Tội ác và Hình phạt

Lượt đọc: 366 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 5

❊ ❊ ❊

Lebeziatnikov bước vào, vẻ mặt đầy bối rối.

“Tôi đến tìm cô, Sofya Semyonovna,” anh ta mở lời. “Xin lỗi… tôi cứ ngỡ sẽ gặp anh ở đây,” anh ta đột ngột quay sang Raskolnikov, “nghĩa là, tôi không hề có ý gì… kiểu đó đâu… Chỉ là tôi nghĩ… Katerina Ivanovna phát điên rồi,” anh ta buột miệng thốt lên, ánh mắt đảo vội từ Raskolnikov sang Sonia.

Sonia hét lên một tiếng thất thanh.

“Ít nhất thì trông cũng như vậy. Nhưng… chúng tôi chẳng biết phải làm sao cả! Bà ấy vừa quay về — hình như bị đuổi khỏi đâu đó, có khi còn bị đánh nữa… Trông tình cảnh thì đúng là thế… Bà ấy chạy đến tìm thủ trưởng cũ của cha cô, nhưng ông ta không có nhà: ông ta đang đi ăn tối bên nhà một viên tướng khác… Cứ tưởng tượng mà xem, bà ấy lao thẳng tới đó, tới nhà viên tướng kia, rồi khăng khăng đòi gặp cho bằng được, đến mức lôi được cả viên thủ trưởng ra khỏi bàn ăn. Cô có thể hình dung chuyện gì xảy ra tiếp theo rồi đấy. Dĩ nhiên là bà ấy bị tống cổ ra ngoài; nhưng theo lời bà ấy kể thì bà ấy đã chửi rủa thậm tệ rồi ném đồ vào người ông ta. Nghe qua cũng đủ tin là thật… Làm sao mà bà ấy không bị bắt tống giam thì tôi cũng chịu, chẳng hiểu nổi! Giờ thì bà ấy đang rêu rao với tất cả mọi người, kể cả Amalia Ivanovna; nhưng chẳng ai hiểu nổi bà ấy nói gì, cứ gào thét rồi quăng quật loạn xạ… À phải rồi, bà ấy thét lên rằng một khi mọi người đã ruồng bỏ, bà ấy sẽ dắt lũ trẻ ra đường cùng một cái đàn quay, lũ trẻ sẽ hát múa, cả bà ấy nữa, rồi đi xin tiền, ngày nào cũng sẽ tới đứng dưới cửa sổ nhà viên tướng… ‘để thiên hạ thấy con cái nhà gia giáo, có cha làm quan chức, phải đi ăn mày ngoài phố ra sao.’ Bà ấy cứ đánh đập lũ trẻ khiến chúng khóc như mưa. Bà ấy đang bắt Lida tập hát bài ‘Làng tôi’, bắt thằng bé múa, cả Polenka cũng phải múa theo. Bà ấy xé toạc hết quần áo, may thành mấy cái mũ nhỏ như của đào kép hát; bà ấy còn định bưng một cái chậu thiếc gõ leng keng thay cho tiếng nhạc… Bà ấy chẳng chịu nghe ai hết… Thử tưởng tượng cái cảnh tượng ấy xem! Thật chẳng còn ra thể thống gì nữa!”

Lebeziatnikov hẳn còn nói tiếp, nhưng Sonia, nãy giờ nín thở lắng nghe, đã vội chộp lấy áo choàng cùng mũ, vừa mặc vừa lao bổ ra khỏi phòng. Raskolnikov vội vã bám theo, còn Lebeziatnikov rảo bước phía sau.

“Bà ấy phát điên thật rồi!” anh ta nói với Raskolnikov khi họ bước ra phố. “Tôi không muốn làm Sofya Semyonovna hoảng sợ nên mới bảo ‘trông như vậy’, chứ thực ra thì chẳng còn nghi ngờ gì nữa. Nghe đâu chứng lao phổi đôi khi làm phát sinh các nốt củ trong não; tiếc là tôi chẳng am hiểu gì về y học. Tôi cũng đã cố khuyên can, nhưng bà ấy không thèm lọt tai câu nào.”

“Anh nói với bà ấy về mấy cái nốt củ trong não à?”

“Cũng không hẳn là về mấy cái nốt củ. Vả lại có nói thì bà ấy cũng chẳng hiểu! Nhưng ý tôi là, nếu anh dùng lý lẽ logic để thuyết phục một người rằng họ chẳng có việc gì phải khóc, thì họ sẽ ngừng khóc. Rõ ràng là thế. Chẳng lẽ anh lại tin là không được sao?”

“Nếu đời mà đơn giản được thế thì dễ sống quá,” Raskolnikov đáp.

“Xin lỗi nhé, xin lỗi; tất nhiên là với Katerina Ivanovna thì hơi khó hiểu thật, nhưng anh có biết ở Paris người ta từng làm những thí nghiệm nghiêm túc về khả năng chữa bệnh cho người điên chỉ bằng lập luận logic không? Có một vị giáo sư ở đó, một nhà khoa học có tên tuổi vừa mới qua đời, từng tin vào khả năng điều trị theo cách này. Quan điểm của ông ấy là cơ thể của người điên thực ra chẳng có bệnh tật gì nghiêm trọng, và chứng điên loạn chẳng qua chỉ là một sai lầm logic, một phán đoán sai lệch, một cách nhìn nhận sự việc méo mó. Ông ấy từng bước chỉ ra cho kẻ điên thấy sai lầm của mình, và anh tin được không, nghe đâu ông ấy đã thành công đấy! Nhưng vì ông ấy còn dùng cả liệu pháp tắm vòi sen nữa, nên thành công đó nhờ vào phương pháp nào nhiều hơn thì vẫn chưa chắc chắn… Ít nhất người ta bảo thế.”

Raskolnikov đã thôi lắng nghe từ lâu. Về đến trước căn nhà trọ của mình, anh gật đầu chào Lebeziatnikov rồi rẽ qua cổng bước vào. Lebeziatnikov giật mình sực tỉnh, ngơ ngác nhìn quanh rồi rảo bước đi tiếp.

Raskolnikov bước vào căn phòng nhỏ xíu của mình rồi đứng sững giữa phòng. Sao anh lại quay về đây làm gì? Anh nhìn lớp giấy dán tường ố vàng rách nát, nhìn bụi bặm bám đầy, rồi nhìn chiếc ghế sô-pha… Dưới sân vẳng lên tiếng đập thình thịch liên hồi; dường như có ai đó đang gõ búa… Anh bước lại gần cửa sổ, kiễng chân ngó xuống sân hồi lâu với vẻ chăm chú lạ thường. Nhưng khoảnh sân vắng tanh và anh chẳng thấy ai đang gõ búa cả. Ở dãy nhà bên trái, anh nhìn thấy vài khung cửa sổ mở toang; trên bệ cửa đặt mấy chậu phong lữ còi cọc. Quần áo giặt treo phơi lòng thòng bên ngoài… Toàn những cảnh tượng anh đã thuộc lòng đến ngán ngẩm. Anh quay đi và ngồi phịch xuống ghế sô-pha.

Chưa bao giờ, chưa một lần nào anh cảm thấy mình cô độc đến ghê rợn nhường này!

Phải, một lần nữa anh lại cảm thấy rằng biết đâu rồi mình sẽ đâm ra căm ghét Sonia, giờ đây khi chính anh đã đẩy nàng vào cảnh khốn cùng hơn.

“Sao mình lại đến van nài những giọt nước mắt của cô ấy? Sao mình phải đầu độc cuộc đời cô ấy làm gì? Ôi, thật là đê tiện!”

“Mình sẽ ở lại một mình,” anh kiên quyết tự nhủ, “và cô ấy sẽ không được phép đến nhà tù!”

Năm phút sau, anh ngẩng đầu lên với một nụ cười kỳ quặc. Quả là một ý nghĩ kỳ lạ.

“Có khi sang Siberia lại tốt hơn thật,” anh bất chợt nghĩ.

Anh chẳng rõ mình đã ngồi đó bao lâu giữa mớ ý nghĩ mông lung đang cuộn trào trong tâm trí. Bất thình lình cánh cửa mở ra và Dounia bước vào. Ban đầu cô đứng lặng nhìn anh từ ngưỡng cửa, y như cái cách anh từng nhìn Sonia; rồi cô bước vào, ngồi xuống đúng vị trí hôm qua, trên chiếc ghế đối diện với anh. Anh im lặng nhìn cô bằng ánh mắt gần như trống rỗng.

“Anh đừng giận nhé, em chỉ ghé qua một phút thôi,” Dounia nói.

Gương mặt cô thoáng vẻ trầm ngâm nhưng không hề nghiêm khắc. Đôi mắt cô sáng ngời và dịu dàng. Anh nhận ra cô tìm đến mình cũng bằng tình yêu thương tha thiết.

“Anh à, giờ thì em đã biết hết rồi, biết tất cả rồi. Anh Dmitri Prokofitch đã giải thích và kể cho em mọi chuyện. Người ta đang làm phiền và bức hại anh chỉ vì một mối ngờ vực ngu xuẩn và đáng khinh… Anh Dmitri Prokofitch bảo em rằng chẳng có gì nguy hiểm cả, và anh đã sai khi nhìn nhận chuyện đó bằng nỗi kinh hoàng đến thế. Nhưng em thì không nghĩ vậy, em hoàn toàn hiểu anh phẫn uất đến mức nào, và sự phẫn uất ấy có thể để lại vết hằn mãi mãi trong tâm can anh. Đó mới là điều em lo sợ. Còn chuyện anh lánh mặt mẹ con em, em không trách anh đâu, em không dám phán xét anh, và xin anh tha thứ vì trước đây em đã từng trách móc. Em hiểu rằng nếu em rơi vào cảnh ngộ đau đớn nhường này, em cũng sẽ trốn tránh tất cả mọi người. Em sẽ không hé răng nửa lời với mẹ, nhưng em sẽ luôn nhắc về anh và thay lời anh nói với mẹ rằng anh sẽ sớm về thăm. Anh đừng bận lòng về mẹ; em sẽ làm mẹ yên lòng; nhưng anh cũng đừng bắt mẹ phải mỏi mòn trông ngóng — hãy ghé về một lần thôi cũng được; hãy nhớ rằng bà là mẹ của anh. Giờ em đến đây chỉ để nói rằng,” (Dounia bắt đầu đứng dậy) “nếu anh cần đến em, hay cần… cả cuộc đời này của em hoặc bất cứ điều gì… anh cứ gọi, em sẽ đến ngay. Tạm biệt anh!”

Cô dứt khoát quay người bước về phía cửa.

“Dounia!” Raskolnikov cất tiếng gọi giật lại rồi tiến về phía cô. “Razumihin, tay Dmitri Prokofitch ấy, là một người rất tốt.”

Dounia thoáng đỏ mặt.

“Thì sao hở anh?” cô ngập ngừng hỏi lại.

“Cậu ta là người tháo vát, chăm chỉ, thật thà và có khả năng yêu thương chân thành… Tạm biệt em, Dounia.”

Dounia đỏ bừng mặt, rồi đột nhiên cô đâm ra hoảng hốt.

“Nhưng thế nghĩa là sao hả anh? Chẳng lẽ chúng ta sắp phải vĩnh biệt nhau hay sao mà anh… lại dặn dò em những lời trăn trối như thế?”

“Không có gì đâu… Tạm biệt em.”

Anh quay đi, bước lại bên cửa sổ. Cô đứng lặng một lúc, nhìn anh đầy bất an rồi bước ra ngoài với tâm trạng trĩu nặng âu lo.

Không, anh không hề lạnh nhạt với cô. Đã có một khoảnh khắc (chính là khoảnh khắc cuối cùng ấy) anh tha thiết muốn ôm chầm lấy cô vào lòng để nói lời từ biệt, thậm chí muốn thổ lộ tất cả, nhưng anh đã không dám chạm dù chỉ vào bàn tay cô.

“Sau này rồi nó sẽ phải rùng mình ghê sợ khi nhớ lại rằng mình từng ôm nó, và nó sẽ cảm thấy nụ hôn của mình chẳng khác nào một sự trộm cắp dơ bẩn.”

“Liệu nó có chịu đựng nổi thử thách ấy không?” vài phút sau anh lại tự hỏi. “Không, nó không chịu nổi đâu; những cô gái như nó không kham nổi những điều khủng khiếp ấy! Không bao giờ.”

Và anh lại nghĩ đến Sonia.

Một luồng gió mát lành từ khung cửa sổ lùa vào. Trời bắt đầu chập choạng tối. Anh cầm lấy chiếc mũ lưỡi trai rồi bước ra ngoài.

Dĩ nhiên anh không thể, và cũng chẳng muốn bận tâm xem mình đang ốm đau ra sao. Nhưng nỗi giày vò và bất an triền miên trong tâm trí không thể không tàn phá cơ thể anh. Nếu anh chưa gục ngã vì một cơn sốt dữ dội thì có lẽ chỉ vì sự căng thẳng nội tâm liên tục này đã giúp anh gượng đứng vững trên đôi chân và duy trì chút lý trí cuối cùng. Nhưng thứ hưng phấn gượng gạo ấy chẳng thể kéo dài mãi được.

Anh lang thang vô định. Mặt trời đang lặn dần. Dạo gần đây, một nỗi khốn khổ kỳ quặc bắt đầu đè nặng lên tâm trí anh. Nó chẳng hề nhức nhối hay gay gắt; nhưng lại mang cảm giác dai dẳng khôn nguôi, tựa hồ vĩnh cửu; nó báo trước những năm tháng dài vô vọng của nỗi cay đắng lạnh ngắt như chì, báo trước một sự đày ải muôn đời “trên một thước vuông đất hẹp”. Cứ về chiều, cảm giác ấy lại càng đè nặng lên tâm can anh ghê gớm hơn.

“Với cái cảm giác suy nhược ngớ ngẩn về mặt thể xác này, cứ tùy thuộc vào lúc hoàng hôn hay đại loại thế, người ta khó lòng tránh khỏi làm điều xuẩn ngốc! Mày sẽ lại mò đến chỗ Dounia, cũng như đã mò đến chỗ Sonia thôi,” anh cay đắng lẩm bẩm.

Anh nghe thấy có tiếng gọi tên mình. Anh ngoảnh lại. Lebeziatnikov đang lao vụt về phía anh.

“Tưởng tượng xem, tôi vừa đến tận phòng tìm anh đấy. Tưởng tượng xem, bà ấy đã thực hiện kế hoạch của mình rồi, dắt lũ trẻ đi mất rồi. Tôi với Sofya Semyonovna trầy trật mãi mới tìm ra. Bà ấy đang gõ vào một cái chảo rán rồi bắt lũ trẻ nhảy múa. Bọn trẻ khóc như mưa. Chúng cứ dừng lại ở các ngã tư với trước cửa hàng; cả một đám người dở hơi xúm lại chạy theo sau. Mau đi thôi!”

“Thế còn Sonia?” Raskolnikov lo lắng hỏi, vội vã rảo bước theo Lebeziatnikov.

“Cuống cuồng cả lên rồi. Nghĩa là, không phải Sofya Semyonovna cuồng loạn, mà là Katerina Ivanovna, dẫu Sofya Semyonovna cũng đang phát cuồng. Nhưng Katerina Ivanovna thì điên thật sự rồi. Tôi bảo thật, bà ấy phát khùng rồi. Người ta sắp giải họ về đồn cảnh sát đến nơi. Anh cứ tưởng tượng hậu quả sẽ thế nào đi… Giờ họ đang ở bờ kênh, gần cây cầu ấy, cách nhà Sofya Semyonovna chẳng bao xa, ngay sát đây thôi.”

Trên bờ kênh gần cây cầu, chỉ cách khu nhà trọ của Sonia chừng hai căn, một đám đông đang tụ tập, phần lớn là lũ trẻ con đầu đường xó chợ. Giọng nói khàn đặc đứt quãng của Katerina Ivanovna có thể nghe thấy rõ từ tận đầu cầu, và đó quả thực là một cảnh tượng kỳ quặc đủ sức lôi kéo cả đám người ngoài phố bu lại xem. Katerina Ivanovna trong bộ váy cũ kỹ khoác chiếc khăn choàng xanh, đầu đội chiếc mũ rơm rách tươm bị bẹp rúm một bên trông thật thảm hại, quả thực đang phát cuồng. Bà kiệt sức và thở không ra hơi. Gương mặt gầy hốc hác của người bệnh lao trông càng đau đớn khổ sở hơn bao giờ hết, mà thực ra dưới ánh nắng ngoài trời, người mắc bệnh lao bao giờ trông cũng tàn tạ hơn lúc ở trong nhà. Nhưng cơn kích động của bà không hề thuyên giảm, từng giây từng phút nỗi bực dọc lại càng thêm dữ dội. Bà chồm về phía lũ trẻ, quát tháo chúng, dỗ dành chúng, lớn tiếng chỉ bảo trước mặt đám đông cách nhảy múa và bài hát phải cất lên, rồi bắt đầu giải thích cho chúng hiểu vì sao phải làm thế, và đến lúc tuyệt vọng vì chúng không hiểu, bà liền vung tay đánh chúng… Rồi bà lại lao bổ về phía đám đông; hễ thấy ai ăn mặc tươm tất dừng lại nhìn, bà liền cầu xin người đó chứng kiến xem những đứa trẻ “từ một gia đình danh giá, thậm chí có thể nói là quý tộc” nay đã bị dồn vào bước đường cùng ra sao. Hễ nghe thấy tiếng cười cợt hay chế giễu trong đám đông, bà lập tức xông thẳng vào những kẻ nhạo báng và bắt đầu đôi co chửi bới. Kẻ thì cười cợt, người lại lắc đầu ngán ngẩm, nhưng ai nấy đều hiếu kỳ trước cảnh tượng người đàn bà điên loạn cùng những đứa trẻ đang sợ hãi co rúm lại. Cái chảo rán mà Lebeziatnikov nhắc tới chẳng thấy đâu, hoặc ít nhất Raskolnikov không nhìn thấy. Thay vì gõ chảo, Katerina Ivanovna bắt đầu vỗ đôi bàn tay gầy trơ xương khi bắt Lida và Kolya nhảy múa còn Polenka thì hát. Chính bà cũng hòa giọng hát theo, nhưng đến nốt thứ hai thì nghẹn lại bởi một cơn ho dữ dội, khiến bà tuyệt vọng buông lời nguyền rủa rồi bật khóc nức nở. Điều làm bà phát điên nhất là tiếng khóc lóc và nỗi kinh hoàng của Kolya và Lida. Lũ trẻ cũng được cố công hóa trang cho giống phường hát rong đầu đường xó chợ. Thằng bé đội một cái khăn xếp quấn bằng mớ giẻ đỏ trắng trông như người Thổ Nhĩ Kỳ. Lida thì chẳng có trang phục gì; con bé chỉ đội một chiếc mũ len đỏ, hay đúng hơn là chiếc mũ ngủ của Marmeladov, cài thêm một mẩu lông đà điểu trắng gãy vụn vốn là di vật của bà ngoại Katerina Ivanovna để lại như một món gia bảo. Polenka mặc bộ đồ thường ngày; con bé sợ sệt nhìn mẹ đầy bối rối, cứ bám sát bên cạnh và cố giấu những giọt nước mắt. Nó lờ mờ nhận ra tình trạng của mẹ, đưa mắt nhìn quanh đầy lo âu. Nó khiếp sợ con phố và đám đông kinh khủng. Sonia đi sau Katerina Ivanovna, vừa khóc vừa van nài bà quay về nhà, nhưng Katerina Ivanovna nhất quyết không nghe.

“Thôi đi, Sonia, thôi đi!” bà vừa gào lên vừa nói liến thoắng, hổn hển ho sặc sụa. “Con chẳng biết mình đang đòi hỏi cái gì đâu; con chỉ như đứa con nít! Ta đã bảo rồi, ta sẽ không bao giờ quay lại với mụ người Đức say xỉn ấy nữa. Cứ để cho tất cả mọi người, để cả cái đất Petersburg này thấy con cái phải đi ăn mày ngoài đường phố, dù cha chúng là một con người đáng kính, cả đời tận tụy phục vụ quên mình, và có thể nói là đã chết ngay trong khi làm nhiệm vụ.” (Katerina Ivanovna đến lúc này đã tự thêu dệt nên câu chuyện hoang đường ấy và hoàn toàn tin vào nó.) “Cứ để lão tướng đốn mạt ấy nhìn thấy! Mà con ngốc lắm, Sonia: chúng ta lấy gì mà ăn? Nói cho ta nghe xem nào. Chúng ta đã làm phiền con quá đủ rồi, ta không thể tiếp tục như thế này nữa! A, Rodion Romanovitch, anh đấy ư?” bà kêu lên khi nhìn thấy Raskolnikov và lao vụt về phía anh. “Làm ơn giải thích cho con bé ngốc nghếch này hiểu rằng chẳng còn cách nào tốt hơn đâu! Đến phường kéo đàn quay còn kiếm sống được cơ mà, rồi ai nấy sẽ nhận ra ngay chúng tôi khác biệt, chúng tôi là một gia đình danh giá gặp cơn tang tóc bị đẩy vào bước đường cùng phải đi ăn xin. Rồi lão tướng kia sẽ mất chức cho mà xem! Ngày nào chúng tôi cũng sẽ biểu diễn dưới cửa sổ nhà lão, và nếu Sa hoàng có đi xe ngang qua, tôi sẽ quỳ sụp xuống, đẩy lũ trẻ ra trước mặt, chỉ cho Người thấy và kêu lên: ‘Xin Cha hãy chở che cho chúng con.’ Người là cha của những đứa trẻ mồ côi, Người rất mực nhân từ, Người sẽ bảo vệ chúng tôi, anh cứ đợi mà xem, còn cái lão tướng đốn mạt kia… Lida, tenez vous droite! Kolya, nhảy lại mau. Sao lại thút thít thế hả? Lại thút thít nữa rồi! Sợ cái gì hả đồ ngu? Trời ơi, tôi biết làm gì với chúng bây giờ, Rodion Romanovitch? Giá anh biết chúng ngu ngốc đến mức nào! Phải làm sao với những đứa trẻ thế này đây?”

Và bà, gần như cũng muốn bật khóc — nhưng điều đó chẳng ngăn nổi tràng nói nhanh như bắn của bà — chỉ tay vào lũ trẻ đang khóc lóc thảm thiết. Raskolnikov cố khuyên bà quay về nhà, thậm chí anh còn đánh vào lòng tự ái của bà mà bảo rằng thật chẳng xứng chút nào khi bà lại đi lang thang ngoài đường như phường kéo đàn quay, trong khi bà vốn dự định mở một trường nữ sinh nội trú.

“Trường nữ sinh nội trú, ha-ha-ha! Lâu đài xây trên cát đấy!” Katerina Ivanovna kêu lên, nụ cười chuyển thành một tràng ho sặc sụa. “Không, Rodion Romanovitch, giấc mộng ấy tan tành rồi! Tất cả đã ruồng bỏ chúng tôi!… Còn lão tướng kia… Anh biết không, Rodion Romanovitch, tôi đã ném cả bình mực vào người lão — nó tình cờ nằm ngay trong phòng chờ bên cạnh tờ giấy ký tên. Tôi ký tên mình vào, ném thẳng vào lão rồi chạy biến. Ôi, cái lũ khốn nạn, lũ đốn mạt! Nhưng thôi mặc xác chúng, giờ tôi sẽ tự nuôi lũ trẻ, tôi chẳng thèm cúi đầu trước bất kỳ ai! Con bé đã phải chịu đựng vì chúng tôi quá đủ rồi!” bà chỉ tay về phía Sonia. “Polenka, con xin được bao nhiêu rồi? Cho mẹ xem nào! Cái gì, chỉ có hai đồng xu thôi ư? Ôi, cái lũ bủn xỉn bần tiện! Chúng chẳng cho nổi một xu, chỉ giỏi chạy theo thè lưỡi trêu chọc. Kìa, cái tên ngốc kia cười cợt cái gì đấy?” (Bà chỉ vào một người đàn ông trong đám đông.) “Tất cả chỉ tại thằng Kolya ở đây đần độn quá; tôi đến khổ với nó. Con muốn gì hả Polenka? Nói bằng tiếng Pháp cho mẹ nghe xem nào, parlez-moi français. Nào, mẹ đã dạy con rồi, con biết mấy câu cơ mà. Nếu không thì làm sao chứng minh được các con là con nhà gia giáo, được nuôi dạy đàng hoàng, chứ đâu phải phường hát rong đầu đường xó chợ? Chúng ta đâu có diễn trò rối cọc cạch ngoài phố, chúng ta hát một bài ca thanh tao cơ mà… À, phải rồi… Chúng ta hát bài gì bây giờ? Mọi người cứ làm tôi rối trí, nhưng chúng tôi… anh thấy đấy, chúng tôi đứng đây, Rodion Romanovitch à, để tìm xem nên hát bài gì đặng kiếm tiền, bài nào cho thằng Kolya múa được ấy… Bởi vì, anh tưởng tượng xem, màn diễn của chúng tôi hoàn toàn là ngẫu hứng… Phải bàn bạc và tập dượt cho thật kỹ càng, rồi chúng tôi sẽ lên phố Nevsky, nơi có nhiều người thuộc tầng lớp thượng lưu hơn, ở đó người ta sẽ chú ý đến chúng tôi ngay. Con Lida chỉ biết mỗi bài ‘Làng tôi’, ngoài bài ‘Làng tôi’ ra chẳng biết bài nào khác, mà bài đó thì ai cũng hát được. Chúng ta phải hát một bài thanh tao hơn nhiều… Nào, con đã nghĩ ra bài gì chưa, Polenka? Giá mà con giúp mẹ một tay! Trí nhớ của mẹ bay biến đâu mất rồi, chứ không thì mẹ đã nhớ ra. Chúng ta đâu thể hát bài ‘Chàng kỵ binh’ được. A, ta hát tiếng Pháp đi, bài ‘Cinq sous’, mẹ đã dạy con rồi, mẹ dạy rồi mà. Vì là tiếng Pháp nên người ta sẽ nhận ra ngay các con là con cái nhà gia giáo, và như thế sẽ cảm động hơn nhiều… Các con có thể hát bài ‘Marlborough s’en va-t-en guerre’, vì đó là bài hát trẻ con hẳn hoi và được hát như khúc hát ru trong tất cả các gia đình quý tộc.

Marlborough ra trận

Chẳng biết bao giờ về…” bà cất tiếng hát. “Nhưng thôi, hát bài ‘Cinq sous’ thì hơn. Nào Kolya, chống tay lên hông, nhanh lên, còn Lida, xoay người về phía kia đi, Polenka với mẹ sẽ hát và vỗ tay!

Năm xu, năm xu

Để dựng xây mái nhà tranh.”

(Khục-khục-khục!) “Chỉnh lại váy đi Polenka, nó tụt xuống vai rồi kìa,” bà nhận xét, thở hổn hển sau cơn ho. “Bây giờ càng phải cư xử cho thật nhã nhặn và lịch thiệp, để ai nấy đều thấy các con là con nhà dòng dõi. Hồi đó mẹ đã bảo phải may vạt áo dài hơn, ghép từ hai khổ vải. Tất cả là tại con đấy Sonia, con cứ xui may ngắn lại, giờ thì nhìn con bé xem, trông chẳng ra hình thù gì nữa… Kìa, sao chúng mày lại khóc cả lũ thế? Có chuyện gì hả lũ ngốc kia? Nào Kolya, bắt đầu đi. Nhanh lên, nhanh lên chứ! Ôi, cái thằng bé không sao chịu nổi!

Năm xu, năm xu.

Lại cảnh sát nữa kìa! Mày muốn cái gì?”

Một viên cảnh sát quả thực đang rẽ đám đông bước tới. Nhưng đúng lúc ấy, một quý ông mặc đồng phục dân sự khoác áo choàng ngoài — một viên chức trông bệ vệ trạc năm mươi tuổi, cổ đeo huân chương (điều này khiến Katerina Ivanovna mừng rỡ và viên cảnh sát cũng phải kiêng dè) — bước lại gần, không nói một lời, đưa cho bà một tờ ba rúp màu xanh lá. Gương mặt ông ta lộ rõ vẻ xót thương chân thành. Katerina Ivanovna nhận lấy tờ tiền rồi cúi đầu chào ông ta một cách lịch thiệp, thậm chí có phần trịnh trọng.

“Xin đội ơn ngài, thưa ngài đáng kính,” bà cất giọng cao ngạo. “Những nguyên do đã đẩy chúng tôi vào bước đường này (cầm lấy tiền đi Polenka: con thấy không, vẫn có những con người hào hiệp và trọng danh dự sẵn lòng giúp đỡ một phụ nữ quý tộc sa cơ lỡ vận). Ngài thấy đấy, thưa ngài đáng kính, những đứa trẻ mồ côi con nhà gia thế này — tôi thậm chí có thể nói là dòng dõi quý tộc — thế mà cái lão tướng đốn mạt kia cứ ngồi thản nhiên ăn gà gô… rồi còn giậm chân đuổi tôi vì dám làm phiền lão. ‘Thưa quan lớn,’ tôi nói, ‘xin hãy che chở cho lũ trẻ mồ côi, bởi quan lớn từng quen biết người chồng quá cố của tôi là Semyon Zaharovitch, và ngay trong chính ngày ông ấy qua đời, một kẻ đê tiện bậc nhất đã vu khống con gái duy nhất của ông.’… Lại cái tên cảnh sát kia nữa! Xin hãy bảo vệ tôi,” bà kêu lên với viên quan chức. “Sao cái tên cảnh sát kia cứ lấm lét tiến lại gần tôi thế? Chúng tôi vừa mới trốn khỏi một tên cảnh sát khác xong đấy. Mày muốn cái gì hả đồ ngu?”

“Cấm tụ tập dưới lòng đường. Không được làm mất trật tự.”

“Chính mày mới là kẻ làm mất trật tự! Chuyện này cũng chẳng khác gì việc tôi đi kéo đàn quay rong cả. Mắc mớ gì đến mày?”

“Kéo đàn quay phải có giấy phép, bà không có giấy phép, lại còn tụ tập đám đông thế này. Bà trọ ở đâu?”

“Cái gì, giấy phép ư?” Katerina Ivanovna gào lên khóc lóc. “Hôm nay tôi vừa chôn cất chồng xong. Giấy phép giấy tờ cái nỗi gì nữa?”

“Xin bà bình tĩnh, thưa bà, xin bình tĩnh,” viên quan chức lên tiếng. “Đi nào, tôi sẽ đưa bà đi… Chỗ đám đông này không phải nơi dành cho bà. Bà đang ốm đấy.”

“Thưa ngài đáng kính, ngài không hiểu đâu,” Katerina Ivanovna hét lên. “Chúng tôi đang lên phố Nevsky… Sonia, Sonia! Con bé đâu rồi? Nó cũng đang khóc kìa! Sao thế này hả mọi người? Kolya, Lida, chúng mày chạy đi đâu đấy?” bà đột ngột hoảng hốt thét lên. “Ôi lũ trẻ ngốc nghếch! Kolya, Lida, chúng nó chạy đi đâu mất rồi?…”

Kolya và Lida, hồn vía lên mây vì đám đông hỗn loạn cùng những trò điên rồ của mẹ, vừa thoáng thấy bóng viên cảnh sát toan bắt chúng đi đâu đó liền nắm chặt tay nhau cắm đầu bỏ chạy. Vừa khóc vừa gào, người phụ nữ khốn khổ Katerina Ivanovna lao theo chúng. Vừa chạy vừa khóc lại vừa thở dốc, trông bà thật thảm hại và khó coi. Sonia và Polenka cũng hớt hải đuổi theo.

“Bắt chúng lại, bắt chúng lại đi Sonia! Ôi cái lũ trẻ ngu xuẩn, vong ân bội nghĩa!… Polenka! Đuổi theo chúng… Mẹ làm thế này cũng chỉ vì các con thôi mà…”

Bà vấp chân khi đang chạy rồi ngã nhào xuống đất.

“Mẹ bị rách da rồi, máu chảy nhiều quá! Trời ơi!” Sonia kêu lên, cúi rạp người xuống bên mẹ.

Mọi người ùa lại vây kín xung quanh. Raskolnikov và Lebeziatnikov là những người đầu tiên chạy tới bên cạnh bà, viên quan chức cũng vội vã bước lại, theo sau là viên cảnh sát đang lẩm bẩm: “Phiền phức thật!” với một cái xua tay bực bội, cảm thấy vụ này sắp biến thành một mớ rắc rối to chuyện.

“Giải tán đi! Giải tán mau!” ông ta quát đám đông đang chen lấn xô đẩy.

“Bà ấy sắp chết rồi,” có tiếng ai đó hét lên.

“Bà ấy phát điên đấy,” một người khác nói.

“Chúa lòng lành xin thương xót chúng con,” một người phụ nữ vừa làm dấu thánh vừa lẩm bẩm. “Người ta bắt được đứa bé gái với thằng nhóc chưa? Đang dắt chúng quay lại rồi kìa, con bé lớn túm được chúng rồi… Ái chà, cái lũ tiểu yêu nghịch ngợm!”

Khi xem xét kỹ Katerina Ivanovna, mọi người mới nhận ra bà không phải bị rách da do va vào đá như Sonia tưởng, mà vũng máu đỏ tươi nhuộm thẫm mặt đường kia trào ra từ chính lồng ngực bà.

“Tôi thấy cảnh này rồi,” viên quan chức thì thào với Raskolnikov và Lebeziatnikov; “chứng lao phổi đấy; máu trào ra bít kín đường thở. Mới đây tôi cũng chứng kiến chuyện tương tự ở một người họ hàng… ộc ra gần nửa lít máu, chỉ trong chớp mắt… Nhưng biết làm sao bây giờ? Bà ấy sắp chết rồi.”

“Lối này, lối này, về phòng cháu!” Sonia van nài. “Cháu sống ngay đây!… Nhìn kìa, căn nhà kia, căn thứ hai tính từ đây… Mau đưa mẹ cháu về phòng cháu đi, nhanh lên,” nàng quay sang van xin hết người này đến người khác. “Gọi bác sĩ đi! Trời ơi!”

Nhờ sự can thiệp của viên quan chức, mọi người liền làm theo kế hoạch đó, thậm chí viên cảnh sát cũng xúm vào phụ khiêng Katerina Ivanovna. Bà được đưa vào phòng Sonia trong tình trạng gần như bất tỉnh và được đặt nằm lên giường. Máu vẫn tiếp tục trào ra, nhưng dường như bà đang dần hồi tỉnh. Raskolnikov, Lebeziatnikov và viên quan chức cùng Sonia bước vào phòng, theo sau là viên cảnh sát, sau khi ông ta đã giải tán đám đông đang bám theo tận cửa. Polenka bước vào, dắt theo Kolya và Lida đang run rẩy khóc lóc. Vài người từ phòng nhà Kapernaumov cũng bước sang; ông chủ nhà, một gã thọt chột mắt có diện mạo kỳ dị với chòm râu quai nón và mái tóc dựng đứng như bàn chải, mụ vợ gã với nét mặt muôn thuở lúc nào cũng sợ sệt, cùng mấy đứa trẻ đang há hốc mồm ngơ ngác. Giữa đám người ấy, Svidrigaïlov bất thình lình xuất hiện. Raskolnikov kinh ngạc nhìn gã, không hiểu gã từ đâu chui ra và trước đó cũng chẳng hề nhận thấy gã trong đám đông. Người ta bắt đầu bàn đến chuyện gọi bác sĩ và linh mục. Viên quan chức ghé tai thì thầm với Raskolnikov rằng ông nghĩ giờ có mời bác sĩ thì cũng đã quá muộn, nhưng ông vẫn bảo cứ đi gọi. Đích thân Kapernaumov chạy đi tìm.

Trong lúc đó, Katerina Ivanovna đã lấy lại được hơi thở. Máu tạm thời ngừng chảy. Bằng ánh mắt bệnh tật nhưng soi mói và sắc lẹm, bà nhìn Sonia đang đứng run rẩy tái mét, tay cầm chiếc khăn mùi soa lau mồ hôi trên trán mẹ. Cuối cùng bà thều thào xin được đỡ dậy. Người ta đỡ bà ngồi tựa trên giường, hai bên đều có người giữ.

“Lũ trẻ đâu rồi?” bà cất giọng yếu ớt. “Con dắt chúng về rồi đấy ư, Polenka? Ôi cái lũ ngốc này! Sao chúng mày lại bỏ chạy… Ôi chao!”

Đôi môi khô khốc của bà một lần nữa lại nhuốm đầy máu. Ánh mắt bà đảo qua đảo lại, ngó nghiêng khắp phòng.

“Thì ra con sống thế này đây, Sonia! Chưa một lần nào ta bước chân vào phòng con.”

Bà nhìn nàng bằng gương mặt đau đớn khôn xiết.

“Chúng ta đã làm tàn hại đời con rồi, Sonia à. Polenka, Lida, Kolya, lại đây! Nào, chúng nó đây, Sonia, con nhận lấy hết đi! Ta giao lại tất cả cho con đấy, ta chịu đựng quá đủ rồi! Tiệc tàn rồi.” (Khục!) “Đặt ta nằm xuống, để ta được chết trong yên bình.”

Họ đỡ bà nằm lại xuống gối.

“Cái gì, linh mục á? Ta không cần. Các người làm gì có dư nổi một rúp mà mời. Ta chẳng có tội lỗi gì hết. Không cần thế thì Chúa cũng phải tha tội cho ta. Người thấu suốt ta đã phải chịu đựng những gì… Mà nếu Người không chịu tha tội, ta cũng chẳng thèm!”

Bà ngày càng lún sâu vào cơn mê sảng bất an. Thỉnh thoảng bà lại rùng mình, đảo mắt nhìn quanh, nhận ra mọi người trong thoáng chốc, rồi lập tức lại chìm vào mê sảng. Tiếng thở của bà khò khè nhọc mệt, trong cổ họng phát ra những âm thanh như tiếng róc rách nghẹn ngào.

“Tôi đã bảo với lão, thưa quan lớn,” bà thốt lên từng tiếng ngắt quãng, hổn hển sau mỗi từ. “Cái mụ Amalia Ludwigovna ấy, a! Lida, Kolya, chống tay lên hông, nhanh lên! Glissez, glissez! pas de basque! Dập gót chân xuống, phải duyên dáng vào con!

Em có ngọc trai cùng kim cương lấp lánh

Gì nữa nhỉ? Phải hát bài ấy chứ.

Em có đôi mắt tuyệt trần nhất trần gian

Hỡi cô gái, em còn mong ước chi hơn?

Ý nghĩ quái quỷ gì thế! Was willst du mehr? Cái con ngốc kia nghĩ ra những trò gì thế không biết! À, phải rồi!

Giữa trưa hè bỏng rát nơi thung lũng Dagestan.

A, mẹ mê bài ấy biết bao! Mẹ từng mê mẩn bài hát đó đến phát cuồng, Polenka à! Bố con ngày xưa hay hát bài đó hồi bọn mẹ mới đính hôn đấy… Ôi, những ngày tháng ấy! Ôi, bài đó mới đúng là bài để chúng ta hát! Lời bài hát thế nào nhỉ? Mẹ quên mất rồi. Nhắc cho mẹ đi! Ra làm sao nhỉ?”

Bà kích động dữ dội và cố gượng ngồi dậy. Cuối cùng, bằng một giọng khàn đặc ghê rợn và đứt quãng, bà cất tiếng hát, vừa gào thét vừa thở hổn hển sau từng chữ, ánh mắt lộ rõ vẻ kinh hoàng tột độ.

“Giữa trưa hè bỏng rát!… nơi thung lũng!… Dagestan!… Mang viên đạn chì găm sâu trong lồng ngực!…”

“Thưa quan lớn!” bà bỗng cất tiếng gào xé ruột xé gan giữa dòng nước mắt tuôn rơi như suối, “xin hãy che chở cho lũ trẻ mồ côi! Quan lớn từng là khách quý của cha chúng… một gia đình có thể nói là quý tộc…” Bà giật nảy mình, sực tỉnh lại và nhìn mọi người bằng nỗi kinh hãi, nhưng rồi nhận ra Sonia ngay lập tức.

“Sonia, Sonia!” bà thều thào dịu dàng và âu yếm, như thể ngạc nhiên khi thấy nàng ở đó. “Sonia con gái yêu, con cũng ở đây ư?”

Người ta lại nâng bà dậy.

“Đủ rồi! Hết rồi! Vĩnh biệt nhé, con người khốn khổ! Tôi xong đời rồi! Tôi gục ngã rồi!” bà hét lên trong nỗi tuyệt vọng hằn học, rồi đầu bà gục mạnh xuống gối.

Bà lại chìm vào hôn mê, nhưng lần này không kéo dài lâu. Gương mặt nhợt nhạt, vàng vọt và gầy rộc của bà ngửa ra sau, miệng há hốc, chân giật giật từng cơn co quắp, bà trút một tiếng thở dài thật sâu, thật dài, rồi trút hơi thở cuối cùng.

Sonia gục xuống bên bà, ôm chầm lấy thi thể bất động, vùi đầu vào khuôn ngực gầy guộc của người vừa khuất. Polenka quỳ sụp dưới chân mẹ, vừa hôn lấy đôi bàn chân vừa khóc lóc thảm thiết. Dù Kolya và Lida chưa hiểu chuyện gì vừa xảy ra, chúng cũng lờ mờ cảm thấy có điều gì đó vô cùng khủng khiếp; hai đứa bé đặt tay lên đôi vai nhỏ nhắn của nhau, trố mắt nhìn nhau rồi cùng lúc ngoác miệng gào khóc. Cả hai đứa vẫn còn nguyên bộ đồ hóa trang; đứa thì quấn khăn xếp, đứa thì đội chiếc mũ cài mẩu lông đà điểu.

Và làm sao mà “tờ chứng nhận công trạng” lại nằm trên giường bên cạnh Katerina Ivanovna được nhỉ? Nó nằm ngay cạnh gối; Raskolnikov đã nhìn thấy nó.

Anh bước lại gần cửa sổ. Lebeziatnikov nhảy chân sáo lại gần anh.

“Bà ấy chết rồi,” anh ta nói.

“Rodion Romanovitch, tôi muốn nói với anh vài lời,” Svidrigaïlov bước lại gần họ.

Lebeziatnikov lập tức nhường chỗ rồi tế nhị lui ra xa. Svidrigaïlov kéo Raskolnikov ra một góc riêng.

“Tôi sẽ đứng ra lo liệu mọi việc, ma chay tang lễ này nọ. Anh biết đấy, tất cả chỉ là vấn đề tiền bạc, mà như tôi đã bảo, tôi chẳng thiếu tiền. Tôi sẽ gửi hai đứa nhỏ cùng Polenka vào một trại mồ côi tử tế, và sẽ lập một khoản tiền một ngàn năm trăm rúp cho mỗi đứa khi chúng đến tuổi trưởng thành, để Sofya Semyonovna không phải bận lòng lo lắng cho chúng nữa. Tôi cũng sẽ kéo cô ấy ra khỏi vũng bùn nhơ nhớp này, dù sao cô ấy cũng là một cô gái tốt, đúng không nào? Vậy nên anh hãy nói với Avdotya Romanovna rằng tôi đang dùng mười ngàn rúp của cô ấy vào việc này đấy.”

“Động cơ nào khiến ông làm việc thiện này?” Raskolnikov hỏi.

“Ái chà! Anh đúng là kẻ đa nghi!” Svidrigaïlov bật cười. “Tôi đã bảo là tôi không cần số tiền đó mà. Chẳng lẽ anh không chịu thừa nhận rằng chuyện này làm đơn thuần vì lòng nhân đạo sao? Dù sao bà ấy đâu phải là ‘một con rận’” (gã chỉ tay về góc phòng nơi thi thể người đàn bà đang nằm), “đúng không nào, đâu có giống mụ già cầm đồ nào đó? Nào, anh cũng đồng tình chứ, Luzhin đáng được sống tiếp để làm những điều ác đức, hay bà ấy đáng phải chết? Và nếu tôi không ra tay giúp đỡ, Polenka rồi cũng sẽ bước vào vết xe đổ ấy thôi.”

Gã nói những lời ấy với vẻ nháy mắt ranh mãnh và tinh quái, đôi mắt dán chặt vào Raskolnikov, người vừa tái mét mặt mày và lạnh toát cả sống lưng khi nghe thấy chính những câu từ mà mình từng thốt ra với Sonia. Anh vội vã lùi lại một bước, trố mắt nhìn Svidrigaïlov đầy kinh hãi.

“Làm sao ông biết được?” anh thì thào, gần như nghẹt thở.

“Thì tôi trọ ngay bên cạnh nhà bà Resslich đây thôi, cách nhau có một bức tường. Bên này là nhà Kapernaumov, còn bên kia là chỗ ở của bà Resslich, một người bạn cũ và rất thân thiết của tôi. Tôi là hàng xóm sát vách mà.”

“Ông ư?”

“Phải,” Svidrigaïlov tiếp lời, cười rung cả người. “Tôi lấy danh dự mà cam đoan với anh, Rodion Romanovitch thân mến, rằng anh khiến tôi vô cùng thích thú đấy. Tôi đã bảo rồi mà, chúng ta sẽ trở thành bạn bè của nhau, tôi đoán trước rồi. Đấy, giờ thì đúng như thế nhé. Rồi anh sẽ thấy tôi là một người dễ tính đến mức nào. Anh sẽ thấy anh hoàn toàn có thể hòa hợp với tôi!”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 17 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.