết nói thêm. “Và làm sao một chuyện tồi tệ như thế lại có thể lởn vởn trong đầu ta chứ? Trái tim ta có thể chứa đựng những thứ nhơ nhuốc gì cơ chứ. Vâng, trên hết là nhơ nhuốc, đáng ghê tởm, gớm ghiếc, gớm ghiếc! — và suốt một tháng trời nay ta đã...” Nhưng không từ ngữ hay lời cảm thán nào có thể diễn tả hết sự bấn loạn trong lòng cậu. Cảm giác chán ghét tột cùng từng đè nặng và tra tấn trái tim cậu trên đường đến nhà bà lão lúc này đã đạt đến đỉnh điểm và mang một hình thù rõ rệt đến mức cậu chẳng biết phải làm gì để trốn chạy khỏi sự khốn khổ của chính mình. Cậu bước đi trên vỉa hè như một kẻ say rượu, chẳng màng đến những người qua lại, va vào họ, và chỉ thực sự hoàn hồn khi đã sang đến con phố bên cạnh. Nhìn xung quanh, cậu nhận ra mình đang đứng sát một quán rượu có lối đi dẫn từ vỉa hè xuống tầng hầm. Ngay khoảnh khắc đó, hai gã say rượu bước ra từ cánh cửa, vừa chửi thề vừa dìu nhau bước lên bậc thềm. Chẳng mẩn suy nghĩ, Raskolnikov lao xuống các bậc thềm ngay lập tức. Cho đến khoảnh khắc đó, chưa bao giờ cậu bước chân vào một quán rượu, nhưng giờ đây cậu cảm thấy chóng mặt và bị cơn khát cháy cổ hành hạ. Cậu khao khát được uống một ngụm bia lạnh, và quy sự suy sụp bất ngờ của mình cho việc thiếu hụt thức ăn. Cậu ngồi xuống một chiếc bàn dính nhớp nháp ở một góc tối tăm và bẩn thỉu; gọi một cốc bia, và ngấu nghiến uống cạn ngụm đầu tiên. Lập tức cậu thấy dễ chịu hơn; và những suy nghĩ cũng trở nên thông suốt.
“Tất cả chỉ là nhảm nhí,” cậu tự tin nhủ thầm, “và chẳng có gì trong số đó đáng phải bận tâm cả! Chỉ đơn giản là rối loạn thể chất thôi. Chỉ cần một cốc bia, một mẩu bánh mì khô — và trong chớp mắt bộ não sẽ khỏe mạnh hơn, tâm trí sẽ minh mẫn hơn và ý chí sẽ kiên định trở lại! Phù, sao mọi thứ lại vụn vặt đến thế cơ chứ!”
Nhưng bất chấp sự suy ngẫm đầy khinh miệt ấy, lúc này cậu đã trông phấn chấn hẳn lên như thể vừa được giải thoát khỏi một gánh nặng khủng khiếp: và cậu thân thiện nhìn quanh những con người có mặt trong phòng. Thế nhưng, ngay cả trong khoảnh khắc đó, cậu vẫn lảng vảng một nỗi linh cảm mơ hồ rằng tâm trạng vui vẻ hơn này cũng chẳng hề bình thường chút nào.
Lúc bấy giờ trong quán có rất ít người. Ngoài hai gã say rượu mà cậu đã gặp ở bậc thềm, một nhóm gồm khoảng năm người đàn ông và một cô gái cầm đàn xếp vừa mới cùng lúc đi ra. Sự rời đi của họ khiến căn phòng trở nên yên tĩnh và có phần trống trải. Những người còn lại trong quán gồm một kẻ có vẻ là thợ thủ công, đang say mèm nhưng chưa đến nỗi bất tỉnh, ngồi trước một vại bia; và người bạn đồng hành của hắn — một gã to lớn, mập mạp với bộ râu xám, mặc chiếc áo khoác ngắn rộng thùng thình. Gã này đã say khướt và lăn ra ngủ gật trên băng ghế; thỉnh thoảng, gã lại giật mình như đang trong giấc ngủ, búng tay lách tách, dang rộng hai tay và phần thân trên nhún nhảy trên băng ghế, trong lúc miệng lẩm bẩm một điệp khúc vô nghĩa nào đó, cố nhớ lại mấy câu thơ thế này:
“Vợ gã một năm ngài yêu mến
Vợ gã một... năm ngài... yêu mến.”
Hoặc đột nhiên bừng tỉnh:
“Bước đi dọc con hẻm đông đúc
Hắn gặp lại người quen thuở nào.”
Nhưng chẳng ai chung vui với gã cả: người bạn đồng hành ngồi im lặng của gã nhìn tất cả những biểu hiện đó với ánh mắt đầy thù hằn và ngờ vực. Trong phòng còn có một người nữa trông có vẻ giống một viên chức nhà nước đã về hưu. Ông ta ngồi một góc, thỉnh thoảng nhấm nháp vại bia của mình và đảo mắt nhìn quanh những vị khách. Ông ta hình như cũng đang mang trong lòng một nỗi bấn loạn nào đó.