Về sau, Raskolnikov tình cờ biết được lý do vì sao người bán hàng xén và vợ hắn lại mời Lizaveta. Đó chỉ là một chuyện vô cùng tầm thường và chẳng có gì đặc biệt. Một gia đình nọ vì sa cơ lỡ vận phải dọn đến thành phố sinh sống, nay đang cần bán đợt đồ đạc trong nhà cùng quần áo, toàn là đồ phụ nữ cả. Vì mang ra chợ bán thì chẳng được bao nhiêu, họ mới cất công tìm một tay buôn trung gian. Đó chính là công việc của Lizaveta. Cô hay nhận những mối như vậy và thường xuyên được tin dùng, bởi cô rất thật thà, luôn đưa ra một mức giá hợp lý và cứ thế mà giữ nguyên. Thường thì cô ít nói, và như chúng ta đã nhắc đến trước đó, cô cực kỳ nhẫn nhịn và rụt rè.
Nhưng dạo gần đây, Raskolnikov lạiâm ỉ mang tính mê tín. Những tàn dư của sự mê tín ấy đeo bám anh mãi về sau và gần như chẳng thể nào gột sạch. Về mọi chuyện xảy ra lúc này, sau đó anh luôn có xu hướng nhìn nhận nó như một điềm gì đó kỳ lạ và huyền bí, tựa hồ như có sự nhúng tay của những thế lực hay sự trùng hợp kỳ quặc nào đó. Mùa đông năm ngoái, một người quen của anh là sinh viên Pokorev, người đã chuyển đến Kharkov, trong một lần trò chuyện đã tình cờ cho anh địa chỉ của Alyona Ivanovna, bà lão cho nặng lãi, phòng khi anh cần cầm đồ thứ gì. Mãi tận sau đó anh vẫn không tìm đến bà, bởi anh còn đi gia sư và ít nhiều gì cũng tự xoay sở được. Sáu tuần trước, chợt nhớ lại địa chỉ ấy, anh nhận ra mình có hai món đồ có thể đem cầm: chiếc đồng hồ bạc cũ của người cha và một chiếc nhẫn vàng nhỏ đính ba viên ngọc đỏ, món quà từ người em gái vào ngày tiễn biệt. Anh quyết định chọn chiếc nhẫn. Khi diện kiến bà lão, ngay từ cái nhìn đầu tiên, anh đã dâng trào một nỗi chán ghét khôn tả xiết đối với mụ, dù chẳng biết gì đặc biệt về mụ cả. Nhận được hai rúp từ mụ, trên đường về nhà, anh ghé vào một quán rượu tồi tàn. Anh gọi trà, ngồi xuống và chìm đắm vào dòng suy nghĩ miên man. Một ý nghĩ kỳ lạ cứ mổ lấy đại não anh hệt như con gà con trong vỏ trứng, và nó hấp dẫn, cuốn hút anh đến tột cùng.
Ngay sát bàn bên cạnh, một cậu sinh viên mà anh không quen biết và chưa từng gặp mặt đang ngồi cùng một viên sĩ quan trẻ. Họ vừa chơi xong ván bi-a và bắt đầu gọi trà. Bỗng nhiên, anh nghe thấy cậu sinh viên nhắc đến mụ cho vay nặng lãi Alyona Ivanovna với viên sĩ quan và đọc luôn địa chỉ của mụ. Bản thân chuyện này đối với Raskolnikov đã là một điều kỳ lạ; anh vừa từ chỗ mụ bước ra và ngay tại đây lại nghe thấy tên mụ. Dĩ nhiên đó chỉ là một sự tình cờ, nhưng anh không sao gạt bỏ được cái ấn tượng vô cùng khác thường ấy, tựa hồ như có ai đó đang cố tình nói cho một mình anh nghe vậy; cậu sinh viên nọ bắt đầu kể cho bạn mình nghe đủ thứ chi tiết về Alyona Ivanovna.
– Lão ta thuộc hàng đỉnh chóp đấy, – hắn nói. – Cậu lúc nào cũng có thể vay được tiền từ mụ. Mụ ta giàu như một lão Do Thái ấy, sẵn sàng vung ra năm nghìn rúp một lúc mà chẳng nề hà việc nhận cầm một món đồ chỉ đáng giá một rúp. Khối đứa tụi mình từng giao du với mụ rồi. Nhưng mà mụ ta là một con mụ mỏ nhọn ghê gớm...
Và hắn bắt đầu miêu tả mụ ta cay nghiệt và đồng bóng ra sao, nếu cậu chậm trả lãi dù chỉ một ngày là mất toi vật cầm cố; mụ chỉ chịu đưa bằng một phần tư giá trị món đồ trong khi vơ vét mức lãi suất năm, thậm chí bảy phần trăm một tháng và vân vân. Cậu sinh viên cứ thế huyên thuyên, kể rằng mụ có một người em gái tên là Lizaveta, người mà con mụ khốn khổ ấy cứ liên tục đánh đập và bắt trói buộc như một đứa trẻ nhỏ, mặc dù Lizaveta cao ít nhất cũng phải sáu thước.
– Cậu thấy hiện tượng chưa, – cậu sinh viên kêu lên rồi cười lớn.
Họ chuyển sang bàn về Lizaveta. Cậu sinh viên nhắc đến cô với một sự khoái trá đặc biệt và cứ cười mãi, còn viên sĩ quan thì lắng nghe với vẻ rất hứng thú, thậm chí còn nhờ hắn bảo Lizaveta đến vá giùm vài thứ. Raskolnikov không bỏ sót một từ nào và thâu tóm toàn bộ thông tin về cô. Lizaveta trẻ hơn mụ già và là em cùng cha khác mẹ với mụ. Cô năm nay ba mươi lăm tuổi. Cô đầu tắt mặt tối làm việc cho chị từ ngày đến đêm, ngoài việc nấu nướng và giặt giũ, cô còn nhận may vá, làm thuê làm mướn đủ thứ rồi dâng hết toàn bộ số tiền kiếm được cho mụ chị. Cô chẳng dám tự ý nhận bất kỳ mối hàng hay công việc nào nếu không được sự cho phép của chị. Mụ già đã lập di chúc từ lâu, và Lizaveta thừa biết điều đó: theo bản di chúc ấy, cô sẽ chẳng nhận được một xu dính túi nào, ngoại trừ ít đồ đạc lặt vặt trong nhà như ghế đẩu hay đại loại thế; toàn bộ số tiền đều được để lại cho một tu viện ở tỉnh N—— để cầu nguyện cho linh hồn mụ đời đời kiếp kiếp. Lizaveta có thân phận thấp kém hơn chị, chưa chồng và mang vẻ ngoài cực kỳ vụng về, cao lêu nghêu với đôi bàn chân dài dường như quặp cả ra ngoài. Cô lúc nào cũng đi những đôi giày da dê đã rách bươm, nhưng bản thân lại rất gọn gàng sạch sẽ. Điều khiến cậu sinh viên tỏ ra ngạc nhiên và buồn cười nhất chính là việc Lizaveta cứ mang thai liên tục.
– Nhưng cậu bảo cô ta trông ghê tởm cơ mà? – viên sĩ quan thắc mắc.
– Ừ thì, da cô ta ngăm đen và trông giống như một tên lính cải trang ấy, nhưng cậu biết đấy, thực ra cô ta chẳng hề ghê tởm chút nào. Gương mặt và ánh mắt cô ta hiền lành lắm. Đến mức gây ấn tượng mạnh luôn ấy chứ. Bằng chứng là khối kẻ bị thu hút bởi cô ta đấy. Cô ta là một sinh linh mềm mỏng, dịu dàng, sẵn sàng nhẫn nhục chịu đựng mọi thứ, lúc nào cũng nhiệt tình, sẵn lòng làm bất cứ việc gì. Và nụ cười của cô ta thực sự rất dễ mến.
– Có vẻ như chính cậu cũng thấy cô ta hấp dẫn rồi đấy chứ, – viên sĩ quan cười phá lên.
– Vì sự kỳ quặc của cô ta thôi. Không, để tớ nói cho nghe thế này. Tớ mà có thể đâm chết con mụ già khốn kiếp ấy rồi cuỗm hết tiền của mụ, tớ cam đoan với cậu là tớ chẳng mảy may thấy cắn rứt lương tâm chút nào đâu, – cậu sinh viên nói thêm với giọng đầy nhiệt tình. Viên sĩ quan lại cười vang còn Raskolnikov thì rùng mình. Mới lạ làm sao!
– Nghe này, tớ muốn hỏi cậu một câu rất nghiêm túc, – cậu sinh viên nói với giọng hừng hực. – Dĩ nhiên lúc nãy tớ chỉ nói đùa thôi, nhưng cậu thử nghĩ xem: một bên là một mụ già ngu ngốc, vô tích sự, chẳng có giá trị gì, cay nghiệt, ốm yếu, đáng ghét, không những chẳng có ích gì mà còn toàn gây ra chuyện xấu, đến bản thân sống để làm gì mụ cũng chẳng biết, và đằng nào thì chỉ một hai ngày nữa mụ cũng ngỏm củ tỏi. Cậu hiểu chứ? Cậu có hiểu không?
– Rồi, rồi, tớ hiểu, – viên sĩ quan đáp, chăm chú nhìn người bạn đang vô cùng kích động của mình.
– Vậy thì nghe đây. Ở chiều ngược lại, biết bao nhiêu sinh mạng trẻ trung tươi mới đang bị tàn lùi chỉ vì thiếu sự giúp đỡ, và chúng chết đi từng đàng, ở khắp mọi nơi! Hàng trăm nghìn việc thiện có thể được làm và hỗ trợ bằng chính số tiền của mụ già đang sắp bị chôn vùi trong xó tu viện kia! Hàng trăm, có lẽ hàng nghìn con người có thể được dìu dắt vào con đường đúng đắn; hàng chục gia đình được cứu vớt khỏi cảnh nghèo đói, túng quẫn, khỏi vũng lầy tội lỗi, khỏi những bệnh viện phong hóa — và tất cả chỉ nhờ vào tiền của mụ ta. Giết mụ đi, lấy tiền của mụ rồi dùng nó để cống hiến cho nhân loại và mưu cầu phúc lợi cho tất cả mọi người. Cậu nghĩ xem, chẳng lẽ một tội ác nhỏ nhoi ấy lại không thể bị xóa nhòa bởi hàng nghìn việc tốt hay sao? Đổi lấy một mạng người là hàng vạn sinh linh được cứu rỗi khỏi cảnh mục rữa, đồi bại. Một cái chết đánh đổi lấy một trăm mạng người — đó là một bài toán số học quá đơn giản! Hơn nữa, sự sống của một mụ già ốm yếu, ngu ngốc, độc ác ấy thì có trọng lượng gì trên bàn cân của tạo hóa chứ? Chẳng khác nào sinh mạng của một con rận, một con bọ cánh cứng, thậm chí còn chẳng bằng, bởi mụ ta chỉ toàn gây hại. Mụ đang vắt kiệt sinh mạng của người khác; dạo trước mụ còn cắn đứt ngón tay của Lizaveta chỉ vì tức tối, suýt chút nữa là phải tháo khớp luôn rồi đấy.
– Dĩ nhiên là mụ ta chẳng đáng sống rồi, – viên sĩ quan nhận xét, – nhưng biết sao được, đó là quy luật tự nhiên mà.
– Ô hay, ông anh ạ, nhưng chúng ta sinh ra là để uốn nắn và điều hướng tự nhiên cơ mà, nếu không có điều đó thì chúng ta đã chết chìm trong đại dương định kiến rồi. Sẽ chẳng bao giờ có nổi dù chỉ một vĩ nhân nếu thiếu đi điều đó. Người ta cứ mở miệng ra là nói về bổn phận, lương tâm — tớ chẳng có ý chê bai gì bổn phận với lương tâm đâu; — nhưng vấn đề cốt lõi là chúng ta hiểu những khái niệm đó ra sao? Khoan đã, tớ lại có câu hỏi này muốn hỏi cậu. Nghe đây!
– Thôi, để tớ hỏi cậu một câu đã. Nghe cho kỹ đây!
– Gì nào?
– Cậu cứ ba hoa chích choè nãy giờ đấy, nhưng khai thật đi, chính cậu có dám ra tay giết mụ già không?
– Đương nhiên là không rồi! Tớ chỉ đang bàn về tính chính nghĩa của nó thôi chứ... Chuyện đó đâu liên quan gì đến tớ...
– Thế nhưng tớ lại nghĩ thế này, nếu chính cậu cũng không dám nhúng tay vào thì chẳng có cái gọi là chính nghĩa nào ở đây sất... Nào, làm ván nữa đi.
Raskolnikov cảm thấy vô cùng bấn loạn. Dĩ nhiên, tất cả chỉ là những cuộc bàn luận và suy nghĩ ngây ngô tuổi trẻ, những thứ mà anh đã từng nghe rất nhiều lần trước đó với đủ mọi hình thức và chủ đề khác nhau. Nhưng tại sao anh lại tình cờ nghe được một cuộc tranh luận cùng những tư tưởng y hệt như vậy vào đúng cái khoảnh khắc mà trong đầu anh vừa mới nhen nhóm... chính những suy nghĩ ấy? Và tại sao, đúng vào lúc anh vừa mang mầm mống ý tưởng của mình rời khỏi nhà mụ già thì lại vớ ngay được một cuộc trò chuyện về chính mụ ta? Sự trùng hợp này mãi mãi in hằn trong tâm trí anh như một điều kỳ lạ. Cuộc tán gẫu vặt vãnh ở quán rượu ấy đã tác động vô cùng to lớn đến những hành động sau này của anh; tựa hồ như trong đó thực sự ẩn chứa một sự sắp đặt từ trước, một lời gợi mở dẫn đường nào đó...
Trở về từ khu chợ Hay Market, anh ngả phác người lên chiếc ghế sô-pha và cứ ngồi im bất động suốt cả một tiếng đồng hồ. Trong lúc ấy, trời dần tối sầm lại; anh chẳng có lấy một ngọn nến, và quả thật, anh cũng chẳng mảy sinh ra ý định thắp đèn. Anh không tài nào nhớ nổi lúc đó mình có đang suy nghĩ vẩn vơ điều gì không. Cuối cùng, anh cảm nhận được cơn sốt rét quen thuộc đang quay trở lại, và anh thấy nhẹ nhõm khi nhận ra mình có thể duỗi người nằm xuống ghế sô-pha. Chẳng mấy chốc, một giấc ngủ nặng nề, đặc quánh như chì trùm lấy anh, ép lịm anh đi.
Anh ngủ một giấc dài đến lạ lùng và không hề mộng mị gì cả. Nastasya, khi bước vào phòng anh vào lúc mười giờ sáng hôm sau, đã phải chật vật lắm mới đánh thức được anh. Cô mang vào cho anh một bát trà và mẩu bánh mì. Nước trà lại là loại pha nước thứ hai và vẫn được đựng trong chiếc ấm của riêng cô.
– Lạy chúa tôi, sao mà hắn ngủ ác thế không biết! – cô bực bội kêu lên. – Lúc nào cũng thấy ngủ với ngáy.
Anh gắng gượng chồm dậy. Đầu buốt nhức, anh đứng lên, đi lại vài vòng trong căn gác xép nhỏ rồi lại ngã quỵ xuống ghế sô-pha.
– Lại chuẩn bị ngủ tiếp đấy phỏng? – Nastasya quát lên. – Bộ anh ốm à?
Anh không đáp lời.
– Có muốn uống trà không?
– Chút nữa đã, – anh nhọc nhằn thốt lên, khép hờ đôi mắt lại và quay mặt vào vách tường.
Nastasya đứng thừ ra nhìn anh.
– Có khi hắn ốm thật rồi ấy chứ, – cô lẩm bẩm, đoạn quay người bước ra ngoài. Đến hai giờ chiều, cô quay lại mang theo bát súp. Anh vẫn nằm nguyên tư thế cũ. Bát trà hoàn toàn chưa hề được động đến. Nastasya đâm ra chạnh lòng và bắt đầu cáu kỉnh lay gọi anh dậy.
– Sao mà cứ nằm ì ra đấy như khúc gỗ thế hả? – cô quát lớn, nhìn anh với vẻ ghê tởm.
Anh gượng đứng dậy, rồi lại ngồi sụp xuống, tuyệt nhiên không nói năng gì mà chỉ đờ đẫn nhìn chằm chằm xuống sàn nhà.
– Rốt cuộc là anh có ốm hay không hả? – Nastasya hỏi và một lần nữa chẳng nhận được câu trả lời. – Tốt hơn hết là ra ngoài hít thở không khí đi thôi, – cô nói sau một thoáng im lặng. – Có ăn hay không đây?
– Chút nữa, – anh thều thào đáp. – Cô đi đi.
Rồi anh ra hiệu đuổi cô ra ngoài.
Cô chần chừ thêm chút nữa, nhìn anh bằng ánh mắt đầy ái ngại rồi lủi thủi bước đi.
Vài phút sau, anh ngước mắt lên, thẫn thờ nhìn bát trà và bát súp một hồi lâu. Đoạn, anh cầm lấy mẩu bánh mì, xúc một chiếc thìa và bắt đầu ăn.
Anh ăn được vài miếng, chừng ba bốn thìa, hoàn toàn không chút cảm giác thèm ăn, cứ như một cỗ máy. Cơn đau đầu đã dịu bớt phần nào. Dùng bữa xong, anh lại duỗi mình nằm dài trên ghế sô-pha, nhưng lần này anh không tài nào ngủ nổi; anh cứ nằm bất động, vùi mặt vào chiếc gối. Đầu óc anh bị ám ảnh bởi những giấc mơ ban ngày, những giấc mộng ban ngày kỳ lạ làm sao; trong một giấc mơ cứ lặp đi lặp lại mãi, anh tưởng tượng mình đang ở Châu Phi, ở tận xứ Ai Cập, lạc vào một ốc đảo nào đó. Đoàn lạc đà đang dừng chân nghỉ ngơi, mấy con vật nằm thảnh thơi trên cát; những rặng cây chà là vây quanh tạo thành một vòng tròn khép kín; mọi người trong đoàn đang quây quần ăn tối. Còn anh thì đang ngụm uống dòng nước mát lành từ một con suối róc rách chảy ngay sát cạnh. Nước mát lạnh đến kỳ diệu, tuyệt diệu làm sao, dòng nước trong xanh lạnh ngắt len lỏi chảy qua những viên sỏi đủ màu sắc và lớp cát tinh khôi lấp lánh tựa vàng mười ở rải rác khắp nơi... Bỗng nhiên, anh nghe tiếng chuông đồng điểm nhịp. Anh giật mình thót ruột, bừng tỉnh, ngẩng phắt đầu lên, hướng mắt ra khung cửa sổ, và khi nhận ra trời đã muộn đến nhường nào, anh vùng dậy tỉnh như sáo hệt như có ai vừa lôi xốc anh khỏi ghế sô-pha. Anh rón rén bước từng bước trên đầu ngón chân ra cửa, lén lút hé mở rồi dỏng tai nghe ngóng ngoài cầu thang. Tim anh đập loạn nhịp như đánh trống trận. Thế mà ngoài cầu thang lại tĩnh mịch như tờ, ngỡ như tất cả mọi người đều đã chìm vào giấc ngủ... Đối với anh, thật kỳ lạ và quái gở làm sao khi bản thân lại có thể chìm đắm trong cơn mê sảng quên sầu từ tận hôm qua để rồi chẳng làm được tích sự gì, chưa hề chuẩn bị mảy may một công tác nào cả... Trong khi đó, có lẽ đồng hồ đã điểm sáu giờ rồi cũng nên. Tiếp sau cơn choáng váng và mệt mỏi rã rời là một sự vội vã đến cuồng loạn, nóng bỏng và bất thường. Dẫu vậy, những thứ cần chuẩn bị chẳng có bao nhiêu. Anh dồn toàn bộ tâm trí để cân nhắc mọi bề sao cho chu đáo và không bỏ sót bất cứ chi tiết nào; còn lồng ngực thì cứ phập phồng đập thình thịch khiến anh suýt chẳng thể thở nổi. Việc đầu tiên là phải làm một chiếc vòng thòng lọng rồi khâu nó vào bên trong chiếc áo bành tô — công việc chỉ diễn ra trong chớp mắt. Anh thọc tay lục lọi dưới gối, bới giữa đống đồ lót nhét bừa bãi ở đó ra một chiếc áo sơ mi cũ kỹ, rách rưới đã lâu không giặt. Từ những mảnh vải tả tơi ấy, anh xé ra một dải dài chừng hai thốn bề ngang và dài khoảng mười sáu thốn. Anh gập đôi dải vải lại, cởi chiếc áo bành tô mùa hè rộng thùng thình bằng vải thô dày dặn của mình ra (đó cũng là chiếc áo khoác ngoài duy nhất anh có) rồi bắt đầu khâu hai đầu dải vải vào phần lót bên trong, ngay dưới nách áo bên trái. Tay anh run lẩy bẩy khi khâu vá, nhưng cuối cùng anh vẫn hoàn thành suôn sẻ sao cho bề ngoài hoàn toàn không bị lộ chút dấu vết nào khi mặc áo lên người. Kim và chỉ anh đã chuẩn bị từ đời thuở nào, chúng nằm gọn trên bàn trong một mẩu giấy bọc. Riêng về phần chiếc vòng thòng lọng, đó là một sáng kiến vô cùng tinh vi do chính anh nghĩ ra; chiếc vòng được thiết kế chuyên để giữ chiếc rìu. Anh đời nào có thể đường hoàng xách theo chiếc rìu đi ngoài đường phố trên tay được. Giả sử có giấu nó dưới vạt áo thì anh vẫn phải dùng tay đỡ lấy, và điều đó sẽ rất dễ bị chú ý. Giờ đây, anh chỉ cần luồn phần lưỡi rìu vào vòng thòng lọng, và nó sẽ ngoan ngoãn treo lơ lửng ở bên trong nách áo. Thọc tay vào túi áo, anh có thể giữ chặt lấy phần đuôi cán rìu trong suốt dọc đường đi để nó không bị lúc lắc; và vì chiếc áo bành tô rất rộng, chẳng khác nào một chiếc bao tải thực thụ, nên người ngoài hoàn toàn không thể nhận ra anh đang cầm nắm thứ gì bên trong túi áo. Chiếc vòng thòng lọng này cũng đã được anh lên thiết kế từ hai tuần trước. Làm xong xuôi đâu đấy, anh thọc tay vào khe hở nhỏ giữa chiếc ghế sô-pha và sàn nhà, khua khoắng tìm kiếm ở góc bên trái rồi lôi ra món đồ thế chấp mà anh đã chuẩn bị sẵn sàng từ lâu và giấu kỹ ở đó. Tuy nhiên, món đồ thế chấp này kỳ thực chỉ là một khúc gỗ được bào nhẵn nhụi có kích thước và độ dày y hệt như một chiếc hộp đựng thuốc lá bằng bạc. Anh đã nhặt được khúc gỗ này trong một lần lang thang qua một khoảng sân có xưởng mộc nào đó. Sau đó, anh kiếm thêm một thanh sắt mỏng nhẵn thín cũng nhặt được ở ngoài đường vào thời điểm đó để ép vào khúc gỗ. Đặt thanh sắt nhỏ hơn lên bề mặt khúc gỗ, anh dùng sợi chỉ quấn chéo đan xen thật chặt để cố định chúng lại với nhau; tiếp đến, anh cẩn thận bọc chúng lại bằng một lớp giấy trắng tinh sạch sẽ rồi buộc gói quà thật khéo léo sao cho việc tháo gỡ nó ra là điều vô cùng khó khăn. Mục đích của việc này là để đánh lạc hướng mụ già trong chốc lát trong lúc mụ hì hục tháo nút thắt, qua đó anh tranh thủ câu giờ. Thanh sắt được thêm vào để tạo trọng lượng, giúp mụ ta không thể nhận ra ngay trong phút đầu tiên rằng "món đồ" thực chất chỉ làm bằng gỗ. Tất cả những thứ này đã được anh cất giấu dưới gầm ghế sô-pha từ trước. Anh vừa mới lôi món đồ thế chấp ra thì bỗng nghe thấy tiếng ai đó hét lớn ngoài sân:
– Điểm sáu giờ từ lâu rồi đấy nhé.
– Lâu rồi á! Lạy chúa tôi!
Anh lao bổ ra cửa, lắng tai nghe ngóng, vớ lấy chiếc mũ rồi thận trọng bước xuống mười ba bậc cầu thang, đi nhẹ nhàng và êm thiu như một con mèo. Công việc quan trọng nhất vẫn còn ở phía trước — đó là trộm chiếc rìu trong bếp. Việc vụ án phải được thực hiện bằng một chiếc rìu đã được anh định đoạt từ đời thuở nào. Anh cũng có sẵn một con dao tỉa cây trong túi, nhưng anh không đời nào dám đặt niềm tin vào con dao ấy, và lại càng không tin tưởng vào sức lực của bản thân, thế nên anh mới quyết định chốt hạ bằng chiếc rìu. Nhân đây, chúng ta cũng có thể nhận thấy một đặc điểm kỳ lạ trong mọi quyết định cuối cùng của anh về vụ việc này; chúng đều mang một nét tính cách quái gở: càng là quyết định dứt khoát bao nhiêu, thì trong mắt anh chúng lại càng trở nên gớm ghiếc và vô lý bấy nhiêu ngay lập tức. Mặc cho mọi giằng xé nội tâm đến quằn quại, trong suốt quãng thời gian ấy, chưa có một khoảnh khắc nào anh thực sự tin rằng mình sẽ tiến hành thi hành những kế hoạch đã vạch ra.
Và quả thực, giả như có lúc nào đó mọi thứ dù là nhỏ nhặt nhất đã được cân nhắc thấu đáo và định đoạt rạch ròi, chẳng còn vương vấn chút bất trắc nào nữa, thì có lẽ anh đã vứt xó tất cả như một trò điên rồ, quái đản và bất khả thi. Đằng này, vẫn còn một đống những điểm chưa rõ ràng và bất trắc bủa vây. Riêng chuyện kiếm chiếc rìu, cái việc vặt vãnh ấy chẳng khiến anh mảy may lo lắng bận tâm, bởi chẳng có gì dễ dàng hơn thế. Nastasya thường xuyên vắng nhà, nhất là vào những buổi tối; cô hay chạy sang nhà hàng xóm hoặc ra tiệm tạp hóa, và lúc nào cũng để cửa khép hờ. Đó cũng chính là điều khiến bà chủ nhà suốt ngày phải cằn nhằn mắng mỏ cô. Thế nên, cứ hễ đến thời điểm thích hợp, anh chỉ việc lẳng lặng bước vào bếp lấy chiếc rìu, rồi một tiếng sau (khi mọi chuyện đã ngã ngũ) lại lén đem trả về chỗ cũ. Nhưng ngặt nỗi vẫn còn đó những yếu tố bấp bênh. Giả như một tiếng sau anh quay lại để cất chiếc rìu mà Nastasya đã về đến nơi và đang có mặt ở đó thì sao. Dĩ nhiên anh sẽ phải lảng đi chỗ khác và chờ đến lúc cô ta rời đi. Nhưng nhỡ trong khoảng thời gian ấy mà cô ta phát hiện mất chiếc rìu, đi tìm kiếm rồi la làng lên — thì điều đó đồng nghĩa với việc bị nghi ngờ hoặc chí ít cũng là mầm mống gây họa.
Nhưng dẫu sao đó cũng chỉ là những chuyện vặt vãnh mà anh thậm chí còn chưa thèm bận tâm tính toán, mà quả thực anh cũng chẳng có thời gian. Anh đang dồn mọi suy nghĩ vào cái đích chính yếu, còn mấy tiểu tiết lặt vặt thì cứ tạm gác lại cho đến khi nào bản thân thực sự tin vào toàn bộ kế hoạch. Thế nhưng điều đó có vẻ bất khả thi tột cùng. Ít ra thì bản thân anh cũng cảm thấy như vậy. Chẳng hạn, anh không tài nào tưởng tượng nổi có lúc mình sẽ ngừng suy nghĩ, đứng phắt dậy rồi cứ thế lững thững bước sang bên ấy... Ngay cả cuộc thử nghiệm vừa rồi (tức là chuyến ghé thăm với mục đích khảo sát lần cuối hiện trường vụ án) cũng chỉ đơn thuần là một lần tập tành thử nghiệm, còn lâu mới là sự thật, hằn in qua câu nói tự nhủ "nào, cứ đến thám thính thử xem — ngồi mơ mộng viển vông mãi làm gì!" — để rồi ngay lập tức anh đã chùn bước, cuống cuồng tháo chạy trong sự tức tối và hoảng loạn tột độ với chính mình. Trong khi đó, xét về khía cạnh đạo đức thì có lẽ sự phân tích của anh đã hoàn thiện; món biện luận ngụy biện của anh đã sắc bén như dao cạo, và anh chẳng thể tìm đâu ra những lời phản bác hợp lý từ bên trong mình. Chỉ có điều, suy cho cùng thì anh đơn giản là đã mất niềm tin vào chính bản thân, và cứ thế kiênn định một cách khờ dại, nô lệ đi tìm kiếm những lý lẽ ở khắp mọi ngả đường, khua khoắng tìm tòi chúng tựa hồ như đang có ai đó thúc ép và lôi kéo anh lao vào con đường ấy vậy.
Ban đầu — từ rất lâu trước đó — anh đã từng trăn trở rất nhiều về một câu hỏi: vì sao hầu như tất cả mọi vụ án mạng đều bị che giấu tồi tệ và dễ dàng bị phát giác đến thế, và tại sao hầu như mọi tên tội phạm đều để lại những dấu vết rành rành lồ lộ như vậy? Dần dần, anh rút ra được rất nhiều kết luận khác nhau và thú vị, và theo quan điểm của anh, nguyên nhân chủ yếu không nằm ở sự bất khả thi về mặt vật chất trong việc che giấu tội ác, mà nằm chính ở bản thân kẻ thủ ác. Hầu như tên tội phạm nào cũng rơi vào trạng thái tê liệt ý chí và năng lực tư duy bởi sự bất cẩn ngây thơ và kỳ quái đến mức khó tin, ngay tại chính thời điểm mà sự thận trọng và cẩn mật là yếu tố quan trọng sống còn. Anh đinh ninh rằng thứ bệnh lý tha hóa lý trí và tê liệt ý chí này tấn công con người ta hệt như một căn bệnh truyền nhiễm, phát triển tiệm tiến và chạm đến đỉnh điểm ngay trước thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, tiếp tục hoành hành với cường độ không suy suyển vào đúng khoảnh khắc gây án và kéo dài thêm một khoảng thời gian ngắn dài tùy thuộc vào từng cá nhân, rồi sau đó mới thuyên giảm như bất kỳ căn bệnh thông thường nào khác. Câu hỏi rằng liệu căn bệnh ấy làm nảy sinh tội ác, hay bản thân tội ác mang trong mình bản chất đặc thù nên lúc nào cũng đi kèm với một trạng thái mang hơi hướng bệnh lý — điều đó thì anh vẫn chưa thấy đủ khả năng để định đoạt.
Khi đúc rút ra những kết luận ấy, anh tự đinh ninh rằng trong trường hợp của riêng mình sẽ không thể xảy ra một phản ứng bệnh hoạn nào như vậy, rằng lý trí và ý chí của anh sẽ vẫn minh mẫn nguyên vẹn vào thời điểm thực hiện mưu đồ, với một lý do độc nhất vô nhị là mưu đồ của anh "không phải là một tội ác..." Chúng ta sẽ tạm bỏ qua toàn bộ quá trình mà qua đó anh đi đến kết luận cuối cùng này; dường như chúng ta đã đi quá xa về phía trước rồi... Chúng ta chỉ xin nói thêm rằng những khó khăn mang tính thực tiễn, hoàn toàn thuần túy vật chất của vụ việc chỉ chiếm một vị trí thứ yếu trong tâm trí anh. "Người ta chỉ cần duy trì toàn bộ sức mạnh ý chí và lý trí để đối phó với chúng, rồi tất cả sẽ được vượt qua một khi bản thân đã thân thuộc với từng tiểu tiết nhỏ nhặt nhất của kế hoạch..." Thế nhưng công tác chuẩn bị ấy chưa bao giờ thực sự bắt đầu. Những quyết định cuối cùng của anh lại chính là những thứ mà anh ít đặt niềm tin nhất, và khi giờ G đã điểm, mọi chuyện lại diễn ra hoàn toàn khác hẳn, hệt như một sự ngẫu nhiên và bất ngờ vậy.
Một tình tiết nhỏ nhặt đã làm đảo lộn toàn bộ tính toán của anh, thậm chí trước cả khi anh kịp bước chân ra khỏi khu cầu thang. Khi bước đến khu bếp của mụ chủ nhà, với cánh cửa đang mở toang như thường lệ, anh thận trọng liếc vào bên trong để xem vắng mặt Nastasya thì mụ chủ nhà có đang ở đó không, hoặc giả không có mụ thì cửa phòng của mụ ta có đang khép kín không, để mụ không thể thò đầu ra dòm ngó lúc anh bén mảng vào lấy chiếc rìu. Thế nhưng, sự kinh hoàng tột độ nào đã chụp xuống đầu anh khi bất chợt nhận ra Nastasya không những có mặt ở nhà mà còn đang bận rộn dọn dẹp, lấy quần áo từ trong sọt ra để phơi lên dây. Trông thấy anh, cô dừng tay phơi đồ, quay lại và dán mắt vào anh chằm chằm trong suốt quãng thời gian anh bước qua. Anh vội vã đảo mắt nhìn sang hướng khác, lững thững bước đi như thể chẳng hề hay biết gì. Nhưng thế là hết chuyện; anh hoàn toàn không lấy được chiếc rìu! Anh chết sững người.
– Quái sao lúc nãy mình lại đinh ninh rằng, – anh tự lẩm bẩm trong lúc bước dưới vòm cổng, – quái sao mình lại chắc mẩm rằng giờ này cô ta thể nào cũng vắng nhà cơ chứ! Tại sao, tại sao, tại sao mình lại dám khẳng định chắc nịch điều đó cơ chứ?
Anh cảm thấy suy sụp và thậm chí bị xúc phạm nặng nề. Anh chỉ muốn cười vào mặt chính mình trong cơn cuồng nộ... Một cơn thịnh nộ câm lặng tựa loài thú hoang đang sôi sục trong lồng ngực anh.
Anh đứng khựng lại ngập ngừng dưới vòm cổng. Ra đường, đi dạo cốt để làm vì thì thật nực cười; còn quay trở lại căn phòng của mình thì lại càng nhục nhã hơn gấp bội. – Thế là một cơ hội ngàn vàng đã vụt mất vĩnh viễn rồi sao! – anh lẩm bẩm, đứng thẫn thờ vô định ngay dưới vòm cổng, đối diện với căn phòng nhỏ tối tăm của gã gác cổng cũng đang mở toang cửa. Bỗng anh giật mình thót tim. Từ trong phòng gác cổng, cách chỗ anh đứng chừng hai bước chân, một vật gì đó lấp ló ánh kim loại lóe lên dưới chiếc băng-ghế dài bên tay phải đã đập vào mắt anh... Anh đảo mắt ngó quanh — không một bóng người. Anh rón rén tiến sát căn phòng, bước xuống hai bậc thềm rồi cất giọng nhỏ xíu gọi gã gác cổng. "Ừ đấy, có nhà đâu! Chắc quẩn quanh đâu đây ngoài sân thôi, vì cửa mở toang hoác cơ mà." Anh chồm chộp lao đến chỗ chiếc rìu (quả đúng là một chiếc rìu) rồi giật mạnh nó ra khỏi gầm băng-ghế, nơi nó đang nằm kẹp giữa hai khúc củi; ngay lập tức, trước khi bước ra ngoài, anh đã thòng nó vào chiếc vòng thòng lọng, thọc cả hai tay vào túi áo rồi hiên ngang bước ra khỏi căn phòng; chẳng một ai mảy may chú ý đến anh! "Khi lý trí bất lực, quỷ dữ sẽ ra tay tương trợ!" anh thầm nghĩ với một nụ cười nhăn nhở kỳ lạ. Sự tình cờ này đã vực dậy tinh thần anh một cách phi thường.
Anh đi đều bước điềm tĩnh, thong thả, tuyệt không vội vã để tránh khơi gợi sự nghi ngờ. Anh hầu như chẳng thèm nhìn những kẻ qua đường, cố tình né tránh việc chạm trán ánh mắt với họ để bản thân trở nên mờ nhạt nhất có thể. Bỗng nhiên anh nhớ ra chiếcếc mũ của mình. – Lạy chúa tôi! Tiền trong tay từ hôm kia thế mà lại quên toi mất việc tậu một cái mũ khác để thay!
Một tiếng chửi thề từ tận đáy lòng vụt bùng lên trong anh.
Liếc qua khóe mắt vào một cửa tiệm bên đường, anh nhìn chiếc đồng hồ treo trên tường và nhận ra đã mười phút trôi qua bảy giờ. Anh buộc phải rảo bước thật nhanh, đồng thời phải đi vòng vèo một chút để tiếp cận ngôi nhà từ hướng khác...
Khi mường tượng trước tất cả chuyện này, thỉnh thoảng anh từng nghĩ rằng bản thân sẽ vô cùng sợ hãi. Thế nhưng lúc này anh chẳng hề sợ hãi chút nào, thậm chí là hoàn toàn không sợ hãi. Đầu óc anh thậm chí còn bận tâm đến những chuyện chẳng mấy liên quan, nhưng cũng chẳng lưu tâm cái gì quá lâu. Khi đi ngang qua khu vườn Yusupov, anh chìm đắm sâu vào việc suy ngẫm về công trình xây dựng những đài phun nước lớn, cũng như tác dụng làm mát bầu không khí của chúng tại tất cả các quảng trường. Dần dần, luồng suy nghĩ chuyển hướng sang niềm xác tín rằng nếu khu vườn mùa hè được mở rộng đến tận cánh đồng Mars, và có lẽ nối liền với khu vườn của Cung điện Mihailovsky, thì đó sẽ là một kỳ công tuyệt mỹ và mang lại lợi ích to lớn cho thành phố. Sau đó, anh lại bị thu hút bởi câu hỏi tại sao ở tất cả các đô thị lớn, con người ta không chỉ bị thúc ép bởi nhu cầu sinh kế mà còn có xu hướng kỳ lạ muốn sinh sống tại những khu vực không có lấy một bóng cây xanh hay đài phun nước; nơi ngập tràn bụi bẩn, mùi hôi thối và đủ thứ rác rưởi kinh tởm nhất. Rồi những bước chân qua lại của chính anh ở khu chợ Hay Market lại hiện về trong tâm trí, kéo anh trở về thực tại trong giây lát. – Toàn những thứ vớ vẩn nhảm nhí! – anh thầm nghĩ, – tốt hơn hết là chẳng nên nghĩ ngợi gì sất!
– Chắc hẳn những kẻ bị dẫn độ ra pháp trường cũng bấu víu tâm trí vào mọi vật thể lướt qua trên đường đi như thế này đây, – một ý nghĩ xẹt qua đầu anh, nhưng chỉ xẹt qua nhanh như chớp cắt; anh vội vã xua tan ý nghĩ đó đi...
Và giờ thì anh đã đến nơi; đây là ngôi nhà, đây là cánh cổng. Bỗng nhiên tiếng chuông đồng hồ từ đâu đó vang lên một nhịp. – Gì cơ? Đã là bảy giờ rưỡi rồi ư? Không thể nào, chắc đồng hồ chạy nhanh rồi!
May mắn thay cho anh, mọi chuyện lại suôn sẻ một lần nữa ngay tại cổng ra vào. Đúng vào khoảnh khắc ấy, hệt như được sắp đặt sẵn cho anh hưởng lợi, một cỗ xe ngựa chở đầy cỏ khô kềnh càng vừa lộc cộc chạy vào cổng, che khuất hoàn toàn bóng dáng anh khi bước qua vòm cổng, và chiếc xe vừa kịp lọt vào hẳn trong sân thì anh đã nhanh như chớp lách người sang bên phải. Phía bên kia cỗ xe, tiếng la hét cãi vã vọng sang; nhưng chẳng một ai thèm để ý hay chạm trán anh. Rất nhiều khung cửa sổ hướng ra khoảng sân tứ giác rộng lớn ấy đang mở toang vào giờ này, nhưng anh không hề ngẩng đầu lên — anh chẳng còn chút sức lực nào nữa. Cầu thang dẫn lên căn phòng của mụ già nằm ngay sát bên cạnh, ở ngay phía bên phải vòm cổng. Anh đã đặt chân lên bậc thang...
Hít một hơi thật sâu, tì tay lên lồng ngực đang phập phồng đập loạn nhịp, rồi đưa tay nắn lại chiếc rìu cho ngay ngắn thêm lần nữa, anh bắt đầu rón rén thận trọng bước lên cầu thang, tai lắng nghe ngóng từng giây từng phút. Thế nhưng khu cầu thang cũng hoàn toàn vắng tanh vắng ngắt; mọi cánh cửa đều đóng im ỉm; anh chẳng gặp một bóng người. Quả thực có một căn hộ ở tầng một mở toang cửa và tốp thợ sơn đang cặm cụi làm việc bên trong, nhưng họ chẳng mảy liếc nhìn anh lấy một cái. Anh khựng lại, ngẫm nghĩ một phút rồi lại bước tiếp. – Dĩ nhiên sẽ tốt hơn nếu bọn họ không có mặt ở đây, nhưng... đây là tận hai tầng lầu phía trên cơ mà.
Và kìa tầng bốn đây rồi, cánh cửa đây rồi, căn hộ bỏ trống đối diện ngay trước mắt. Căn hộ nằm ngay phía dưới căn của mụ già hình như cũng đang bỏ trống; tấm danh thiếp đóng đinh trên cửa đã bị xé rách — họ đã chuyển đi nơi khác rồi!... Anh thở dốc từng cơn. Trong một tích tắc, ý nghĩ "Hay là mình quay về nhỉ?" thoáng lướt qua trong đầu. Nhưng anh chẳng đáp lại mà chỉ áp tai vào cánh cửa nhà mụ già, một sự tĩnh mịch chết chóc. Đoạn anh lại lắng tai nghe ngóng ngoài cầu thang, lắng nghe chăm chú hồi lâu... rồi đảo mắt nhìn quanh lần cuối cùng, thu tóm tinh thần, đứng thẳng người dậy và kiểm tra lại chiếc vòng thòng lọng giữ chiếc rìu một lần nữa. – Trông mặt mình có tái quá không nhỉ? – anh tự hỏi. – Bộ trông mình có vẻ đang bấn loạn rõ mười mươi hay sao? Mụ ta vốn là kẻ đa nghi... Hay là mình nên đợi thêm chút nữa... cho đến khi tim ngừng đập thình thịch nhỉ?
Nhưng trái tim anh nào có chịu ngừng đập. Ngược lại, hệt như để chống lại anh, nó càng lúc càng đập dữ dội và cuồng loạn hơn. Không thể chịu đựng thêm được nữa, anh chậm rãi chìa tay về phía nút chuông rồi bấm xuống. Nửa phút sau, anh bấm lại lần nữa, mạnh tay hơn.
Không một tiếng trả lời. Cứ tiếp tục bấm chuông nữa thì vừa vô ích vừa bất hợp lý. Mụ già chắc chắn là có nhà, nhưng mụ vốn đa nghi và đang ở một mình. Anh lờ mờ nắm rõ thói quen của mụ... và một lần nữa anh áp sát tai vào cánh cửa. Hoặc là các giác quan của anh bỗng trở nên nhạy bén bất thường (điều khó lòng xảy ra), hoặc là âm thanh thực sự rất rõ ràng. Bằng cách nào đó, anh bất chợt nghe thấy một tiếng động tựa như tiếng bàn tay cẩn trọng chạm vào ổ khóa cùng tiếng xột xoạt của tà áo váy sát ngay cửa ra vào. Có ai đó đang đứng lén lút sát ngay cạnh ổ khóa và cũng đang áp tai nghe ngóng từ bên trong hệt như những gì anh đang làm ở phía bên ngoài, và có vẻ như mụ ta đang áp tai vào cánh cửa... Anh cố tình dịch chuyển người đôi chút và cất tiếng lẩm bẩm to lên một chút để không mang dáng vẻ của kẻ đang rình mò, đoạn anh bấm chuông lần thứ ba, nhưng với thái độ bình tĩnh, chừng mực và không hề nôn nóng. Về sau nhớ lại, khoảnh khắc ấy hiện lên trong tâm trí anh vô cùng sống động, rõ mồn một và mãi mãi chẳng thể phai mờ; anh không sao hiểu nổi vì sao lúc đó mình lại có thể khôn ngoan đến thế, bởi tâm trí anh có những lúc như bị bao phủ bởi một lớp sương mù và anh gần như chẳng còn cảm nhận được thân xác mình... Một tích tắc sau, anh nghe thấy tiếng lẫy khóa được bật mở.