Bức thư của người mẹ đã hành hạ tâm can anh, thế nhưng, đối với sự việc chính trong đó, anh không hề dao động dù chỉ một khoảnh khắc, ngay cả khi đang đọc thư. Vấn đề cốt lõi đã được định đoạt, và được định đoạt một cách không thể vãn hồi trong tâm trí anh: “Đời nào có chuyện kết hôn như thế khi ta còn sống, và mặc thây cái lão Luzhin ấy đi!” Anh lẩm bẩm một mình: “Mọi chuyện hoàn toàn rõ ràng rồi,” với một nụ cười đầy ác ý, như thể đang đón trước thắng lợi cho quyết định của mình. “Không, thưa mẹ, không, thưa Dounia, hai người không lừa được con đâu! Rồi họ còn thanh minh vì đã không xin ý kiến con và tự mình quyết định mọi chuyện nữa chứ! Thật là nực cười! Họ tưởng là mọi việc đã an bài và không thể hủy bỏ được ư; nhưng chúng ta cứ chờ xem có hủy được hay không! Thật là một cái cớ tuyệt vời: ‘Pyotr Petrovitch bận rộn đến mức đám cưới của chính anh ta cũng phải diễn ra thật hỏa tốc, gần như bằng tàu tốc hành.’ Không, Dounia, con thấy hết và con biết hai người muốn nói gì với con; con cũng biết hai người đã nghĩ gì khi đi đi lại lại suốt cả đêm, và những lời cầu nguyện của hai người trước bức tượng Đức Mẹ Kazan đặt trong phòng ngủ của mẹ ra sao. Con đường lên đỉnh Golgotha thật cay đắng làm sao... Hừm... thế là đã quyết định xong xuôi; hai người đã định gả cho một doanh nhân thực tế, thưa Avdotya Romanovna, một kẻ có của ăn của để (đã tự lập nghiệp được cơ ngơi, điều đó mới vững chãi và ấn tượng làm sao), một kẻ nắm giữ hai chức vụ trong bộ máy nhà nước, kẻ chia sẻ tư tưởng của thế hệ đang lên của chúng ta, như mẹ viết, và có vẻ là một người tử tế, như chính Dounia nhận xét. Cái từ ‘có vẻ’ ấy đánh gục tất cả! Và chính vì cái từ ‘có vẻ’ ấy mà Dounia mới gả cho hắn! Thật tuyệt vời! Quá tuyệt vời!”
“...Nhưng tôi muốn biết tại sao mẹ lại viết cho tôi về ‘thế hệ đang lên của chúng ta’? Chỉ để miêu tả thêm cho sinh động, hay nhằm tạo thiện cảm cho tôi đối với ông Luzhin nhỉ? Ôi, sự ranh ma của họ! Tôi lại muốn biết thêm một điều nữa: hôm đó, đêm hôm đó và suốt thời gian qua, họ đã cởi mở với nhau đến mức nào? Mọi chuyện đều được nói ra thành lời, hay cả hai đều ngầm hiểu rằng họ chung một nỗi lòng và ý nghĩ, đến mức chẳng cần phải nói ra thành tiếng, và tốt hơn là không nên nói ra? Rất có thể là một phần như thế, điều đó hiển nhiên qua bức thư của mẹ: hắn có vẻ hơi thô lỗ, và trong sự ngây thơ của mình, mẹ đã đem những quan sát ấy nói lại với Dounia. Chắc chắn là cô ấy đã bực bội và ‘đáp lại mẹ một cách giận dữ.’ Đương nhiên rồi! Ai mà chẳng nổi giận khi mọi chuyện đã quá rõ ràng chẳng cần đến những câu hỏi ngây ngô, và khi người ta đã ngầm hiểu rằng bàn tán về nó chỉ là vô ích. Và tại sao mẹ lại viết cho tôi rằng: ‘Hãy thương yêu Dounia, Rodya, và con bé yêu anh hơn cả bản thân nó’? Phải chăng mẹ đang cắn rứt lương tâm vì đã đem con gái ra hy sinh cho con trai? ‘Con là niềm an ủi duy nhất của chúng ta, con là tất cả đối với chúng ta.’ Ôi, mẹ ơi!”
Sự cay đắng trong lòng anh ngày một dâng cao, và nếu lúc ấy tình cờ gặp ông Luzhin, có lẽ anh đã thủ tiêu hắn rồi.
“Hừm... phải, đúng thế,” anh tiếp tục, thả mình theo dòng suy nghĩ hỗn loạn đang đuổi bắt nhau trong não bộ, “đúng là ‘cần có thời gian và sự thận trọng để thấu hiểu một con người,’ nhưng về phần ông Luzhin thì chẳng có gì phải nhầm lẫn nữa. Điều quan trọng nhất là hắn ‘là một người làm ăn và có vẻ tử tế,’ thật đáng đời cho việc gửi hành lý và cái tráp lớn cho họ nhỉ! Một kẻ tử tế, chắc chắn là thế rồi! Thế mà cô dâu cùng mẹ đẻ lại phải đi trên một chiếc xe ngựa nông dân phủ bạt (tôi biết chứ, tôi đã từng đi xe đó rồi). Chẳng sao cả! Chỉ có chín mươi verst thôi, rồi họ có thể ‘du lịch thật thoải mái, vé hạng ba,’ cho cả ngàn verst! Quá đúng chứ còn gì nữa. Liệu cơm gắp mắm thôi, thế còn ông thì sao, thưa ông Luzhin? Cô ấy là vị hôn thê của ông đấy... Và hẳn ông phải biết rằng mẹ cô ấy phải cầm cố cả tiền lương hưu mới đủ tiền cho chuyến đi. Quả là một vần đề làm ăn, một sự hợp tác đôi bên cùng có lợi, chia đều chi phí và phần húc;—lo liệu ăn uống, nhưng tiền thuốc lá thì tự túc. Tên thương gia ấy cuối cùng đã khôn hơn họ rồi. Tiền gửi hành lý chắc chắn sẽ rẻ hơn tiền vé và rất có thể là được miễn phí. Sao cả hai người họ lại không nhìn ra những điều đó, hay là họ không muốn nhìn ra? Thế mà họ vẫn vui mừng, vui mừng đấy! Và thử nghĩ xem đây mới chỉ là những chồi non đầu mùa, còn trái ngọt thực sự thì vẫn còn ở phía sau! Nhưng điều thực sự quan trọng không phải là sự keo kiệt, không phải là sự bần tiện, mà là sắc thái của toàn bộ câu chuyện này. Bởi vì đó sẽ là sắc thái sau khi kết hôn, đó là hương vị mở màn của nó. Cả mẹ nữa, sao mẹ lại phải chi tiêu phóng khoáng thế làm gì? Đến lúc đặt chân tới Petersburg mẹ sẽ còn lại gì? Ba rúp bạc hay hai đồng ‘tiền giấy’ như mẹ vẫn nói... mụ già ấy... hừm. Thế sau đó mẹ trông mong gì để sống ở Petersburg? Mẹ vốn đã có lý do để đoán trước rằng mình không thể sống chung với Dounia sau khi kết hôn, dù chỉ là trong vài tháng đầu tiên. Hắn ta chắc chắn đã để lộ điều gì đó về vấn đề này, dẫu mẹ có chối bay chối biến: ‘Ta sẽ từ chối,’ mẹ nói thế đấy. Vậy thì lúc đó mẹ đang trông cậy vào ai? Mẹ đang tính toán vào số tiền lương hưu một trăm hai mươi rúp còn lại sau khi đã trả nợ cho Afanasy Ivanovitch chắc? Mẹ đan khăn len, thêu cổ áo, đến mức mờ cả đôi mắt già nua. Và tôi biết thừa là tất cả số khăn ấy cũng chẳng kiếm thêm cho mẹ quá hai mươi rúp một năm vào con số một trăm hai mươi rúp kia. Thế nên toàn bộ hy vọng của mẹ từ trước đến nay đều đặt vào sự hào phóng của ông Luzhin; ‘hắn sẽ tự nguyện dâng hiến, hắn sẽ nài nỉ mình nhận lấy.’ Cứ chờ đấy mà mòn mỏi hy vọng! Tụi có tấm lòng cao thượng theo kiểu Schiller bao giờ cũng vậy đấy; cho đến phút chót, con ngỗng nào trong mắt họ cũng là thiên nga, cho đến phút chót, họ cứ ôm ấp hy vọng về những điều tốt đẹp nhất và nhất quyết làm ngơ trước mọi điều bất ổn, và dẫu họ có lờ mờ nhận ra mặt trái của vấn đề, thì họ vẫn cứ trốn tránh sự thật cho đến khi bị ép phải đối mặt; chính ý nghĩ về nó cũng đủ khiến họ run rẩy; họ dùng cả hai tay đẩy phắt sự thật đi, cho đến khi kẻ mà họ tô vẽ những màu sắc giả dối tự tay đội chiếc mũ ngốc nghếch lên đầu họ. Tôi rất muốn biết xem ông Luzhin có huân chương nào không; dám cá là hắn có đeo dải băng thánh Anna ở khuyết áo và sẽ diện nó mỗi khi đi ăn tối với mấy nhà thầu hoặc thương gia lắm chứ. Chắc chắn hắn cũng sẽ đeo nó trong đám cưới cho mà xem! Thôi đủ rồi về hắn, mặc thây hắn đi!”
“Thôi nào... mẹ thì tôi không trách, tính mẹ vốn thế, xin Chúa phù hộ cho mẹ, nhưng sao Dounia lại có thể như vậy? Dounia bé bỏng của anh ơi, cứ như là anh không hiểu em vậy! Em suýt soát tuổi đôi mươi khi lần cuối anh gặp em: lúc đó anh đã hiểu em rồi. Mẹ viết rằng ‘Dounia có thể chịu đựng được rất nhiều thứ.’ Anh biết rõ điều đó chứ. Anh đã biết điều đó từ hai năm rưỡi trước, và suốt hai năm rưỡi qua, anh vẫn luôn nghĩ về nó, chỉ nghĩ đúng về điều đó, rằng ‘Dounia có thể chịu đựng được rất nhiều thứ.’ Nếu con bé có thể chịu đựng được lão Svidrigaïlov và tất cả những chuyện quái gở khác, thì chắc chắn nó có thể chịu đựng được vô số thứ nữa. Để rồi giờ đây, cả mẹ lẫn nó lại đinh ninh rằng nó có thể chịu đựng được cả ông Luzhin—kẻ đưa ra lý thuyết về sự bề trên của những người vợ được vớt lên từ cảnh bần hàn và mang ơn mọi thứ từ sự hào phóng của chồng—kẻ mà vừa gặp nhau lần đầu đã vội vã giở cái lý thuyết ấy ra. Cứ cho là hắn ‘lỡ lời’ đi, dẫu hắn là một người khôn ngoan (nhưng biêt đâu đó chẳng phải là lỡ lời, mà là hắn cố tình làm cho mọi chuyện rõ ràng ngay từ đầu thì sao), thế còn Dounia, Dounia thì sao? Bản thân con bé đương nhiên hiểu rõ con người đó, nhưng nó sẽ phải sống chung với gã đàn ông ấy. Chứ lị! Nó thà ăn bánh mì đen với nước lã, chứ nhất quyết không bán rẻ linh hồn, không đổi chusng lấy sự thoải mái; nó sẽ không bao giờ đánh đổi sự tự do luân lý của mình lấy toàn bộ vùng Schleswig-Holstein, chứ đừng nói đến số tiền của ông Luzhin. Không, Dounia không phải loại người như thế vào thời điểm tôi còn biết nó và... đương nhiên bây giờ nó vẫn thế! Vâng, không thể phủ nhận rằng đám người nhà Svidrigaïlov thực sự là một viên thuốc đắng ngắt! Cuộc đời làm gia sư ở vùng tỉnh lẻ với mức lương hai trăm rúp quả là cay đắng, nhưng tôi biết nó thà làm nô lệ trên đồn điền hay làm một kẻ thuê mướn dưới quyền chủ chúa người Đức còn hơn là làm nhục linh hồn cùng phẩm giá đạo đức của mình bằng cách trói buộc bản thân vĩnh viễn với một kẻ mà nó chẳng mọc nổi một chút tôn trọng, một kẻ chẳng có điểm gì chung với nó—chỉ vì lợi ích cá nhân. Và nếu ông Luzhin có được đúc bằng vàng ròng, hay là một viên kim cương khổng lồ đi chăng nữa, thì nó cũng chẳng bao giờ đồng ý làm thê thiếp hợp pháp của hắn. Vậy tại sao giờ đây nó lại đồng ý? Ý nghĩa của việc này là gì? Đâu là câu trả lời? Quá rõ ràng rồi còn gì: vì bản thân, vì sự thoải mái của mình, để cứu lấy cuộc đời mình thì nó sẽ không bán thân, nhưng vì người khác thì nó lại làm! Vì một người nó yêu thương, vì một người nó tôn sùng, nó sẵn sàng bán rẻ bản thân! Tất cả chỉ quy về điều đó; vì anh trai, vì mẹ, nó sẽ bán rẻ chính mình! Nó sẽ bán tất cả! Trong những trường hợp như thế, ‘chúng ta dằn nén cảm xúc đạo đức nếu cần thiết,’ tự do, sự bình yên, thậm chí cả lương tâm, tất cả, tất cả đều được đem ra buôn bán. Cứ để mạng sống tôi tiêu đời, miễn là những người thân yêu của tôi được hạnh phúc! Hơn thế nữa, chúng ta trở thành những kẻ ngụy biện, chúng ta học cách mưu mô theo kiểu dòng Tên và có lẽ trong chốc lát chúng ta có thể tự xoa dịu bản thân, chúng ta có thể tự thuyết phục rằng đó là bổn phận vì một mục đích cao đẹp. Bản chất chúng ta chính là thế, sáng rõ như ban ngày. Rõ ràng là Rodion Romanovitch Raskolnikov mới là nhân vật trung tâm trong vụ này, chứ chẳng phải ai khác. Ồ đúng rồi, nó có thể bảo đảm hạnh phúc cho anh ta, chu cấp cho anh ta học nốt đại học, giúp anh ta trở thành cổ đông trong văn phòng, bảo đảm toàn bộ tương lai cho anh ta; có lẽ sau này anh ta thậm chí còn trở thành một kẻ giàu có, sung túc, được kính trọng, và thậm chí kết thúc cuộc đời bằng một danh tiếng lẫy lừng! Còn mẹ tôi thì sao? Tất cả chỉ vì Rodya, Rodya quý giá, đứa con trai đầu lòng của mẹ! Vì một đứa con trai như thế thì hà cớ gì lại tiếc không hy sinh một người con gái như vậy chứ! Ồ, những trái tim yêu thương đến quáng quáng quẩn quanh! Chỉ vì nó mà người ta thậm chí chẳng mủi lòng trước số phận của Sonia. Sonia, Sonia Marmeladov, nạn nhân muôn đời cho đến tận cùng thế giới. Hai người đã đong đếm được sức nặng của sự hy sinh này chưa? Liệu có đúng đắn không? Hai người có chịu đựng nổi không? Nó có ích gì chứ? Có chút ý nghĩa nào trong đó không? Và để tôi nói cho mà nghe, Dounia, cuộc đời của Sonia chẳng tệ hơn cuộc sống chung với ông Luzhin là bao đâu. ‘Chẳng thể có chuyện tình yêu ở đây,’ mẹ viết thế. Thế nhỡ cũng chẳng thể có sự tôn trọng nào luôn thì sao, nếu trái lại chỉ có sự căm ghét, khinh miệt, và ghê tởm, thì lúc đó sẽ ra sao? Thế là hai người cũng sẽ phải ‘giữ sĩ diện’ nữa chứ. Chẳng phải thế sao? Hai người có hiểu sự trưng diện ấy có nghĩa là gì không? Hai người có hiểu rằng sự trưng diện theo kiểu nhà Luzhin cũng chẳng khác gì số phận của Sonia, thậm chí còn tồi tệ hơn, đê tiện hơn, hạ cấp hơn, bởi vì trong trường hợp của em, Dounia, suy cho cùng đó vẫn là một cuộc ngã giá để đổi lấy những xa hoa vật chất, còn với Sonia thì đơn thuần chỉ là vấn đề sinh tử vì đói khát. Mọi sự trưng diện ấy đều phải trả giá, phải trả giá đắt đấy, Dounia ạ. Và nhỡ đâu sau này đó lại là thứ vượt quá sức chịu đựng của em, nhỡ em phải hối hận thì sao? Sự cay đắng, nỗi khốn cùng, những lời nguyền rủa, những giọt nước mắt giấu kín trước cả thế giới, bởi vì em đâu phải là Marfa Petrovna. Và lúc đó mẹ em sẽ cảm thấy thế nào? Ngay lúc này đây mẹ đã bất an, đã lo lắng rồi, nhưng đến lúc đó, khi mẹ nhìn rõ tất cả mọi chuyện? Còn tôi thì sao? Thật đấy, hai người coi tôi là cái gì hả? Tôi không cần sự hy sinh của em, Dounia, tôi không cần, thưa mẹ! Sẽ không có chuyện đó, chừng nào tôi còn sống, sẽ không đời nào, không đời nào có chuyện đó! Tôi không chấp nhận đâu!”
Anh đột ngột dừng bước giữa dòng suy nghĩ và đứng chết trân tại chỗ.
“Sẽ không có chuyện đó ư? Nhưng mày định làm gì để ngăn cản nó đây? Mày sẽ cấm đoán họ ư? Và mày dựa vào cái quyền gì? Mày có thể hứa hẹn với họ điều gì từ phía mày để có được cái quyền ấy? Toàn bộ cuộc đời mày, toàn bộ tương lai của mày, mày sẽ cống hiến cho họ khi mày học xong và kiếm được một chức vị ư? Phời, chúng ta đã nghe chán ngấy mấy lời đó rồi, toàn là lời nói suông thôi, thế còn bây giờ thì sao? Lúc này đây phải hành động chứ, ngay bây giờ, mày có hiểu điều đó không? Và mày đang làm cái quái gì lúc này hả? Mày đang sống bám vào họ đấy. Họ phải đi vay mượn dựa vào khoản lương hưu một trăm rúp của mình. Họ phải đi vay nhà Svidrigaïlov. Mày định cứu họ khỏi tay bọn Svidrigaïlov, khỏi tay Afanasy Ivanovitch Vahrushin bằng cách nào đây, hỡi vị thần Zeus triệu phú tương lai—kẻ sẽ sắp đặt cuộc đời thay cho họ? Mười năm nữa ư? Mười năm nữa, mẹ sẽ mù tịt đi vì đan khăn, có lẽ cả vì khóc lóc nữa ấy chứ. Mẹ sẽ gầy mòn xơ xác vì nhịn ăn; thế còn em gái mày thì sao? Thử hình dung xem chuyện gì sẽ xảy ra với em gái mày trong mười năm đó? Chuyện gì có thể giáng xuống đầu nó trong ngọn mười năm ấy chứ? Mày có tưởng tượng nổi không?”
Cứ thế, anh tự tra tấn chính mình, tự dằn vặt bản thân bằng những câu hỏi hóc búa, và tìm thấy ở đó một thứ khoái cảm kỳ lạ. Thế nhưng tất cả những câu hỏi này vốn chẳng phải là thứ gì mới mẻ bất ngờ giáng xuống đầu anh, chúng là những nỗi đau nhức nhối quen thuộc từ lâu. Đã từ rất lâu rồi, chúng bắt đầu bóp nghẹt và xé nát trái tim anh. Từ rất, rất lâu trước đây, nỗi thống khổ hiện tại của anh đã manh nha hình thành; nó đã lớn dần lên và tích tụ sức mạnh, nó đã chín muồi và cô đặc lại, cho đến khi biến thành một câu hỏi đầy sợ hãi, điên cuồng và hoang đường—một câu hỏi đang đày ải trái tim lẫn tâm trí anh, cứ cào cấu đòi hỏi một câu trả lời cho bằng được. Giờ đây, bức thư của người mẹ đã dội xuống đầu anh tựa một tiếng sét đánh ngang tai. Hiển nhiên là lúc này anh không thể tiếp tục chịu đựng trong sự thụ động, cứ mãi dằn vặt bản thân vì những câu hỏi chưa có lời đáp, mà anh phải hành động một điều gì đó, phải làm ngay lập tức, và phải làm thật nhanh chóng. Dù thế nào đi nữa, anh cũng phải quyết định dứt khoát một việc gì đó, nếu không thì...
“Hoặc là vứt bỏ luôn cả cuộc đời này!” anh bất chợt gào lên trong cơn điên dại—“nhẫn nhục chấp nhận số phận của mình như nó vốn thế, một lần là đủ và bóp nghẹt mọi thứ bên trong chính mình, từ bỏ mọi tham vọng vươn lên hoạt động, cuộc sống và tình yêu!”
“Ngài có hiểu không, thưa ngài, ngài có hiểu cảm giác khi tuyệt đối chẳng còn nơi nào để bám víu nữa là thế nào không?” Câu hỏi của Marmeladov bất thần dội về trong tâm trí anh, “bởi vì con người ta ai mà chẳng phải có lấy một chốn để quay về...”
Anh giật nảy mình; một ý nghĩ khác, thứ ý nghĩ đã xuất hiện từ ngày hôm qua, lại luồn lách quay trở lại trong đầu. Nhưng anh không hề hoảng sợ vì ý nghĩ ấy tái xuất, bởi vì anh thừa biết, anh đã cảm nhận được từ trước rằng nó thế nào cũng quay về, anh đang ngóng chờ nó; vả lại đó cũng chẳng phải chỉ là ý nghĩ của riêng ngày hôm qua. Khác biệt ở chỗ là nếu như cách đây một tháng, hay thậm chí ngay ngày hôm qua thôi, ý nghĩ ấy chỉ là một giấc mơ hão huyền: thì giờ đây... giờ đây nó trông chẳng còn giống một giấc mơ chút nào nữa, nó đã khoác lên mình một hình hài mới đầy đe dọa và vô cùng lạ lẫm, và bản thân anh bỗng nhận thức rõ điều đó...
Anh cảm thấy có tiếng búa nện thình thịch trong đầu, và trước mắt bỗng tối sầm lại.
Anh vội vã quay phắt lại, đảo mắt tìm kiếm thứ gì đó. Anh muốn ngồi xuống và đang rảo mắt tìm một chiếc ghế băng; anh đang đi dọc theo đại lộ K——. Có một chiếc ghế băng cách chỗ anh chừng một trăm bước chân phía trước. Anh sải bước tiến về phía đó nhanh nhất có thể; thế nhưng dọc đường anh lại vướng vào một sự cố nhỏ thu hút toàn bộ sự chú ý của mình. Khi đang tìm ghế băng, anh đã để ý thấy một người phụ nữ đang đi cách anh chừng hai mươi bước phía trước, nhưng thoạt đầu anh chẳng thèm bận tâm đến cô ta hơn là những vật thể khác ngang qua tầm mắt. Đã bao nhiêu lần trên đường về nhà anh chẳng thèm để ý đến con đường mình đang đi, và anh đã quen với việc cắm cúi bước đi như thế. Thế nhưng thoạt nhìn, người phụ nữ đi phía trước có cái gì đó vô cùng kỳ lạ, khiến sự chú ý của anh cứ thế bị hút chặt vào cô ta, ban đầu là một cách miễn cưỡng và có phần bực bội, rồi sau đó càng lúc càng chăm chú hơn. Anh bỗng thấy trỗi dậy một khao khát muốn tìm hiểu xem điều gì ở người phụ nữ đó lại lạ lùng đến thế. Thứ nhất, có vẻ cô ta là một thiếu nữ còn rất trẻ, và giữa cái nắng nóng như thiêu như đốt ấy, cô ta đi đầu trần, không ô, không găng tay, cứ vung vẩy hai tay một cách ngớ ngẩn. Cô ta mặc một chiếcếc váy làm bằng thứ vải lụa mỏng nào đó, nhưng lại xộc xệch một cách kỳ lạ, không cài khuy cho đàng hoàng, và bị rách toạc ở phần trên của chân váy, sát ngay eo: một miếng vải lớn đã đứt lìa và đang lủng lẳng buông thõng. Một chiếc khăn nhỏ vắt hờ hững trên chiếc cổ trần, nhưng lại lệch hẳn sang một bên. Cô thiếu nữ cũng đang bước đi xiêu vẹo, vấp váp và lảo đảo hết bên nọ sang bên kia. Cuối cùng, cô ta đã lôi kéo toàn bộ sự chú ý của Raskolnikov. Anh bắt kịp cô thiếu nữ ngay tại chiếc ghế băng, nhưng vừa đến nơi, cô ta liền đổ sụp xuống góc ghế; cô buông thõng đầu tựa vào lưng ghế và nhắm nghiền mắt, trông có vẻ kiệt sức cùng cực. Nhìn cận cảnh, anh nhận ra ngay cô ta hoàn toàn say mèm. Đó là một cảnh tượng kỳ dị và gây chấn động. Anh hầu như chẳng thể tin nổi là mình không nhầm. Trước mắt anh là gương mặt của một thiếu nữ tóc vàng còn rất trẻ—có lẽ mới mười sáu, hoặc không quá mười lăm tuổi, một gương mặt xinh xắn nhưng lại đỏ bừng, phờ phạc và có vẻ như đang sưng phồng lên. Cô gái dường như chẳng hề ý thức được mình đang làm gì; cô ta vắt chéo chân này lên chân kia một cách bất nhã, và phô bày đủ mọi dấu hiệu cho thấy bản thân hoàn toàn không biết mình đang đứng giữa đường phố.
Raskolnikov không ngồi xuống, nhưng anh cảm thấy không đành lòng bỏ đi, nên cứ đứng trân trân đối diện với cô ta với vẻ mặt đầy bối rối. Đại lộ này vốn dĩ chẳng bao giờ có đông người qua lại; và giờ đây, vào lúc hai giờ chiều, trong cái nóng ngột ngạt, nó hoàn toàn vắng tanh. Thế nhưng ở phía bên kia đại lộ, cách đó chừng mười lăm bước, có một quý ông đang đứng ở mép lề đường. Hắn ta hình như cũng có ý định tiếp cận cô gái với một mục đích nào đó của riêng mình. Hắn ta có lẽ cũng đã nhìn thấy cô từ đằng xa và bám theo sau, nhưng lại vướng Raskolnikov ngáng đường. Hắn liếc nhìn anh đầy vẻ hằn học, dẫu vẫn cố tránh để không lọt vào tầm mắt anh, và đứng chờ đợi trong số nóng ruột cho đến khi gã rách rưới khó ưa kia chịu dịch chuyển đi nơi khác. Ý đồ của gã đàn ông là điều không thể bàn cãi. Gã là một gã đàn ông mập mạp, vạm vỡ, chừng ba mươi tuổi, ăn mặc thời trang, mặt đỏ phừng phừng, môi đỏ và để râu mép. Raskolnikov cảm thấy sôi máu; bỗng chốc trong anh dâng lên một khao khát muốn sỉ nhục tên công tử bột béo ú này bằng cách nào đó. Anh rời khỏi chỗ cô gái một thoáng và bước thẳng về phía gã quý ông.
“Này! Mày là Svidrigaïlov đấy phỏng? Mày muốn gì ở đây?” anh quát lớn, hai tay siết chặt thành đấm và cười khẩy, nước bọt văng tứ tung vì giận dữ.
“Ý anh là sao?” gã quý ông hỏi bằng giọng nghiêm khắc, cau mày ra chiều ngạc nhiên kiêu kỳ.
“Cút xéo đi, ý tôi là thế đấy.”
“Sao anh dám hỗn láo, đồ dưới đáy xã hội!”
Hắn giơ gậy lên. Raskolnikov lao thẳng vào hắn với hai tay nắm chặt, chẳng thèm đếm xỉa đến việc gã đàn ông béo mập ấy thừa sức chấp hai kẻ giống như mình. Thế nhưng ngay khoảnh khắc đó, có ai đó tóm chặt lấy anh từ phía sau, và một viên cảnh sát viên đã đứng chắn giữa hai người.
“Thôi đủ rồi mấy vị ơi, xin đừng có thượng cẳng chân hạ cẳng tay ở nơi công cộng chứ. Các anh muốn gì? Các anh là ai?” anh ta nghiêm giọng hỏi Raskolnikov, khi nhận ra bộ dạng rách rưới của anh.
Raskolnikov đăm đăm nhìn viên cảnh sát. Anh ta có một gương mặt thẳng thắn, lanh lẹ kiểu nhà binh, với bộ râu mép và râu quai nón điểm bạc.
“Anh đúng là người tôi đang cần,” Raskolnikov kêu lên, với tay túm lấy cánh tay anh ta. “Tôi là sinh viên, Raskolnikov.... Anh cũng nên biết luôn điều đó,” anh vừa nói vừa quay sang gã quý ông, “đi theo tôi, tôi có thứ này cho anh xem.”
Và nắm lấy tay viên cảnh sát, anh kéo xềnh xệch anh ta về phía chiếc ghế băng.
“Anh nhìn đây này, say bí tỉ rồi, và con bé vừa mới lết ra tới đại lộ này. Chẳng thể biết nó là ai và làm nghề gì, nhìn không giống loại gái làm tiền chút nào. Khả năng cao là nó đã bị chuốc rượu và lừa gạt ở xó xỉnh nào đó... lần đầu tiên... anh hiểu chứ? Rồi họ tống cổ nó ra đường thế này đây. Anh nhìn xem váy áo nó rách rưới thế nào kìa, và cách nó mặc lên người xem: nó được ai đó mặc cho chứ không phải tự mặc, và được mặc bởi những bàn tay vụng về, bàn tay của đàn ông; điều đó quá rõ ràng rồi. Và giờ thì anh nhìn sang đằng kia kìa: tôi chẳng quen biết gì cái gã công tử bột mà tôi vừa định cự cãi, tôi mới gặp hắn lần đầu, thế mà chính hắn cũng đã trông thấy con bé trên đường, ngay lúc nãy, khi nó đang say khướt chẳng biết trời đất gì, và bây giờ hắn đang rất há hức chộp lấy nó, đưa nó đi đâu đó trong lúc nó đang ở trạng thái thế này... chắc chắn là như thế, tin tôi đi, tôi không nhầm đâu. Chính mắt tôi thấy hắn theo dõi và bám theo nó, nhưng tôi đã cản hắn lại, và hắn đang chực chờ cho tôi đi khuất đấy. Giờ thì hắn đã lảng ra xa một chút và đang đứng im giả vờ cuộn thuốc lá... Anh nghĩ xem làm thế nào để giữ con bé khỏi rơi vào tay hắn, và làm sao đưa nó về nhà đây?”
Viên cảnh sát sáng mắt ra hiểu ngay lập tức. Gã đàn ông béo mập thì quá dễ đoán rồi, anh ta quay sang quan tâm đến cô gái. Viên cảnh sát cúi xuống để quan sát cô kỹ hơn, và gương mặt anh ta bỗng chuyển động vì lòng trắc ẩn chân thành.
“Chao ôi, đáng thương chưa kìa!” anh ta vừa nói vừa lắc đầu—“trời ạ, nó còn trẻ con chán! Nó bị lừa rồi, nhìn cái là nhận ra ngay. Này cô bé, này cô,” anh ta bắt đầu cất lời với cô, “cô ở đâu thế?” Cô gái hé đôi mắt mệt mỏi và buồn ngủ của mình ra, đờ đẫn nhìn người vừa lên tiếng rồi xua xua tay.
“Đây này,” Raskolnikov vừa nói vừa thọc tay vào túi tìm được hai mươi kopeck, “này, gọi xe ngựa và bảo đánh xe đưa nó về tận nhà. Vấn đề duy nhất là phải tìm ra địa chỉ nhà nó!”
“Cô bé ơi, cô bé!” viên cảnh sát lại cất lời, tay nhận lấy số tiền. “Tôi sẽ gọi xe đưa cô về tận nhà. Tôi chở cô đi đâu bây giờ, hửm? Cô ở đâu?”
“Đi đi! Bọn họ cứ bu bám lấy tôi mãi,” cô gái lẩm bẩm, rồi lại xua xua tay.
“Ái chà, ái chà, thật là khiếp đảm! Thật nhục nhã quá cô bé ơi, thật là xấu hổ!” Anh ta lại lắc đầu, đầy vẻ bị sốc, đồng cảm và phẫn nộ.
“Đúng là một ca khó nhằn,” viên cảnh sát nói với Raskolnikov, và tiện thể, anh ta liếc nhanh đánh giá anh từ đầu đến chân. Chắc hẳn trong mắt anh ta, Raskolnikov cũng trông chẳng khác nào một gã kỳ cục: ăn mặc rách rưới mà lại vung tiền bố thí!
“Anh gặp nó ở xa đây lắm không?” anh ta hỏi.
“Tôi đã bảo là nó đi ngay trước mặt tôi, lảo đảo bước đi, chính ở đây, ngoài đại lộ này. Nó vừa mới lết được tới cái ghế băng này rồi ngã quỵ xuống đây thôi.”
“Chao ôi, những chuyện đồi bại nhơ nhớp thiên hạ làm ra thời buổi này, lạy Chúa tôi thương xót! Một sinh thai trong trắng thế này mà đã say mèm rồi! Nó bị lừa gạt rồi, chắc chắn là thế. Nhìn cái váy rách tơi tả của nó kìa... Ái chà, cái thói đồi bại đời này đúng là tận mắt thấy! Mà khéo nó cũng là con nhà gia giáo tử tế ấy chứ, nghèo túng chẳng chừng... Thời buổi này có thiếu gì mấy đứa thế này. Nhìn mặt nó cũng thanh tao, cứ như tiểu thư ấy chứ,” và anh ta lại cúi người xuống ngắm cô lần nữa.
Biết đâu anh ta cũng có những đứa con gái đang tuổi lớn thế này, “trông cứ như tiểu thư thanh tao” với những ảo tưởng về sự đài các và trưng diện...
“Điều quan trọng nhất,” Raskolnikov nài nỉ, “là phải giữ nó khỏi rơi vào tay cái tên khốn nạn này! Sao hắn lại muốn hãm hại nó cơ chứ? Mục đích của hắn rõ như ban ngày rồi kìa; ái chà cái đồ thú vật, hắn vẫn chưa chịu lảng đi kìa!”
Raskolnikov lớn tiếng nói và chỉ tay về phía gã đó. Gã quý ông nghe thấy, có vẻ như định nổi đóa lên lần nữa, nhưng rồi nghĩ lại và nén giận, chỉ lườm một cái đầy khinh miệt. Sau đó hắn lững thững đi lùi ra xa thêm chừng mười bước nữa rồi lại khựng lại.
“Giữ nó khỏi tay hắn thì chúng ta làm được,” viên cảnh sát đăm chiêu đáp, “chỉ cần con bé chịu khai nhà nó ở đâu để mà đưa về, đằng này thì... Này cô bé, ây này cô bé!” anh ta lại cúi người xuống hỏi lần nữa.
Cô gái thình lình mở trừng hai mắt, đăm đăm nhìn anh ta, như thể vừa ngộ ra điều gì, vùng đứng dậy và bước đi ngược về hướng mà cô đã tới. “Ôi lũ khốn nạn đồi bại, chúng nó không để cho tôi yên!” cô ta nói, lại xua xua tay. Cô bước đi rất nhanh, dẫu vẫn lảo đảo như trước. Tên công tử bột bám theo sau, nhưng đi ở một lối đi khác, mắt không rời khỏi cô.
“Đừng lo, tôi không để hắn chạm vào con bé đâu,” viên cảnh sát quả quyết nói, rồi sải bước đuổi theo họ.
“Ái chà, cái thói đồi bại đời này trông thấy thật ngán ngẩm!” anh ta lẩm bẩm thở dài.
Vào khoảnh khắc đó, có cái gì như vừa chích vào Raskolnikov; chỉ trong nháy mắt, một sự đảo lộn hoàn toàn cảm xúc dội lên trong tâm trí anh.
“Này, đứng lại!” anh hét với theo viên cảnh sát.
Hắn quay đầu lại.
“Kệ chúng nó đi! Liên quan gì đến anh? Mặc xác nó! Cho hắn tha hồ vui vẻ đi.” Anh chỉ tay về phía gã công tử bột, “Viên mãn ý hắn thì can hệ gì đến anh?”
Viên cảnh sát nghệu mặt ngẩn ngơ, trố mắt nhìn anh trân trân. Raskolnikov cười phá lên.
“Đúng là đồ dở hơi!” viên cảnh sát thốt lên kèm theo một cái phẩy tay đầy khinh bỉ, rồi rảo bước đuổi theo gã công tử bột và cô gái, có lẽ hắn đinh ninh Raskolnikov là một kẻ điên hay thậm chí còn tồi tệ hơn thế.
“Hắn cuỗm toi hai mươi kopeck của mình rồi,” Raskolnikov lầm bầm giận dữ khi chỉ còn lại một mình. “Thôi, cứ để hắn vòi thêm bao nhiêu tiền của thằng kia đi để mà được phép ôm con bé rồi muốn ra sao thì ra. Mà sao mình lại xen vào làm gì nhỉ? Mình là cái thá gì mà đòi giúp đỡ? Mình có cái quyền gì để cứu vớt ai chứ? Cứ để chúng tự xé xác nhau mà sống—thì can hoán gì đến mình? Sao mình lại dám bố thí cho hắn hai mươi kopeck cơ chứ? Số tiền ấy có phải của mình đâu nào?”
Bất chấp những lời lẽ kỳ quặc đó, anh cảm thấy vô cùng khốn khổ. Anh ngồi xuống chiếc ghế băng hoang vắng. Tâm trí anh lan man vô định... Anh thấy thật khó khăn để tập trung suy nghĩ vào bất cứ điều gì vào lúc này. Anh khao khát được hoàn toàn quên đi bản thân, quên đi tất cả mọi thứ, rồi sau đó thức giấc và bắt đầu lại cuộc đời từ trang giấy trắng...
“Tội nghiệp con bé!” anh lẩm bẩm nhìn vào góc ghế trống không nơi cô từng ngồi—“Rồi nó sẽ tỉnh rượu và khóc lóc, rồi mẹ nó sẽ biết chuyện... Mẹ nó sẽ cho nó một trận đòn tơi bời, một trận đòn tàn nhẫn nhục nhã và rồi biết đâu lại tống cổ nó ra khỏi nhà... Và dẫu cho bà không làm thế, thì mấy mụ Darya Frantsovna cũng sẽ đánh hơi được, rồi chẳng mấy chốc con bé sẽ lén lút trốn nhà đi chỗ này chỗ nọ. Để rồi nhanh chóng kết thúc trong bệnh viện (số phận của mấy đứa con gái nhà tử tế lỡ lầm đường lạc lối lén lút bao giờ cũng thế) rồi thì... lại bệnh viện... rượu chè... quán nhậu... và lại bệnh viện tiếp, chỉ hai ba năm là tàn phế, và cuộc đời chấm dứt ở tuổi mười tám hay mười chín... Chẳng lẽ mình chưa từng thấy những trường hợp như thế bao giờ sao? Và rồi chúng bị đẩy vào con đường ấy bằng cách nào? Chà, thì tất cả bọn chúng đều kết thúc như thế cả thôi. Hừ! Nhưng có hề gì đâu chứ? Mọi chuyện phải thế mới đúng chứ, người ta bảo thế mà. Cần phải có một tỷ lệ nhất định, người ta bảo vậy, mỗi năm phải lao đầu... theo cái hướng đó... xuống địa phương quỷ quái nào đó, để phần còn lại được sống trong trinh bạch và không bị quấy rầy. Một tỷ lệ phần trăm! Những từ ngữ mới hoa mỹ làm sao; chúng thật khoa học, thật vỗ về làm sao... Một khi đã thốt lên được hai chữ ‘tỷ lệ phần trăm’ thì chẳng còn gì phải bận tâm lo lắng nữa. Giá mà có một từ nào khác... có lẽ chúng ta sẽ cảm thấy bớt ray rứt hơn chăng... Nhưng nhỡ đâu Dounia cũng rơi vào cái tỷ lệ phần trăm ấy thì sao! Dẫu là một tỷ lệ khác đi chăng nữa chứ không phải cái tỷ lệ đó?”
“Nhưng mình đang đi đâu thế này?” anh sực tỉnh nghĩ ngợi. “Lạ thật, mình ra ngoài vì có việc gì đó chứ. Ngay khi đọc xong bức thư là mình lao ra ngoài... Mình đang định đến Vassilyevsky Ostrov, tìm Razumihin. Hóa ra là thế... giờ thì mình nhớ ra rồi. Nhưng để làm gì cơ chứ? Và cái ý định tìm đến Razumihin lúc này chui từ xó nào vào đầu mình thế nhỉ? Thật là tò mò.”
Anh tự ngạc nhiên về chính mình. Razumihin vốn là một trong những người bạn học cũ của anh ở đại học. Điều đáng chú ý là Raskolnikov hầu như chẳng có lấy một người bạn nào ở trường đại học; anh giữ khoảng cách với tất cả mọi người, chẳng thèm đi thăm ai, và cũng chẳng đón chào bất cứ ai đến thăm mình, và quả thực chẳng mấy chốc ai nấy đều chán ngán mà lánh xa anh. Anh không tham gia vào các buổi tụ tập, vui chơi hay trò chuyện của sinh viên. Anh vùi đầu học tập điên cuồng không tiếc sức mình, và vì thế anh được nể trọng, nhưng chẳng ai ưa nổi anh. Anh rất nghèo, lại mang trong mình một thứ kiêu hãnh kiêu kỳ cùng vẻ lầm lì khó gần, tựa hồ như đang che giấu bí mật nào đó. Trong mắt một số bạn bè, anh giống như một kẻ đang nhìn xuống tất cả bọn họ như những đứa trẻ, như thể bản thân anh vượt trội hơn hẳn về sự phát triển, tri thức và quan điểm, như thể niềm tin và sở thích của họ chẳng đủ tầm để anh bận tâm.
Chỉ với Razumihin là anh còn có thể hòa hợp, hoặc ít nhất là cởi mở và bộc bạch hơn với cậu ta. Quả thực chẳng thể cư xử theo cách nào khác đối với Razumihin được. Cậu ta là một thanh niên có bản tính vô cùng hào hiệp và bộc trực, tốt bụng đến mức khờ khạo, dẫu ẩn giấu đằng sau sự khờ khạo ấy là cả một bề sâu và lòng tự trọng. Những người bạn hiểu chuyện hơn đều nhận ra điều đó, và ai nấy đều quý mến cậu. Cậu ta cực kỳ thông minh, dẫu đôi khi cũng ngốc nghếch hết chỗ nói. Cậu ta có một ngoại hình nổi bật—cao gầy, tóc đen và lúc nào cũng cạo râu nham nhở. Đôi khi cậu ta nổi cơn lôi đình và nổi tiếng là có sức mạnh thể chất phi thường. Có đêm nọ, trong một cuộc vui chè chén say sưa, cậu ta chỉ cần đấm một cú là quật ngã gã cảnh sát khổng lồ nằm ngửa còng queo. Khả năng uống rượu của cậu ta là vô địch, nhưng cậu ta cũng có thể nhịn rượu tuyệt đối; đôi khi cậu ta quậy phá quá đà; nhưng cũng có lúc chẳng cần quậy phá gì sáu tháng trời. Một điều nổi bật nữa ở Razumihin là chẳng có thất bại nào có thể đánh gục cậu, và dường như chẳng hoàn cảnh bất lợi nào có thể bóp nghẹt ý chí của cậu. Cậu ta có thể trọ ở bất cứ xó xỉnh nào, và chịu đựng được cái lạnh thấu xương hay cơn đói cồn cào. Cậu ta rất nghèo, tự xoay sở hoàn toàn bằng tiền kiếm được từ đủ mọi thứ công việc lặt vặt. Cậu ta rành rẽ vô số cách để kiếm tiền. Cậu ta từng trải qua cả một mùa đông không thèm đốt lò sưởi, và hay lớn tiếng tuyên bố rằng cậu thích thế hơn, bởi vì ngủ trong cái lạnh sẽ ngon giấc hơn nhiều. Hiện tại, cậu ta cũng buộc phải nghỉ học đại học, nhưng chỉ là tạm thời, và cậu đang làm việc bằng tất cả sức lực để dành dụm tiền quay lại học tiếp. Raskolnikov đã không đến thăm cậu ta suốt bốn tháng nay, và Razumihin thậm chí còn chẳng rõ địa chỉ của anh. Khoảng hai tháng trước, họ từng chạm mặt nhau trên phố, nhưng Raskolnikov đã quay mặt đi và thậm chí còn sang cả bên kia đường để không bị phát hiện. Và dẫu Razumihin đã nhận ra anh, cậu ta vẫn lướt qua, vì không muốn làm anh phải phiền lòng.