Đôi khi, một cú ngã giúp bạn nhận ra mình đang ở đâu.
- HAYLEY WILLIAMS
Chúng ta đều biết, khi bước sang tuổi 50, ta cần thực hiện nội soi tầm soát đại tràng để phát hiện sớm những tổn thương tiền ung thư ở đại trực tràng, qua đó giúp phòng ngừa ung thư ống tiêu hóa. Nhưng còn não bộ thì sao? Một cách giúp những người trên 45 tuổi ngăn ngừa sa sút trí tuệ là thực hiện “nội soi tầm soát nhận thức” để đánh giá tất cả các yếu tố tiềm tàng và nguy cơ gây bệnh.
Bạn không thể giải quyết được một vấn đề nếu bạn không để ý đến nó. Vì thế, dù bạn quan tâm đến việc ngăn chặn hoặc phục hồi sự suy giảm nhận thức hay không, trước tiên bạn cần biết mình đang ở đâu trên thước đo nguy cơ của ba quá trình bệnh lý: viêm, nồng độ hormone và các dưỡng chất cho não chưa tối ưu, sự phơi nhiễm các độc chất. Chỉ khi đó, bạn mới nhận ra bạn cần phải làm gì để cải thiện chức năng nhận thức. Các xét nghiệm máu giúp tầm soát những bất thường kể trên ngày càng phổ biến ở nhiều nơi, thường không bắt buộc có chỉ định của bác sĩ (đọc thêm ở Phụ lục A).
Những người đã bắt đầu có các triệu chứng nhận thức như mất trí nhớ thường có từ 10 đến 25 chỉ số xét nghiệm chức năng thần kinh chưa đạt mức tối ưu, trong khi những người có nguy cơ suy giảm nhận thức nhưng chưa xuất hiện triệu chứng thường có ba đến năm chỉ số chưa tối ưu.
Khi bệnh Alzheimer diễn tiến đến giai đoạn muộn, rất nhiều neuron và synapse đã bị tổn thương, vì thế việc điều trị nguyên nhân không còn giúp quay ngược tiến trình suy giảm nhận thức nữa (Chúng tôi nhận thấy có vài bệnh nhân đã cải thiện triệu chứng dù điểm số MoCA ban đầu của họ thấp đến mức 1 điểm, nghĩa là bệnh Alzheimer đã tiến triển rất lâu; tuy vậy, đây là những trường hợp ngoại lệ). Đối với những ca đó, chức năng trí tuệ khi chưa điều trị gần như sa sút không phanh.
Tuy nhiên, may mắn là thời gian để điều trị căn nguyên và dự phòng bệnh Alzheimer khá dài: điều trị trong giai đoạn chưa xuất hiện triệu chứng, vốn có thể kéo dài suốt một thập kỷ; điều trị giai đoạn suy giảm nhận thức chủ quan, vốn cũng có thể diễn ra trên dưới 10 năm; điều trị giai đoạn suy giảm nhận thức nhẹ kéo dài nhiều năm; thậm chí là điều trị cả khi bệnh Alzheimer đã toàn phát từ mức độ nhẹ đến trung bình. Các nguyên nhân phá hủy synapse và suy giảm nhận thức càng được nhận diện và điều trị sớm, bạn càng có nhiều khả năng tránh được bệnh Alzheimer toàn phát hoặc chứng suy giảm nhận thức nhẹ, cũng như tăng khả năng hồi phục hoàn toàn.
Trước khi tôi đi sâu mô tả từng yếu tố mà nhóm tôi muốn đánh giá trên mỗi bệnh nhân, tôi muốn chỉ ra sự khác biệt giữa những gì tôi khuyến nghị và thực tế cách thức đánh giá bệnh nhân bị suy giảm nhận thức hiện nay. Tôi sẽ trích dẫn những ghi chép hồ sơ từ một vị bác sĩ chuyên khoa thần kinh nổi tiếng, người chuyên điều trị bệnh Alzheimer, làm việc tại một trong những trung tâm nghiên cứu và điều trị Alzheimer hàng đầu ở Mỹ: “Chụp MRI não và làm các xét nghiệm máu: công thức máu toàn phần, bộ xét nghiệm sinh hóa, chức năng tuyến giáp và vitamin B12. Tôi đã yêu cầu bệnh nhân và vợ anh ấy lưu tâm đến những khó khăn liên quan việc quản lý tiền bạc cá nhân, uống thuốc và dùng phương tiện đi lại của bệnh nhân. Tôi đã kê đơn donepezil 5mglần mỗi ngày”.
Đánh giá dựa trên “tiêu chuẩn vàng” này đã thiếu các yếu tố sau:
◆ Di truyền: Không có thông tin nào ghi nhận kiểu gen ApoE của bệnh nhân, hay các kiểu gen khác đã được chứng minh làm tăng nguy cơ Alzheimer.
◆ Tình trạng viêm: Yếu tố cốt lõi trong bệnh Alzheimer này không được đánh giá.
◆ Nhiễm trùng: Ngày càng nhiều dữ liệu nghiên cứu chỉ ra nhiều bệnh nhiễm trùng khác nhau hiện diện trong bệnh Alzheimer – như nhiễm virus Herpes simplex-1, Borrelia (gây bệnh Lyme), P. gingivalis (một loại vi khuẩn ở khoang miệng), nhiều loại nấm và những tác nhân khác – nhưng các tác nhân nhiễm trùng trên bệnh nhân đã không được xét nghiệm.
◆ Homocysteine: Bệnh nhân không có kết quả xét nghiệm này, vốn là loại amino acid có liên quan nhân - quả đến hiện tượng teo não và bệnh Alzheimer.
◆ Nồng độ insulin lúc đói: Chỉ dấu sinh học quan trọng của hiện tượng đề kháng insulin trong bệnh Alzheimer thậm chí còn không được nhắc tới.
◆ Tình trạng các hormone: Nồng độ nhiều hormone thiết yếu cho hoạt động tối ưu của não bộ đã không được đánh giá. Mặc dù bác sĩ có đề nghị xét nghiệm chức năng tuyến giáp, những xét nghiệm tối cần thiết này đã không được thực hiện.
◆ Phơi nhiễm độc chất: Bệnh nhân không được xét nghiệm nồng độ thủy ngân hay các loại chất độc vi sinh.
◆ Hệ miễn dịch: Hệ miễn dịch đóng vai trò thiết yếu trong bệnh Alzheimer, đặc biệt là thành phần miễn dịch bẩm sinh – vốn có nguồn gốc tiến hóa lâu đời hơn và cũng là thành phần phản ứng đầu tiên khi nhiễm trùng. Đây là phần quan trọng trong bệnh Alzheimer. Tuy nhiên, bệnh nhân đã không được đánh giá yếu tố này.
◆ Hệ vi khuẩn thường trú: Các vi khuẩn và vi sinh vật thường trú ở đường ruột, miệng, mũi, các xoang – gọi chung là “hệ vi khuẩn thường trú” – không được đề cập đến.
◆ Hàng rào máu não: Đây là chức năng dễ biểu hiện bất thường trong bệnh Alzheimer, nhưng bác sĩ đã không đề cập hay đánh giá đến.
◆ Chỉ số khối cơ thể (BMI): Đã được chứng minh là yếu tố nguy cơ trong bệnh Alzheimer và sức khỏe hệ thần kinh nói chung, nhưng không được bác sĩ quan tâm tới (Bệnh nhân này có BMI là 33, thuộc nhóm béo phì và cách xa giới hạn tối ưu đối với chức năng nhận thức).
◆ Tiền đái tháo đường: Đây là một yếu tố góp phần vào Alzheimer, nhưng không được nhắc đến.
◆ Thể tích vùng não: Mặc dù bác sĩ có chỉ định chụp MRI để loại trừ các bất thường cấu trúc, nhưng một xét nghiệm thiết yếu giúp đo lường thể tích các vùng não khác nhau đã bị bỏ qua. Xét nghiệm này khá đơn giản, nhưng là sự bổ sung quan trọng cho MRI. Việc biết được bệnh nhân có bị teo vùng não nào hay không có thể giúp chẩn đoán bệnh Alzheimer, xác định tuýp bệnh Alzheimer và tiên lượng mức độ tốt hay xấu. Ví dụ, hiện tượng teo não toàn thể là điển hình cho tuýp 3 (tuýp nhiễm độc), trong khi teo vùng hồi hải mã thì điển hình hơn cho tuýp 1 và 2.
◆ Điều trị trúng đích: Bệnh nhân được kê thuốc trước khi xác định họ có thật sự mắc Alzheimer hay không.
Nói về việc đánh giá và điều trị suy giảm nhận thức, bức tranh thực tế đúng là khá buồn tẻ:
◆ Những người bệnh thường không đi khám vì họ hay nghe rằng bệnh này không có cách điều trị hữu hiệu. Họ sợ mất bằng lái xe, phải đối mặt với mặc cảm xã hội về bệnh Alzheimer và sợ không mua được bảo hiểm y tế dài hạn.
◆ Những bác sĩ đa khoa tuyến đầu không chuyển bệnh nhân đến các tuyến có phòng khám chuyên điều trị vấn đề về trí nhớ, bởi vì trước kia họ được đào tạo rằng bệnh này không có cách điều trị hiệu quả.
◆ Các bác sĩ chuyên khoa thường bắt bệnh nhân trải qua hàng giờ đánh giá, xét nghiệm tâm lý - thần kinh lâu lắc và căng thẳng, làm các loại chụp chiếu tốn kém và lặp lại xét nghiệm chọc dò dịch não tủy nhiều lần, để rồi chẳng thể làm gì giúp điều trị căn bệnh.
Chúng ta có thể làm hơn thế rất nhiều. Chúng ta phải làm tốt hơn thế nhiều lần nếu muốn quay ngược diễn tiến sa sút nhận thức trong bệnh Alzheimer, MCI và SCI. Trong chương này bạn sẽ đọc về quá trình đánh giá chức năng chuyển hóa để xác định các yếu tố đang tác động đến sự suy giảm nhận thức, dù là SCI, MCI hay bất cứ giai đoạn nào của bệnh Alzheimer(*).
(*) Mặc dù đa số các trường hợp suy giảm nhận thức là kết quả của quá trình thoái hóa thần kinh, một phần thiểu số người bệnh sẽ mắc bệnh do những nguyên nhân khác, ví dụ như khối não. Trước khi tiến hành các khảo sát về chuyển hóa được khuyến nghị ở đây, hãy tham vấn bác sĩ của bạn để loại trừ nguyên nhân này bằng việc chụp MRI hoặc CAT.
Homocysteine
Nồng độ homocysteine cao là yếu tố góp phần đáng kể vào bệnh Alzheimer(**). Bạn có nhớ cách mà bệnh Alzheimer xuất hiện khi các tín hiệu phá hủy synapse lấn át tín hiệu tạo synapse ở não chứ? Trong ba nguyên nhân gây hủy synapse – viêm, thiếu các yếu tố hỗ trợ synapse (yếu tố hướng synapse) và độc chất – homocysteine là một chỉ dấu cho hai nguyên nhân đầu tiên. Nó tăng khi có tình trạng viêm và khi nguồn dinh dưỡng hỗ trợ synapse bị sụt giảm.
(**) Và cũng là yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch, đột quỵ và thậm chí vài loại ung thư.
Homocysteine có nguồn gốc từ việc ăn thực phẩm chứa loại amino acid tên methionine như các loại hạt, thịt bò, thịt cừu, phô mai, gà tây, thịt heo, cá, các loại sò, các loại trứng, sản phẩm từ sữa hoặc các loại đậu.
Methionine được chuyển hóa thành homocysteine, chất này được chuyển ngược lại thành methionine hoặc cysteine – một loại amino acid khác. Quá trình này cần vitamin B12, vitamin B6, folate (vitamin B9) và amino acid tên là betaine. Nếu cơ thể có đủ các chất này, bạn không gặp vấn đề với việc chuyển hóa homocysteine. Nồng độ chất này được duy trì ở mức thấp ở người khỏe mạnh. Nhưng nếu cơ thể bị thiếu các chất trên, homocysteine sẽ tích tụ, phá hủy các mạch máu và não bộ. Nồng độ chất cao hơn 6 micromolL có thể làm tăng nguy cơ này. Nồng độ homocysteine càng cao, nguy cơ càng lớn hơn1.
Mặc dù vài người trong chúng ta có thể chống chịu được nồng độ homocysteine tăng cao mãn tính mà không mắc bệnh Alzheimer, nhưng chúng vẫn là những yếu tố tiềm tàng gây suy giảm nhận thức và đặc biệt là gây teo hồi hải mã. Thực tế là nồng độ homocysteine càng cao vượt mức 6 bao nhiêu, hồi hải mã càng teo nhanh bấy nhiêu.
CHA CỦA TERI ĐÃ MẮC CHỨNG SA SÚT TRÍ TUỆ và cuối cùng ông mát. Kết quả sinh thiết tử thi cho thấy hình ảnh điển hình của bệnh Alzheimer. Vốn là một người sắc sảo và thành đạt suốt thời trẻ, Teri từng đạt được nhiều thành tựu trong sự nghiệp với tư cách là một vận động viên marathon đồng thời là một nhà văn. Nhưng khi đến 60 tuổi, bà bắt đầu gặp vấn đề với việc tập trung và ghi nhớ.
Teri đến gặp tôi năm bà 65 tuổi. Với tiền sử gia đình và triệu chứng như trên, bà được làm các xét nghiệm di truyền học, kết quả là bà có gen ApoE4. Sau khi kết quả xét nghiệm máu cho thấy nồng độ homocysteine của bà là 16, bà bắt đầu thực hành phác đồ ReCODE, và sự tiến bộ xuất hiện sau 3 tháng. Nhưng sau 6 tháng, nòng độ homocysteine chỉ giảm xuống mức 11, bác sĩ tổng quát của bà đã nói: “Tôi không thê làm gì hơn để giúp bà cải thiện thêm chỉ số này”.
Hóa ra, bà đã uống cyanocobalamin (vitamin B,.) thay vì mefthylcobalamin (methyl-B,.), folate thay vì methyltetrahydrofolate, và pyridoxine thay vì pyridoxal-5-phosphate. Khi bà được điều chỉnh thuốc sang ba dạng hoạt chất như trên, chỉ số homocysteine giảm xuống còn 7. Tại thời điểm Teri theo phác đồ được 4 năm, bà vẫn duy trì được tinh thần minh mẫn và lanh lẹ. Kết quả chụp amyloid PET scan của bà cho kết quả không có gì bất thường ngoài một vết nhỏ thê hiện hình ảnh của amyloid.
MỤC TIÊU: homocysteine < 7 micromol.
Vitamin B6, B12, và Folate
Việc duy trì nồng độ homocysteine thấp ở mức tối ưu đòi hỏi cơ thể cần có đủ lượng vitamin B6, B9 (folate) và B12 ở dạng hoạt chất. Pyridoxal-5-phosphate (P5P) là dạng hoạt chất của vitamin B6, methylcobalamin là dạng hoạt chất của vitamin B12 và methylfolate là hoạt chất của vitamin B9. Khi bạn làm xét nghiệm nồng độ vitamin B12 trong máu, bạn sẽ thấy rằng khoảng giá trị “bình thường” dao động từ 200 đến 900 picogram mỗi mililiter (pgml). Các bác sĩ điều trị thường dễ hài lòng khi các chỉ số nằm “trong giới hạn bình thường” dù rõ ràng đó chưa phải là mức tối ưu.
Đối với vitamin B12, bạn sẽ thấy dòng ghi chú ở trang kết quả cho biết nồng độ “bình thường” từ 200 đến 350 có thể liên quan đến các bệnh có thiếu vitamin B12 như thiếu máu và sa sút trí tuệ! Vì thế, chắc chắn là bạn không muốn dừng lại khi nồng độ B12 “bình thường” ở mức 300. Bạn có thể sẽ muốn đạt được chỉ số hơn 500.
Nhiều bác sĩ điều trị cho bệnh nhân làm xét nghiệm MMA (methylmalonic acid) thay vì xét nghiệm trực tiếp vitamin B12. Vì khi B12 giảm, chất MMA tăng lên. Nồng độ MMA cao là chỉ dấu của mức B12 thấp và độ nhạy của xét nghiệm này có thể còn tốt hơn B12. MMA là xét nghiệm bổ sung phù hợp cho B12, nhưng vì kết quả MMA có thể dao động khá lớn, nên tốt nhất là nó được làm kèm theo chứ không nên xem như chọn lựa thay thế cho xét nghiệm B12.
Đối với folate, mức “bình thường” là từ 2-20 nanogram mỗi mililiter. Nhưng như đã nói, bạn chắc chắn sẽ không muốn chỉ số của mình ở sát giới hạn dưới của khoảng bình thường đó. Hãy đặt mục tiêu duy trì nó ở mức 10-25.
Với vitamin B6, bạn có thể sẽ không muốn chỉ số của mình xấp xỉ giới hạn dưới (30-50 nanomol mỗi lít) hoặc cao quá giới hạn trên (>110 nmolL), vì nồng độ cao có thể gây độc cho một nhóm các dây thần kinh ngoại biên, đặc biệt là các sợi chi phối cảm giác xúc giác và áp lực – vốn rất cần thiết để tay và chân cảm nhận không gian. Bạn có thể muốn chỉ số của mình ở mức 60-100. Việc uống thuốc P5P sẽ giúp bạn đạt mục tiêu này. Tôi sẽ nói về liều lượng các thuốc này ở chương tiếp theo.
MỤC TIÊU: vitamin B12 = 500-1500 pgml; folate = 10-25 ngml; vitamin B6 = 60-100 mcgL.
Sự đề kháng Insulin
Nồng độ insulin và glucose cao là hai trong số các yếu tố nguy cơ quan trọng nhất trong bệnh Alzheimer. Bạn có thể đã từng đọc đâu đó trong số hàng tá cuốn sách hay ho viết về đề tài này: đường là một chất độc gây nghiện! Cơ quan ATF (Cục quản lý Chất cồn, Thuốc lá, Súng và Chất nổ Hoa Kỳ) có lẽ sẽ muốn đổi tên thành ATFS và thêm đường vào danh sách các chất họ kiểm soát, căn cứ vào mối nguy hại diện rộng khi tiêu thụ quá nhiều chất ngọt(*).
(*) Tên nguyên văn của ATF: Bureau of Alcohol, Tobaco, Firearms and Explosives. Ký tự "S" tác giả thêm vào ở cuối chữ ATFS là viết tắt của "sugar", nghĩa là "đường".
Cơ thể người không được thiết kế để tiêu thụ nhiều hơn 15 gram đường mỗi ngày, con số này nhỏ hơn nhiều so với lượng đường chứa trong một lon nước ngọt (vốn có từ 40 đến 100 gram đường, tùy kích cỡ lon). Trong khi đó, chế độ ăn của chúng ta lại tiêu thụ đầy đồ ngọt, từ nước ngọt đến kẹo, ngũ cốc ngọt và sữa chua có đường, kể cả bánh mì ngọt mua sẵn ngoài tiệm.
Khi bạn ăn những thực phẩm có chỉ số đường cao – không chỉ đường mà còn bao gồm thực phẩm chứa tinh bột như bánh mì trắng, gạo trắng, khoai tây trắng và các loại bánh mì ngọt – cơ thể bạn sẽ tiết tống tiết tháo insulin vào máu để cố gắng ổn định đường huyết, vì chính chất đường này sẽ có hại ở nồng độ cao. Quá trình này làm tổn hại cơ thể theo nhiều cách.
Một mặt, các tế bào trở nên trơ lì với lượng insulin lúc nào cũng cao trong máu, giống như cách lỗ tai bạn quá quen với tiếng còi xe khi thường xuyên lái xe đi làm xa. Khi thứ gì đó trở nên quá nhiều, bạn ngừng phản ứng với nó. Sự kháng insulin này không chỉ góp phần gây đái tháo đường tuýp 2, gan nhiễm mỡ và hội chứng chuyển hóa, nó còn gây ra bệnh Alzheimer.
Lý do là đây: tín hiệu của insulin là một trong những tín hiệu quan trọng nhất, hỗ trợ cho sự tồn tại của các tế bào thần kinh (neuron). Insulin gắn lên các thụ thể của nó và khởi động quá trình tín hiệu hỗ trợ cho tế bào thần kinh. Tín hiệu sống còn này trở nên cùn mòn khi nồng độ insulin tăng cao mãn tính. Nhưng đây chưa phải là mối liên hệ duy nhất giữa nồng độ insulin tăng cao kéo dài và bệnh Alzheimer. Cơ thể thoái biến insulin sau khi nó thực hiện chức năng, nhờ một men (enzyme) trong số nhiều enzyme khác gọi là IDE (insulin-degrading enzyme). Ngoài ra, IDE còn giúp ly giải amyloid- beta, nên nếu IDE phải tập trung phân giải lượng insulin nhiều hơn, nó sẽ không ly giải amyloid-beta nữa. Vì vậy, nồng độ amyloid-beta tăng lên, góp phần gây ra Alzheimer.
Nồng độ glucose máu cao cũng gây ra những vấn đề khác ngoài việc tăng insulin mãn tính. Glucose gắn vào nhiều loại protein, giống như cá ép bám cộng sinh vào cá mập, làm gián đoạn chức năng của protein. Hemoglobin A1c là một phân tử dễ đo lường trong số nhiều chất bị ảnh hưởng như trên. Những phân tử glucose nằm quá giang này tham gia những phản ứng hóa học để tạo ra sản phẩm cuối của quá trình đường hóa, còn gọi là AGE (advanced glycation end-product).
Những chất này gây hại bằng nhiều cơ chế khác nhau.
1. Vì các protein bị gắn AGE như dị vật đối với hệ miễn dịch của bạn, cơ thể có thể tạo ra những kháng thể tương ứng chống lại chính những protein của cơ thể, kích hoạt phản ứng viêm.
2. Các AGE gắn vào thụ thể của nó, gọi là RAGE (receptor for AGE), điều này cũng gây viêm.
3. Phân tử AGE tạo ra các gốc oxy hóa tự do và những phân tử bất ổn định, hoạt tính cao này phá hủy bất cứ thứ gì mà chúng tiếp xúc, ví dụ mã di truyền trong DNA và các màng của tế bào.
4. Các protein bị biến đổi phá hủy mạch máu, làm giảm việc cung cấp dưỡng chất cho não (góp phần tạo ra Alzheimer tuýp 2) và gây rò rỉ tại hàng rào máu - não (góp phần tạo ra tuýp 1).
Vì những lý do trên, việc theo dõi tình trạng glucose và insulin máu là tối cần thiết. Nồng độ insulin khi đói của bạn nên ở mức từ 4,5 trở xuống. Mức đường huyết nên từ 90 trở xuống, và chỉ số hemoglobin A1c (HbA1c) nên nhỏ hơn 5,6%.
KATRINA, MỘT PHỤ NỮ 65 TUỔI, bắt đầu gặp vấn đề về trí nhớ và cảm thấy bản thân dần kém minh mẫn. Bà nhiều lần quên vị trí xe đỗ trong bãi giữ xe, không nhận ra những người bà từng gặp và thường quên mất dòng suy nghĩ của mình. Điều này làm bà gặp khó khăn trong công việc. Bà còn phải vật lộn với việc chọn lựa từ ngữ khi giao tiếp.
Kết quả xét nghiệm cho thấy bà có nhiều rối loạn chuyển hóa, bao gồm mức glucose máu cao 121 mgdl tương ứng tình trạng tiền đái tháo đường, chỉ số HbA1c là 5,6%, nồng độ insulin khi đói là 4,2 và mức cortisol buổi sáng là 24,3 (gợi ý tình trạng stress, và cũng góp phần làm tăng đường huyết).
Bà bắt đầu điều trị theo phác đồ ReCODE. Bốn tháng sau, tất cả các triệu chứng kể trên đã cải thiện kèm với sự cải thiện quá trình chuyển hóa, bao gồm mức đường huyết còn 108 ( dù chưa đạt mức tối ưu, nhưng là một sự cải thiện đáng kể), HbA1c là 5,5%, nồng độ insulin lúc đói còn 3,4 và cortisol buổi sáng là 21.
MỤC TIÊU: nồng độ insulin lúc đói ≤ 4,5 microIUml; hemoglobin A1c < 5,6 %; glucose lúc đói = 70-90 mgdl.
Sự viêm, quá trình viêm và bệnh Alzheimer
Có một mối liên hệ trực tiếp về cơ chế giữa sự viêm và bệnh Alzheimer. Nếu bạn từng có lần gọi cảnh sát thì có nghĩa là bạn đã phụ thuộc vào họ trong việc phân biệt “người tốt” và “người xấu”, với suy nghĩ cần bắt giữ kẻ xấu rồi áp giải về đồn. Tuy nhiên, bạn hãy tưởng tượng đến việc cảnh sát không bao giờ rời khỏi khu vực bạn đang ở – giống như bạn đang ở giữa chiến trường nơi cảnh sát làm việc, với những cảnh bắn nhau, phá hủy, chết chóc và tổn thương cho cả hai phe người tốt lẫn kẻ xấu.
Đây chính xác là những gì đã xảy ra với hầu hết chúng ta: hệ miễn dịch – lực lượng cảnh sát của cơ thể – không bao giờ rút lui hoàn toàn. Do đó, sự viêm mãn tính (dù nhẹ) vẫn có thể dẫn đến các bệnh tim mạch, ung thư, viêm khớp, thúc đẩy sự lão hóa và cả bệnh Alzheimer. Bằng chứng cho thấy sự viêm góp phần vào bệnh Alzheimer đã quá nhiều và rõ ràng. Bên cạnh hoạt động quá mức nói chung, hệ miễn dịch bị kích thích lâu ngày thỉnh thoảng cũng tấn công các mô của chính cơ thể.
Có nhiều kẻ tấn công có thể kích hoạt lực lượng cảnh sát nội bộ này, gồm: các tác nhân nhiễm trùng như virus, vi khuẩn hoặc nấm; các gốc tự do; các sản phẩm cuối của quá trình đường hóa; các chấn thương như bầm tím, bong gân hay gãy xương; các protein hoặc lipid bị hư tổn như phân tử LDL (low-density lipoprotein) bị oxy hóa; cùng nhiều tác nhân gây tổn thương khác. Đáp ứng của lực lượng bảo vệ cơ thể là rất đáng kể, hầu hết diễn ra rất hiệu quả (Đó là lý do bạn vẫn còn sống tới giây phút này!) và phức tạp bằng nhiều con đường.
Quá trình viêm có nhiều chỉ số đo lường chính:
1. C-reactive protein: CRP được gan sản xuất để phản hồi với bất kỳ hoạt động viêm nào. Cụ thể hơn, tôi muốn nói đến chất hs-CRP (CRP có độ nhạy cao – high-sentitivity CRP), vì CRP quy ước thường kém nhạy hơn nhiều khi cần phân biệt giữa ngưỡng tối ưu và các bất thường nhẹ. Nếu CRP tăng lên, bạn sẽ cần đi tìm ổ gây viêm. Nguyên nhân có thể là do lượng đường hoặc các carbohydrate đơn phân tử tăng quá cao, hoặc do các chất béo xấu (ví dụ trans-fat – chất béo chuyển hóa), hội chứng rò ruột (tôi sẽ nói thêm ở phần sau), sự nhạy cảm gluten, vệ sinh răng miệng kém, các độc chất đặc hiệu hoặc cũng có thể do bất kỳ nguồn nào khác. Khi đã định vị được nguồn căn, ta cần loại bỏ nó rồi kiểm tra lại xét nghiệm hs-CRP.
2. Tỷ số albumin trên globulin trong máu (tỷ số AG): Đây là một chỉ số bổ sung thể hiện quá trình viêm. Với người khỏe mạnh, tốt nhất là cần đạt chỉ số > 1,8.
3. Tỷ số omega-6 trên omega-3 trong tế bào hồng cầu: Dù hai nhóm a-xít béo này đều quan trọng với sức khỏe, chất béo nhóm omega-6 kích thích quá trình viêm, trong khi omega-3 có tính kháng viêm. Tỷ số omega-6 trên omega-3 nên thấp hơn 3, nhưng không dưới 0,5 vì điều này làm tăng nguy cơ chảy máu.
4. Interleukin-6 (IL-6) và yếu tố hoại tử khối u α (TNFα): Lực lượng cảnh sát nội bộ cử đi nhiều đặc phái viên có tên cytokine để điều phối đáp ứng viêm. Hai trong số các cytokine có thể tăng lên trong bệnh Alzheimer thể viêm (tuýp 1) là IL-6 và TNFα.
MỤC TIÊU: hs-CRP < 0,9 mgdL; albumin ≥ 4,5 gdL; tỷ số AG ≥ 1,8.
CÁC MỤC TIÊU TÙY CHỌN: tỷ lệ omega-6:omega-3 = 0,5-3,0; IL-6 < 3 pgml; TNFα < 6,0 pgml.
Vitamin D3
Giảm hoạt động vitamin D có liên quan đến sự suy giảm chức năng nhận thức. Vitamin D lưu hành khắp dòng máu qua các mô giống như sóng wi-fi và đi vào các tế bào của cơ thể. Một khi đã ở trong tế bào, nó gắn với các phân tử thụ thể được gọi là các thụ thể vitamin D (vitamin D receptor – VDR), cho phép vitamin D đi vào trong nhân tế bào (nơi chứa đựng bộ gen DNA) và kích hoạt hơn 900 gen.
Một vài gen tác động đến quá trình chuyển hóa xương, vài gen khác ức chế sự hình thành khối u, có những gen làm giảm quá trình viêm và có những gen đóng vai trò rất quan trọng trong việc tạo mới cũng như duy trì synapse trong não – một điều thiết yếu trong phác đồ ReCODE. Vì thế, những gen này và vitamin D (vốn giúp kích hoạt các gen) là yếu tố chủ lực giữ cho cán cân nằm ở bên “bảo vệ” synapse trong mối cân bằng bảo vệ hoặc phá hủy synapse. Khi nồng độ vitamin D dưới ngưỡng tối ưu, các gen phù hợp sẽ không được kích hoạt đúng đắn.
Khi tiếp xúc với ánh mặt trời, cơ thể chúng ta tạo ra vitamin D. Ánh nắng giúp chuyển đổi một dạng cholesterol là 7-dehydrocholesterol thành dạng bất hoạt của vitamin D. Tiền chất này sau đó được chuyển đổi thành dạng hoạt động.
Các bác sĩ lâm sàng từng cho rằng nồng độ chất 25-hydroxy- cholecalciferol (dạng bất hoạt, đây cũng là chất thường được xét nghiệm nhất) trong huyết thanh từ 20-30 ngml là khoảng lành mạnh. Tôi khuyến nghị đặt mục tiêu là từ 50 đến 80. Bạn có thể dùng quy luật 100x để tìm ra liều dùng tối ưu vitamin D (thường được bào chế ở dạng vitamin D3 trong thuốc) cho mình: lấy chỉ số muốn đạt được (ví dụ: 50) trừ đi chỉ số xét nghiệm hiện tại của bạn (ví dụ: 20), sau đó nhân kết quả đó (30) với 100 để tính ra liều dùng (3000) bằng đơn vị IUs.
MỤC TIÊU: nồng độ vitamin D3 (có được qua việc xét nghiệm 25-hydroxycholecalciferol) = 50-80 ngml.
Tình trạng hormone - Vấn đề tranh cãi nhưng thiết yếu
Cụm từ nội tiết tố (hormone) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp “horman”, nghĩa là “thúc đẩy hoặc tạo thành chuyển động”. Những phân tử tín hiệu này được sản xuất tại một nơi (ví dụ như tuyến yên) sau đó di chuyển theo dòng máu đến một nơi khác (như tuyến thượng thận chẳng hạn). Nhiều hormone góp phần thiết yếu vào chức năng nhận thức tối ưu, cụ thể là qua việc hỗ trợ sự tạo thành và củng cố synapse. Khi nồng độ của chúng giảm xuống, cán cân chuyển hóa bị lệch sang hướng hủy hoại synapse và kéo theo chức năng nhận thức sụt giảm.
Hormone tuyến giáp
Chức năng tuyến giáp tối ưu có ý nghĩa thiết yếu để đạt được chức năng nhận thức tối ưu, và ở những người mắc bệnh Alzheimer chức năng tuyến giáp không ở mức tối ưu. Hoạt động tuyến giáp giống như chân ga chiếc xe của bạn – bạn càng đạp ga, các tế bào càng chuyển hóa nhanh hơn. Bạn có thể đo lường tốc độ chuyển hóa một cách đơn giản bằng việc đo nhiệt độ nền cơ thể. Hãy lấy một chiếc nhiệt kế chuẩn, vẩy mạnh cho cột thủy ngân đi xuống, rồi đặt cạnh giường trước khi bạn ngủ buổi tối. Trước khi ra khỏi giường buổi sáng, bạn đo nhiệt độ tại nách trong 10 phút. Chỉ số đo được nên nằm trong khoảng 36,5oC đến 36,8oC. Nếu nhiệt độ đo được thấp hơn thì có khả năng là do chức năng tuyến giáp giảm xuống.
Tốc độ chuyển hóa tế bào cũng ảnh hưởng đến phản xạ của bạn. Khi chức năng tuyến giáp giảm, các phản xạ sẽ chậm lại. Điều này có thể được đo bằng một loại máy tên Thyroflex, đôi khi có sẵn tại phòng khám của vài bác sĩ. Nó đo được chính xác tốc độ phản xạ cánh tay quay (là phản xạ giúp bạn gấp cẳng tay). Nếu tuyến giáp không hoạt động đúng mức, phản xạ này và các phản xạ khác sẽ chậm đi.
Vì chức năng tuyến giáp tác động đến tốc độ chuyển hóa, nó cũng ảnh hưởng đến nhịp tim và sự nhạy bén của các hoạt động tinh thần. Ngoài ra, nó còn có thể tác động vào thời lượng giấc ngủ, chẳng hạn: bạn cảm thấy lạnh hay nóng, bạn có dễ tăng cân không, bạn có khí sắc trầm hay không,... với nhiều chỉ dấu sức khỏe khác. Hơn nữa, đa số những người bị sa sút trí tuệ, suy giảm nhận thức nhẹ và suy giảm nhận thức chủ quan đều có chức năng tuyến giáp chưa được tối ưu. Vì thế, điều tối quan trọng là bạn cần nắm được tình trạng tuyến giáp của mình, điều này có thể được đánh giá qua xét nghiệm T3 tự do (là dạng T3 hoạt động), T4 tự do, T3 đảo và TSH (thyroid-stimulating hormone).
Tại sao lại có nhiều xét nghiệm thế? Đa số các bác sĩ chỉ đề nghị làm xét nghiệm TSH, nhưng xét nghiệm đơn độc này không nhận diện được nhiều bệnh nhân đang có chức năng tuyến giáp ngoài khoảng tối ưu.
TSH được sản xuất bởi tuyến yên để đáp ứng với kích thích của TRH (thyrotropin-releasing hormone) – một hormone do vùng hạ đồi của não tiết ra. Khi chức năng tuyến giáp suy giảm, theo lý thuyết TSH sẽ tăng lên để kích thích tuyến giáp sản xuất nhiều hormone giáp hơn. Vì thế, nồng độ TSH cao có thể chỉ điểm sự giảm hoạt động của tuyến giáp. Khoảng “bình thường” của TSH được cho là ở mức 0,4 – 4,2 microIUL, nhưng bất kỳ xét nghiệm TSH nào trên 2,0 đều cần được quan tâm.
Tuy nhiên, trong thực hành, bạn có thể có kết quả xét nghiệm TSH “bình thường” dù chức năng tuyến giáp đang ở ngoài ngưỡng tối ưu. Đó là lý do tại sao tôi khuyến cáo nên kiểm tra bổ sung các loại hormone giáp khác:
T3 tự do: Đây là dạng hormone giáp hoạt động, nhưng có đời sống ngắn. Những phân tử này phân hủy chỉ sau một ngày (dĩ nhiên là những phân tử mới tiếp tục được tạo ra). Nồng độ tối ưu là từ 3,2 đến 4,2 picogram mỗi mililiter (pgml).
T4 tự do: Đây là một hormone dự trữ thiết yếu, có thời gian sống khoảng một tuần. Nồng độ tối ưu là từ 1,3 đến 1,8.
T3 đảo: Có nhiệm vụ ức chế hoạt động tuyến giáp. Đây là lý do tại sao một trong những xét nghiệm quan trọng nhất của chức năng tuyến giáp là đo tỷ số T3 tự do trên T3 đảo. Mức T3 đảo tăng lên cùng với tình trạng stress và làm giảm sự hiệu quả của T3. Tỷ số T3 tự do:T3 đảo nên đạt ít nhất là 20.
MỨC TỐI ƯU: TSH < 2,0 microIUml; T3 tự do = 3,2-4,2 pgml; T3 đảo < 20 ngdL; T3 tự do x 100:T3 đảo > 20; T4 tự do = 1,3-1,8 ngdL.
Estrogens và progesterone
Vai trò của các estrogen (estradiol, estriol, estrone) và progesterone trong chức năng nhận thức vẫn còn gây tranh cãi. Nhưng đã có những bằng chứng mạnh mẽ cho thấy vai trò của chúng. Như đã đề cập ở trên, estrogen gắn với thụ thể của nó và kích hoạt enzyme (tên là alpha secretase hay ADAM10) phân cắt chất APP. Từ đó, nó gửi tín hiệu đến bộ đôi phân tử hỗ trợ synapse là sAPPα và αCTF. Vì thế, estrogen là nhân tố thiết yếu trong việc ngăn ngừa sa sút trí tuệ.
Những nghiên cứu từ Mayo Clinic đã chứng tỏ, những phụ nữ ở độ tuổi 40 đã cắt buồng trứng (đôi khi vì nguy cơ mắc ung thư buồng trứng do di truyền) mà không dùng liệu pháp hormone thay thế, có nguy cơ mắc bệnh Alzheimer gấp hai lần2. Không chỉ bản thân estrogen và progesterone quan trọng, mà tỷ số của estrogen trên progesterone cũng vậy, bởi vì tỷ số này cao có liên quan đến nhận thức “mờ nhạt” và trí nhớ kém.
DIANE, MỘT LUẬT SƯ 55 TUỔI, đã trải qua tình trạng suy giảm trí nhớ tiền triển ngày càng tệ trong suốt bốn năm. Nhiều lần, bà vô tình quên tắt bếp khi rời khỏi nhà, quên các cuộc họp và lên lịch nhiều cuộc họp trùng giờ nhau vì bà không nhớ đã có hẹn trước đó. Vì bà hầu như không nhớ được gì lâu hơn năm phút, bà phải ghi âm các cuộc trò chuyện và ghi chú hàng tá thứ trong iPad của mình (xui xẻo thay, sau đó bà lại quên mật khẩu để mở máy).
Nỗ lực học tiếng Tây Ban Nha để đáp ứng nhu cầu công việc của bà cuối cùng cũng thất bại. Bà dần không còn khả năng đảm nhiệm công việc. Bà thường hỏi các con rằng họ đã đem về nhà cho bà những đồ gia dụng bà nhờ mang giúp chưa, chỉ để nhận lại được câu trả lời rằng bà chưa từng nói với họ điều đó. Bà thường xuyên quên mất mình định nói gì khi đang nói được nửa câu, và chậm phản hồi ngay cả trong các cuộc đối thoại thường ngày. Một trong các đứa con của bà nói: “Tôi học đại học xa nhà, và khi tôi về nhà, người từng là mẹ tôi dường như đã biến mất”.
Khi Diane đến gặp tôi, kết quả xét nghiệm của bà cho thấy homocysteine là 9,8; CRP 0,16 bình thường; vitamin D 46 khá tốt; hemoglobin A1c 5,3 ỗn; estradiol 275 bình thường; progesterone 0,4 thấp (vì thế tỷ số estradiol:progesterone tăng rất cao ở mức 687,5); insulin 2,7 ổn; T3 tự do 3,02 khá tốt; T4 tự do 1,32 ổn và TSH 2,04 ở sát giới hạn cao.
Tuy nhiên, sau 5 tháng điều trị với ReCODE, bà bắt đầu nhận thấy sự cải thiện. Sau 10 tháng, tức là 4 tháng sau khi bà đạt được tỷ lệ giữa estradiol và progesterone tối ưu, bà đã hồi phục gần như hoàn toàn. Bà không còn cần đến iPad để ghi chú hay ghi âm các cuộc trò chuyệnBà đã đi làm lại, học tiếng Tây Ban Nha và bắt đầu học một chuyên ngành luật mới. Bà không còn bị quên ở giữa câu nói hay tưởng tượng ra mình đã nói gì đó với con cái mà trên thực tế không hề có.
MỤC TIÊU: mức estradiol = 50-250 pgml; progesterone = 1-20 ngml; tỷ lệ giữa estradiol và progesterone = 10-100 (và tối ưu hóa các triệu chứng).
Testosterone
Testosterone là hormone giới tính nhóm steroid, hiện diện ở cả nam và nữ (nam giới có nồng độ cao hơn) hỗ trợ cho sức sống của các tế bào thần kinh. Những nam giới có nồng độ testosterone thấp nhất trong dân số có nguy cơ mắc bệnh Alzheimer cao hơn.
MỤC TIÊU: testosterone toàn phần = 500-1000 ngdL; testosterone tự do = 6,5-15 ngdL.
Cortisol, pregnenolone và dehydroepiandrosterone (DHEA)
Trong thế giới siêu kết nối, siêu hiệu suất và cạnh tranh không ngừng, căng thẳng hiện diện ở khắp mọi nơi và là một trong những yếu tố góp phần quan trọng nhất vào sự suy giảm nhận thức. Những giai đoạn stress ngắn mà bạn đã vượt qua thường không phải là vấn đề lớn so với tình trạng stress kéo dài và không được giải tỏa mà nhiều người trong chúng ta đang phải trải qua.
Stress kích hoạt trục HPA (trục hạ đồi - tuyến yên - tuyến thượng thận như tôi đã từng nói tới). Vùng hạ đồi trong não sản sinh ra yếu tố giải phóng hormone hướng vỏ thượng thận (CRF), chất này kích thích tuyến yên tiết ra ACTH (adrenocorticotropic hormone) vào máu. ACTH tiếp tục tác động lên tuyến thượng thận nằm ngay phía trên hai thận để tiết ra cortisol và các hormone khác liên quan đến tình trạng stress. Nồng độ cortisol cao phá hủy các tế bào thần kinh, đặc biệt là vùng hồi hải mã, nên stress là một yếu tố góp phần hủy hoại hồi hải mã và chức năng nhận thức – đặc biệt là trí nhớ.
Stress tâm lý mãn tính có thể dẫn tới rối loạn hoạt động trục HPA (từng có một thời hiện tượng này được gọi là suy yếu tuyến thượng thận, nhưng thực tế là toàn bộ trục đều bị ảnh hưởng). Khi điều này xảy ra, hai tuyến thượng thận không còn sản xuất đủ các hormone để đáp ứng với những tình trạng stress khác do bệnh lý của cơ thể như nhiễm trùng, nhiễm độc hoặc thiếu ngủ. Vì thế, bạn trở nên rất nhạy cảm với các yếu tố gây stress, điều này càng làm tăng sự suy giảm nhận thức. Hơn nữa, bản thân sự giảm nhanh nồng độ cortisol có thể làm mất tế bào thần kinh ở vùng hồi hải mã.
Pregnenolone là một hormone chủ đạo, tổng hợp nên cả hai hormone giới tính là estradiol và testosterone, cũng như các hormone của tình trạng stress như cortisol và dehydroepiandrosterone (DHEA). Vào những giai đoạn căng thẳng cao, pregnenolone bị “bòn rút” để sản xuất các hormone tương ứng, dẫn tới việc giảm sản xuất các hormone giới tính ở nồng độ tối ưu. Việc “mất mát pregnenolone” này là nguyên nhân phổ biến dẫn tới sụt giảm pregnenolone và các hormone giới tính nhóm steroid. Điều này lý giải tại sao chúng ta giảm ham muốn tình dục khi gặp nhiều căng thẳng. Pregnenolone hỗ trợ cho trí nhớ và có tính bảo vệ hệ thần kinh. Vì thế, nồng độ sụt giảm chất này là một yếu tố nguy cơ gây suy giảm nhận thức.
Tương tự pregnenolone, DHEA là một “steroid thần kinh” hỗ trợ cho sự đáp ứng với tình trạng stress và nó thường được đo lường dưới dạng DHEA sulfate. Cortisol, pregnenolone và DHEA sulfate là những chất có thể đo được một cách đơn giản bằng mẫu xét nghiệm máu hoặc nước bọt. Nếu có phát hiện bất thường, ta có thể làm thêm xét nghiệm nước tiểu 24 giờ để đánh giá. Tuy nhiên, trong đa số trường hợp, các xét nghiệm máu đã đủ để nhận định liệu nồng độ hormone có ở mức bất lợi đối với chức năng nhận thức hay không.
MỤC TIÊU: cortisol (buổi sáng) = 10-18 mcgdL; pregnenolone = 50-100 ngdL; DHEA sulfate = 350-430 mcgdL ở nữ giới và 400-500 mcgdL ở nam giới.
Phát hiện kim loại - Việc không chỉ có ở các sân bay
Thần lửa Vulcan và người khổng lồ Atlas - tỷ lệ đồng và kẽm
Nồng độ đồng quá cao và kẽm quá thấp có liên quan đến bệnh sa sút trí tuệ. Giáo sư George Brewer tại Đại học Michigan đã dành cả sự nghiệp nghiên cứu về ảnh hưởng của đồng và kẽm lên chức năng nhận thức. Ông khám phá ra rằng cơ thể của chúng ta thường thiếu kẽm nhưng dư đồng. Vấn đề này đặc biệt nổi bật ở các nước phát triển, có thể do việc sử dụng các ống dẫn nước bằng đồng, hay có sẵn đồng trong các loại vitamin, cùng với chế độ ăn thiếu chất kẽm và sự hấp thu kẽm kém (thường do dạ dày sản xuất ít a-xít hơn, nhất là ở người già hoặc người dùng thuốc ức chế bơm proton trong bệnh trào ngược dạ dày).
Như bác sĩ Brewer đã chỉ ra, quan trọng hơn là sự lão hóa có liên quan đến nồng độ kẽm thấp và Alzheimer cũng vậy. Hơn nữa, những bệnh nhân mắc Alzheimer tuýp nhiễm độc (tuýp 3) thường có nồng độ kẽm rất thấp – điển hình là chỉ bằng một nửa so với người khỏe mạnh – điều này làm họ trở nên nhạy cảm hơn với độc chất như thủy ngân và các độc chất từ nấm mốc. Ngoài ra, bác sĩ Brewer cũng phát hiện ra việc uống bổ sung viên kẽm làm tăng khả năng nhận thức3.
Chính vì đồng và kẽm cạnh tranh lẫn nhau theo nhiều cách – ví dụ, chất này ức chế sự hấp thu chất kia trong đường ruột – thế nên có quá nhiều đồng trong cơ thể, nghĩa là có quá ít kẽm. Cả hai đều thiết yếu đối với sức khỏe. Vì thế, bạn không nên để cơ thể thiếu đi chất nào cả. Tuy nhiên, dù cả hai đều là kim loại, chúng vẫn khác nhau ở một khía cạnh quan trọng: kẽm được ví như Atlas (vị thần Titan hùng dũng và vững bền của Hy Lạp) trong khi đồng được ví như Vulcan (vị thần lửa).
Lý do ở đây là: ion kẽm (Zn++) đã có lớp orbital nguyên tử 3d được lấp đầy – nói cách khác, kẽm có đủ electron nên “vui vẻ và hạnh phúc” – trong khi ion đồng sở hữu lớp orbital 3d chưa lấp đầy và vì thế “chưa hài lòng”.
Đồng có vai trò luân chuyển các electron ra vào các protein có chứa điện tử, và có vai trò là một gốc tự do (tên gọi cho những phân tử có các electron chưa bắt cặp, những chất này thường phá hủy cơ thể và não bộ). Mặt khác, kẽm là thành phần của hơn 300 loại protein khác nhau và nó không có khả năng luân chuyển electron như đồng. Vì thế, kẽm không tạo ra gốc tự do và thể hiện vai trò cấu trúc một cách bền vững, chắc chắn.
Người ta ước đoán rằng có khoảng hai tỷ người – hơn một phần tư dân số thế giới (năm 2017) – bị thiếu kẽm. Sự thiếu hụt này đặc biệt hay gặp ở người già, gây ra những hậu quả tương tự bệnh Alzheimer. Ví dụ, do kẽm là chất thiết yếu để tổng hợp, lưu trữ và tiết insulin4, nên việc thiếu kẽm làm giảm tín hiệu insulin, một đặc điểm của bệnh Alzheimer. Thiếu kẽm cũng làm tăng nồng độ các tự kháng thể, một nguồn gây viêm; làm tăng sự oxy hóa có tính phá hủy và sự lão hóa; làm giảm tín hiệu hormone và chất dẫn truyền thần kinh; đồng thời làm tăng mẫn cảm với các độc chất – tất cả những tình trạng này đều là đặc trưng trong bệnh Alzheimer hoặc góp phần vào sự sa sút nhận thức dù bệnh nhân không thực sự phát bệnh.
Nồng độ đồng và kẽm trong máu mỗi người xấp xỉ 100 mcgdL (microgram mỗi deciliter), vì thế tỷ số của hai chất thường là 1:1. Tỷ số từ 1,4 trở lên có mối tương quan với bệnh Alzheimer. Tương tự, dù phần lớn đồng trong cơ thể liên kết với các protein như ceruloplasmin, việc biết được nồng độ đồng tự do (đồng không gắn với protein) cũng rất hữu ích. Bạn có thể tính được con số này khá dễ dàng bằng cách xét nghiệm nồng độ đồng, rồi trừ cho nồng độ ceruloplasmin nhân 3. Ví dụ, nếu chỉ số đồng là 120 và ceruloplasmin là 25, chỉ số đồng tự do xấp xỉ bằng 120 – 75 = 45, một con số quá cao. Chỉ số này nên nằm dưới mức 30.
Đo lường mức kẽm trong hồng cầu cho ra kết quả chính xác hơn là kẽm trong huyết thanh. Vì thế, bạn cũng có thể kiểm tra chỉ số này, ngưỡng kết quả nên là 12 đến 14 mgL.
MỤC TIÊU: chỉ số đồng:kẽm = 0,8-1,2; kẽm = 90-110 mcgdL (hoặc kẽm trong hồng cầu = 12-14 mgL).
MỤC TIÊU TÙY CHỌN: chỉ số đồng – 3 x ceruloplasmin ≤ 30.
Magnesium (ma-giê) trong hồng cầu và Ayurveda
Magnesium là chất thiết yếu cho chức năng não bộ. Nếu bạn mắc bệnh Alzheimer (vốn thường gây hậu quả sớm và nặng nề nhất lên vùng hồi hải mã và vùng vỏ não dưới khứu kế cận) thì có khả năng cao là nồng độ magnesium đã giảm thấp trong những cấu trúc não có chức năng củng cố trí nhớ này (gồm một hồi hải mã ở mỗi bên trái, phải).
Tiến sĩ Guosong Liu tại viện công nghệ MIT (sau đó chuyển sang Đại học Tsinghua) đã chỉ ra rằng việc đạt được nồng độ magnesium tối ưu cho chức năng não thường bao gồm bổ sung magnesium vào chế độ ăn. Trong một nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng, Liu và đồng nghiệp của ông đã khám phá được: khi magnesim được vận chuyển đến não bộ bằng cách bắt cặp với một chất dẫn xuất từ amino acid threonine, chức năng nhận thức được cải thiện5.
Khi Guosong đến thăm và gặp gỡ tôi ở UCLA, chúng tôi đã rất ngạc nhiên khi nghĩ về sự trớ trêu của phương pháp tiếp cận mà hai bên đã theo đuổi. Một bên là Guosong, người sinh trưởng ở Trung Quốc, đã phát triển phương pháp đơn trị liệu nhắm trúng đích cấp độ phân tử – một đặc sản của giới khoa học phương Tây. Còn tôi, lớn lên ở Hoa Kỳ, lại phát triển một phác đồ đa trị liệu theo kế hoạch, nghe giống như y học cổ truyền Trung Hoa hay trường phái y học cổ truyền Ấn Độ Ayurvedic.
Cũng như kẽm, việc đo lường magnesium trong hồng cầu, nơi chứa phần lớn magnesium, cho ra kết quả chính xác hơn là đo lượng magnesium trong huyết thanh. Chỉ số này nên nằm trong khoảng 5,2 đến 6,5 mgdL.
MỤC TIÊU: magnesium trong hồng cầu = 5,2-6,5 mgdL.
Selenium - người lính cứu hỏa (và glutathione - nước cứu hỏa)
Trong đại gia đình kim loại, selenium được ví như người lính cứu hỏa. Nó phối hợp với peptide tên là glutathione (ví như nước cứu hỏa) để xử lý các gốc tự do – những phân tử có cặp electron chưa kết đôi và gây phá hủy các màng sinh học, DNA, protein cũng như cấu trúc, chức năng tổng thể của tế bào. Khi bảo vệ và phục hồi các tế bào, bản thân glutathione bị sử dụng hết. Do đó, nó cần được tái tạo không ngừng, giống như lính cứu hỏa cần có nguồn nước liên tục. Nồng độ glutathione thấp góp phần gây ra hiện tượng viêm, nhiễm độc, mất sự hỗ trợ synapse và có thể dẫn đến cả ba tuýp bệnh Alzheimer.
Selenium đóng vai trò cốt lõi trong việc tái tạo glutathione khi chất này cạn kiệt vì quá trình loại bỏ các gốc tự do. Thế nên, không ngạc nhiên khi người ta nhận thấy có sự liên quan giữa việc giảm selenium và sụt giảm chức năng nhận thức6.
CAROL (59 TUỎI) đã chung sống với chứng sa sút khả năng ghi nhớ và tập trung bốn năm nay kể từ lúc bà được chân đoán tại một trung tâm y khoa lớn. Gia đình bà có tiền sử mắc sa sút trí tuệ, bà cũng mang một gen ApoE4 và một gen ApoE3, làm tăng nguy cơ mắc bệnh Alzheimer. Kết quả khám tâm - thần kinh hai năm trước gợi ý bà mắc chứng suy giảm nhận thức nhẹ dạng quên, một tiền đề của bệnh Alzheimer. Chức năng nhận thức của bà tiếp tục sụt giảm và kết quả chụp MRI thể hiện hình ảnh teo não đáng kế ở vùng hồi hải mã. Vùng não này teo đến mức nhỏ hơn 99% kích thước hồi hải mã của những người cùng độ tuổi. Một dấu hiệu báo động ở những người có triệu chứng bệnh Alzheimer.
Việc thăm khám cho thấy sự hiện diện độc tố nắm mốc trong nước tiêu, trong đó có một chất tăng cao gấp 20 lần mức giới hạn trên của ngưỡng bình thường. Vì độc tố nắm mốc thường nhạy với glutathione, bà được điều trị bằng glutathione đường tĩnh mạch (TM) kèm phác đồ ReCODE tiêu chuẩn. Sau mỗi đợt dùng glutathione TM, chức năng nhận thức của bà có cải thiện suốt ngày hôm đó rồi lại tệ đi khi bà thức dậy sáng hôm sau. Tuy nhiên, sau vài tháng, chồng bà và bác sĩ đang điều trị cho bà đều nhận thấy sự tiền bộ nhận thức rõ rệt và ôn định của bà. Điểm số MoCA (Montreal Cognitive Assessment) của bà tăng từ 14 (điểm trung bình của người mắc Alzheimer toàn phát là 16,2) lên 21 (dù chưa thuộc khoảng bình thường là 26-30 nhưng vẫn cho thấy quá trình cải thiện đáng kể và tốt hơn mức trung bình của một bệnh nhân Alzheimer).
MỤC TIÊU: selenium huyết thanh = 110-150 ngml; glutathione (GSH) = 5,0-5,5 micromol.
Các kim loại nặng và Người Thợ Làm Mũ Điên
Các kim loại nặng như thủy ngân là chất độc hại cho hệ thần kinh. Phần lớn chúng ta không nhận biết mình đã từng bị phơi nhiễm chúng. Bạn còn nhớ nhân vật Mad Hatter (người thợ mũ điên) trong phim Alice in Wonderland (Alice ở xứ sở thần tiên) chứ? Tính cách của hắn có nền tảng mang tính lịch sử.
Từ thế kỷ 18 đến mãi thế kỷ 20, những người thợ làm mũ dùng một dạng thủy ngân để làm sạch bộ lông thỏ và lông các loài thú nhỏ khác. Trong quá trình làm ra tấm nỉ, thủy ngân sẽ bay hơi vào không khí. Tình trạng “điên loạn” – nghĩa là mất trí nhớ, trầm cảm, mất ngủ, run rẩy, kích thích và chứng cực kỳ sợ hãi xã hội – thật ra là do ngộ độc thủy ngân.
Mặc dù, ngày nay ít người trong chúng ta là thợ làm mũ, chứ đừng nói đến việc làm mũ có chất thủy ngân, nhưng chúng ta vẫn bị phơi nhiễm thứ kim loại nặng này và những hợp chất của nó khi ăn phải cá có nhiễm độc thủy ngân (Cá càng lớn và sống càng lâu, chúng thường tích lũy càng nhiều thủy ngân. Vì vậy, cá ngừ, cá kiếm, cá orange roughy(*) và cá mập có nguy cơ lớn nhất. Trong khi đó, những loài cá thuộc nhóm 3THM – cá thu, cá trống, cá trích, cá hồi và cá mòi – an toàn hơn).
(*) Một loài cá nhám màu da cam sống ở tầng biển sâu
Loại thủy ngân trên cá là thủy ngân hữu cơ, thường ở dạng methyl thủy ngân (nhóm methyl gồm 1 nguyên tử carbon và 3 hydro), sự kết hợp này xảy ra khi các loài vi sinh vật phản ứng với thủy ngân. Một nguồn thủy ngân khác là amalgams, một loại vật liệu trám răng mà rất nhiều người chúng ta từng được dùng trước đây. Đây là dạng thủy ngân vô cơ. Ta có thể phân biệt dạng methyl thủy ngân và thủy ngân vô cơ khi xét nghiệm máu và nước tiểu. Vì thế, bạn sẽ biết thủy ngân trong cơ thể mình có nguồn gốc chủ yếu từ vật liệu trám răng hay từ việc ăn cá.
Thủy ngân có thể kích hoạt quá trình sinh bệnh điển hình của Alzheimer – sự tạo thành các mảng amyloid-beta và đám rối thần kinh. Chưa dừng lại ở đó, methyl thủy ngân còn phá hủy một phần chất glutathione vốn có vai trò dọn dẹp các gốc tự do.
Arsenic, chì và cadmium cũng có thể tác động đến chức năng não bộ. Mặc dù arsenic (thạch tín) đã có quá khứ tai tiếng khi được mệnh danh là chất độc ưa thích của quý bà nhỏ nhắn, nguồn phơi nhiễm thường gặp là qua nước ngầm, đặc biệt là ở miền Tây nước Mỹ, Đài Loan và vài khu vực tại Trung Quốc.
Gà cũng chứa chất arsenic, nhưng gà nuôi hữu cơ có ít hơn rất nhiều. Việc phơi nhiễm arsenic nồng độ cao kéo dài có liên hệ đến việc suy giảm chức năng thần kinh cao cấp (bao gồm giải quyết vấn đề, lên kế hoạch, khả năng tổ chức và các dạng tư duy trật tự cao khác), giảm sự sắc bén tinh thần, thoái hóa các kỹ năng ngôn ngữ lời nói cũng như chứng trầm cảm7 – đây chính xác là những thiếu hụt xảy ra trong bệnh Alzheimer tuýp 3 (nhiễm độc).
Arsenic còn ảnh hưởng đến trục hạ đồi - tuyến yên - tuyến thượng thận, vốn cũng thường liên quan đến tuýp 3. Một lưu ý khi xét nghiệm nồng độ arsenic, đó là bạn nên tránh ăn hải sản ít nhất ba ngày trước khi xét nghiệm nồng độ arsenic máu, bởi vì hải sản thường chứa những hợp chất arsenic hữu cơ không độc, điều này sẽ dẫn đến kết quả dương tính giả(*).
(*) Dương tính giả là khái niệm để chỉ kết quả xét nghiệm dương tính (hàm ý "có bệnh") ở một người thực sự không bị bệnh.
Nhiều thập kỷ nay, các nhà khoa học đã biết chì có khả năng làm suy giảm chức năng nhận thức, dẫn tới chỉ số IQ thấp ở những đứa trẻ bị phơi nhiễm chì. Các nghiên cứu trên loài gặm nhấm cũng chứng tỏ việc tiếp xúc chì – thường qua dung dịch sơn nhà thế hệ cũ và bụi ở thành phố – cũng làm tăng khả năng tạo amyloid khi cơ thể già đi8. Ở người, các bằng chứng về dịch tễ học và độc chất học đã chỉ ra rằng, chì làm tăng nguy cơ suy giảm chức năng nhận thức do tuổi già9.
Cadmium thường được biết đến với tư cách là chất gây ung thư, hơn là tác nhân gây sa sút trí tuệ. Nghiên cứu trên loài gặm nhấm đã gợi ý rằng kim loại này còn phản ứng với chì và arsenic, thúc đẩy những thay đổi trong não theo hướng bệnh Alzheimer10. Bạn có thể tiếp xúc với cadmium do hút thuốc hoặc làm việc trong các nhà máy hóa chất. Cadmium cũng được dùng trong màu vẽ, đặc biệt là các tông màu đỏ và vàng sặc sỡ – Monet đã dùng thuốc vẽ màu vàng chứa cadmium trong các bức tranh vẽ khu vườn của ông. May mắn là các loại màu vẽ hiện nay đều được xử lý hóa học để hàm lượng cadmium thấp hơn ngưỡng độc rất nhiều.
Có nhiều cách để kiểm tra nồng độ thủy ngân trong cơ thể, nhưng đa số các xét nghiệm thường tương đối kém nhạy. Xét nghiệm thủy ngân được thực hiện qua việc đo nồng độ trong máu, nhưng vì chúng cũng tích lũy ở xương, não và các mô khác, nồng độ trong máu không phải là chỉ dấu có độ nhạy cao. Bạn có thể bị nhiễm độc thủy ngân dù nồng độ kim loại này trong máu không cao.
Xét nghiệm nước tiểu là một chỉ dấu nhạy hơn. Quy chuẩn thông thường là lấy mẫu nước tiểu, với lượng nước tiểu trong vòng 6 tiếng, sau đó thêm vào một hợp chất chelate – loại hóa chất có thể gắn kết chặt chẽ với thủy ngân và lôi kéo kim loại này ra khỏi mô.
Có một loại xét nghiệm rất nhạy có tên Mercury Tri-Test, phát triển bởi Quicksilver Scientific, có thể đo lượng thủy ngân trong tóc, nước tiểu và máu mà không cần dùng hợp chất chelate. Nó không chỉ cho bạn biết liệu nồng độ thủy ngân trong cơ thể có ở ngưỡng gây độc hay không, mà còn chỉ ra nguồn gốc thủy ngân là hữu cơ (từ cá) hay vô cơ (từ vật liệu nha khoa amalgams). Quicksilver còn cung cấp các loại xét nghiệm máu rất nhạy cho các kim loại khác, bao gồm calcium, chromium, đồng, lithium, magnesium, molybdenum, selenium, kẽm, nhôm, antimony, arsenic, barium, cadmium, cobalt, chì, thủy ngân, bạc, strontium và titanium.
Nói về các kim loại, liệu nhôm có thể gây bệnh Alzheimer không? Không ai biết cả. Tuyên bố về việc nhôm gây bệnh Alzheimer từng được đưa ra nhiều năm trước, nhưng các nghiên cứu tiếp nối sau đó không ủng hộ điều này. Mặt khác, các nghiên cứu cũng chưa hẳn là bác bỏ hoàn toàn quan điểm trên.
MỤC TIÊU: thủy ngân, chì, arsenic và cadmium đều < mức bách phân vị 50 (tiêu chuẩn đưa ra bởi Quicksilver); hoặc nồng độ trong máu của các kim loại dựa theo tiêu chuẩn xét nghiệm như sau: thủy ngân < 5mcgL; chì < 2mcgdL; arsenic < 7 mcgL; cadmium < 2,5 mcgL.
Kiểm soát giấc ngủ: Giấc ngủ và Chứng ngưng thở khi ngủ
Chứng ngưng thở khi ngủ rất phổ biến, đa số không được chẩn đoán và góp phần vào sự suy giảm nhận thức. Theo thần thoại Hy Lạp, vị thần giấc ngủ Hypnos là con trai của Nyx (thần Bóng đêm) và Erebus (thần Bóng tối), cũng là cha của các vị thần giấc mơ. Giấc ngủ là một trong những vũ khí lợi hại nhất của lực lượng chống lại Alzheimer. Nhưng trong xã hội siêu cạnh tranh của chúng ta ngày nay, việc thức khuya làm việc dường như trở thành một tấm huy chương danh dự cho những người có khả năng thích nghi với việc chỉ ngủ vài tiếng mỗi đêm.
Giấc ngủ ảnh hưởng đến nhận thức qua nhiều cơ chế chính:
1. Giấc ngủ thay đổi cấu trúc giải phẫu tế bào não, giúp kích hoạt quá trình thanh lọc. Khoảng không gian giữa các tế bào não, gọi là khoảng ngoại bào, tăng lên trong khi ta ngủ, cho phép các ion calcium và magnesium đi qua. Giống như hình ảnh những ngọn sóng trườn lên bãi cát, điều này được cho là giúp gột rửa các chất cặn bã của tế bào, bao gồm cả amyloid.
2. Giấc ngủ cũng liên quan đến sự giảm tạo thành amyloid.
3. Chúng ta không ăn uống khi ta ngủ. Việc nhịn đói này làm tăng độ nhạy cảm insulin.
4. Trong khi ngủ, các tế bào não hoạt hóa chế độ tự tiêu, một quá trình “tự ăn chính mình” nhằm tái chế các thành phần tế bào như những ty thể hư hỏng hoặc các protein bị gấp sai, giúp các tế bào thêm khỏe mạnh. Nếu không có quá trình tự tiêu, các tế bào sẽ tích lũy bào quan đã hư hỏng – việc này cũng giống như lắp một cục pin đã chai để chạy tất cả các thiết bị của bạn. Các tế bào cần những nguồn năng lượng tươi mới và tốt lành, vì thế bạn cần ngủ.
5. Giấc ngủ cũng là thời gian để cơ thể chữa lành. Các hormone tăng trưởng tăng lên khi ta ngủ, giúp sửa chữa tế bào, song song đó các tế bào hỗ trợ cho não bộ cũng được sản sinh, cùng nhiều quá trình sửa chữa khác diễn ra trong giấc ngủ.
Việc thiếu ngủ có thể làm suy giảm nhận thức. Hơn nữa, nó cũng tăng nguy cơ béo phì, đái tháo đường và các bệnh tim mạch – toàn là những yếu tố nguy cơ dẫn đến bệnh Alzheimer. Thiếu ngủ làm ta thèm đồ ngọt, các loại chất béo không lành mạnh và những thực phẩm không tốt khác, điều này càng đẩy hệ thống chuyển hóa đến chiều hướng mắc bệnh Alzheimer.
Ngay cả khi bạn cố gắng ngủ từ 7 đến 8 tiếng mỗi đêm, nếu bạn mắc chứng ngưng thở khi ngủ (nghĩa là bạn có những cơn ngưng thở ngắn xảy ra định kỳ trong khi ngủ, làm cho cơ thể ở trạng thái nửa ngủ nửa thức), bạn cũng không đảm bảo được chất lượng giấc ngủ đủ để các tế bào cơ thể phục hồi. Vì thế, cơn ngưng thở khi ngủ là yếu tố góp phần đáng kể vào sự sa sút nhận thức.
Có hơn 75% các bệnh nhân gặp tình trạng cơn ngưng thở khi ngủ không được phát hiện, một phần bởi vì quá trình chẩn đoán đòi hỏi bệnh nhân phải ở lại bệnh viện một đêm với chi phí trung bình khoảng 3.000 đô la (ở Mỹ). May thay, ngày nay bệnh nhân ở Mỹ có thể được chẩn đoán bệnh lý này bằng một phương pháp thực hiện tại nhà với chi phí vài trăm đô la, ngoài ra còn có những dụng cụ đeo tay có thể phát hiện các cơn ngưng thở khi ngủ.
Nhóm đối tượng có nguy cơ mắc chứng này cao nhất là người ngủ ngáy, nam giới tuổi trung niên trở lên, những người thừa cân, người có chiều cao thấp, người có cổ to và người hay mệt mỏi cả ngày dai dẳng. Bất kỳ ai có triệu chứng suy giảm nhận thức đều cần được tầm soát cơn ngưng thở khi ngủ, bởi vì chứng bệnh này (cũng như các rối loạn giấc ngủ khác) là một yếu tố hoàn toàn có thể khắc phục được.
Việc thăm khám sẽ giúp tính toán chỉ số AHI (apnea-hypopnea index), thể hiện số cơn ngưng thở hoặc “gần như” ngưng thở mỗi giờ. Một số người có thể có chỉ số AHI 100. Thực tế, mức chỉ số bình thường là dưới 5 và mục tiêu điều trị là đưa chỉ số này về 0.
Ngoài ra, nếu bạn không mắc chứng ngưng thở khi ngủ nhưng vẫn thường xuyên cảm thấy buồn ngủ vào ban ngày, hãy đến gặp bác sĩ để tham vấn về hội chứng cản trở đường hô hấp trên (UARS – upper airway resistance syndrome) vì tình trạng này có thể biểu hiện tương tự như cơn ngưng thở khi ngủ, nhưng không thể phát hiện bằng các phương pháp kể trên. Bác sĩ điều trị có thể viết giấy đề nghị cho bạn làm một xét nghiệm khác để chẩn đoán UARS, ví dụ như phương pháp “kiểm tra giấc ngủ có theo dõi áp lực thực quản” hoặc “xét nghiệm độ bão hòa oxy động mạch có độ nhạy cao”.
MỤC TIÊU: chỉ số AHI (apnea-hypopnea index) nhỏ hơn 5 cơn ngưng thở mỗi giờ (lý tưởng là 0).
Cholesterol và các loại chất béo khác
Mỗi người chúng ta đều lo ngại việc bị tăng cholesterol máu.
Việc kiểm tra nồng độ cholesterol máu bắt đầu phổ biến vào thập niên 50 và 60, cùng với những cơn sốt khác như điệu nhảy Twist, vòng lắc hông, xe hơi gắn đuôi cá và quần ống loe. Bằng một cách nào đó, giữa lúc các mốt nhất thời kia đang thịnh hành trong công chúng, hiểu biết đột phá về cholesterol đã làm nên sinh khí cho Dick Clark(*).
(*) Dick Clark là người chủ trì chương trình ca nhạc nổi tiếng thời bấy giờ American Bandstand, người vẫn duy trì được vẻ trẻ trung lúc lớn tuổi và vị thế được gọi là Thiếu niên già nhất nước Mỹ.
Cho đến giờ, chúng ta vẫn quan tâm đến mức cholesterol của mình! Nhưng nút thắt thực tế là đây: có vẻ bài tập lắc vòng hông mang lại nhiều lợi ích hơn là xét nghiệm cholesterol (sau cùng, đây là một cách tập thể dục tuyệt vời). Lý do là vì có nhiều người bị “tăng cholesterol” mà không mắc bệnh lý mạch máu nào, trong khi nhiều người có “mức cholesterol bình thường” lại mắc những chứng bệnh mạch máu nghiêm trọng.
Bản thân bệnh mạch máu là một yếu tố góp phần vào sự sụt giảm nhận thức, vì nó làm tăng nguy cơ mắc Alzheimer và có thể dẫn đến chứng sa sút trí tuệ mạch máu, một tình trạng thường liên quan đến người từng bị nhiều cơn đột quỵ nhẹ.
Thật đáng ngạc nhiên, con số cholesterol thấp lại có liên quan đến sa sút nhận thức nhiều hơn là một con số cao. Khi cholesterol toàn phần giảm thấp hơn 150, bạn có nhiều khả năng bị teo não hơn.
Cholesterol là một thành phần thiết yếu của các màng tế bào, bao gồm tế bào não. Dạng chất mà ta không mong muốn là những phân tử cholesterol bị hư hại và các thành phần lipid của nó – đây mới chính là thủ phạm. Vì vậy, việc xét nghiệm cholesterol toàn phần để đánh giá nguy cơ tim mạch cũng giống như việc đếm số nhân khẩu trong mỗi hộ gia đình để ước tính có bao nhiêu tên tội phạm: dĩ nhiên một vài hộ sẽ có nhiều người nhưng không có tội phạm, trong khi những hộ khác chỉ có ít người nhưng phần lớn là tội phạm.
Chúng ta muốn đếm trực tiếp số tên tội phạm chứ không phải ước đoán từ tổng số nhân khẩu: hãy xét nghiệm chỉ số LDL oxy hóa, LDL trọng lượng thấp hoặc số phần tử LDL, cùng với chỉ số thể hiện mức độ viêm (ví dụ như LDL oxy hóa và hs-CRP đã được nhắc đến ở phần trước).
MỤC TIÊU: LDL-p (phần tử LDL) = 700-1.000; hoặc sdLDL (LDL trọng lượng thấp) < 20 mgdL hoặc < 20% LDL toàn phần; hoặc LDL oxy-hóa < 60 UL; cholesterol toàn phần > 150 (đúng vậy, cao hơn 150, chứ không phải thấp hơn).
Vitamin E
Vitamin E là yếu tố bảo vệ quan trọng cho các màng tế bào. Nó cũng là chất chống oxy hóa có tác dụng chống lại bệnh Alzheimer. Tên gọi “vitamin E” mà chúng ta dùng thực ra là một nhóm các hợp chất với những cái tên như tocopherol và tocotrienol, chúng tương tác với thành phần a-xít béo của màng tế bào, bảo vệ màng không bị phá hủy bởi các gốc tự do. Đây là một trong số rất ít các phân tử đã được chứng minh trong một nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng về vai trò đơn trị liệu, làm giảm sự sa sút nhận thức trong bệnh Alzheimer, dù hiệu quả khá khiêm tốn11.
Có nhiều loại hợp chất tocopherol và tocotrienol trong vitamin E. Bạn có thể biết được tình trạng vitamin E của cơ thể bằng xét nghiệm alpha-tocopherol.
MỤC TIÊU: vitamin E (dưới dạng alpha-tocopherol) = 12-20 mcgml.
Vitamin B1 (Thiamine)
Thiamine – vitamin B1 – có vai trò thiết yếu cho sự tạo thành trí nhớ. Sự thiếu hụt thiamine có liên quan đến việc lạm dụng rượu và suy giảm trí nhớ do thiếu dinh dưỡng, gọi là hội chứng Wernicke- Korsakoff. Nồng độ thiamine có thể sụt giảm nếu bạn dùng thực phẩm có chứa các men ly giải thiamine như trà, cà phê, chất cồn và cá sống (dù nguyên nhân này ít gặp ở người thiếu vitamin B1 mức độ nặng).
Người ta chưa biết rõ liệu thiamine có vai trò trong sự suy giảm nhận thức liên quan bệnh Alzheimer hay liên quan tuổi già hay không. Dù vậy, điều quan trọng là ta cần biết mức thiamine của cơ thể có đủ để duy trì khả năng nhận thức lành mạnh không. Xét nghiệm tốt nhất cho mục đích này là đo lượng thiamine pyrophosphate (TPP) trong hồng cầu.
MỤC TIÊU: thiamine huyết thanh = 20-30 nmolL; hoặc thiamine pyrophosphate (TPP) hồng cầu = 100-150 ngml đối với hồng cầu trong túi máu.
Tính thấm Dạ dày - Ruột (Bệnh rò ruột)
Chỉ từ vài năm trở lại đây, rò ruột mới được xem là một vấn đề y khoa. Thực tế là nó hiện diện rất phổ biến, góp phần gây ra phản ứng viêm và các bệnh lý khác. Đa số chúng ta đều quan tâm đến từng chi tiết để đảm bảo ngôi nhà của mình được an toàn và kín kẽ, ngăn ngừa bọn trộm cắp và súc vật vào nhà (Bạn đã từng bước vào nhà và thấy một con sóc đang ăn thức ăn cho mèo, hay một con rắn cuộn mình dưới sàn nhà chưa?), chống thấm nước và bất cứ sự xâm nhập không mong muốn nào khác. Việc duy trì những hàng rào chặt chẽ trong cơ thể cũng cần thiết y như vậy, bắt đầu từ đường ruột.
Theo lý thuyết, các tế bào lót mặt trong ống tiêu hóa tạo ra các liên kết chặt (là một loại phức hợp protein có chứa phân tử occludin hoạt động như một mối hàn giữa các tế bào). Những liên kết chặt này giữ cho thức ăn nằm trong lòng ruột. Các phân tử tạo ra bởi quá trình tiêu hóa, ví dụ như sự phân hủy protein tạo ra các amino acid, sẽ được vận chuyển vào bên trong các tế bào lót đường ruột và từ đó đi vào máu. Dòng máu đem các chất dinh dưỡng này đến tế bào khắp cơ thể.
Tuy nhiên, bạn hãy tưởng tượng việc ống tiêu hóa bị rò rỉ. Tình trạng có thể xảy ra do cơ địa nhạy cảm gluten, do các hóa chất có tính phá hủy (như trong thuốc trừ sâu), do các loại nước ngọt hoặc chất cồn, đường, thực phẩm chế biến sẵn và các chất bảo quản; cũng như quá trình viêm, stress kéo dài, nấm men và các loại thuốc như aspirin hoặc acetaminophen. Khi đó, không chỉ các amino acid, những loại đường đơn như glucose hoặc fructose và các vitamin có thể đi vào máu, những phân tử lớn cũng vậy.
Hệ miễn dịch nhận diện các phân tử lớn là chất ngoại lai, kích thích phản ứng viêm xảy ra. Vì quá trình viêm là yếu tố cốt lõi dẫn đến bệnh Alzheimer – đặc biệt là tuýp 1 – điều quan trọng là cần cách ly các mảnh protein lớn này không bị rò rỉ khỏi đường ruột vào máu.
Có một lý do nữa để duy trì các liên kết chặt: cấu trúc dạng lỗ của thành ruột cho phép những kẻ xâm nhập như vi khuẩn, vi nấm cùng những phần tử của chúng đi vào máu. Tương tự như trên, hệ miễn dịch của bạn sẽ chiến đấu với chúng. Đôi khi, việc này xảy ra theo hướng gây tổn hại cho chính cơ thể, bởi vì các mô lành trông giống kẻ xâm nhập “trong mắt” các tế bào miễn dịch.
Kết quả đưa đến trạng thái tự miễn dịch – nghĩa là cơ thể xảy ra phản ứng viêm nhẹ nhưng dai dẳng. Trong trường hợp xấu nhất, sẽ xuất hiện các bệnh lý tự miễn dịch như đa xơ cứng, viêm khớp dạng thấp hoặc lupus ban đỏ. Quá trình viêm mãn tính cũng có thể góp phần gây bệnh Alzheimer.
VICKY (16 TUỔI) trước giờ vốn rất khỏe mạnh, cho đến khi em bắt đầu nồi sân ngứa ở da, đau khớp và sưng các đốt ngón tay tái phát nhiều lần, nặng hơn khi trời lạnh. Em tăng cân, có nhiều chu kỳ vô kinh lặp đi lặp lại và khó tập trung khi trò chuyện hoặc học tập. Em đã đến khám tại hai chuyên gia ngành thấp khớp học có tiếng trên thế giới và làm sinh thiết mẫu mô nơi nỗi sân ngứa. Kết quả cho thấy tình trạng viêm mạch máu. Các xét nghiệm xác nhận em mắc lupus ban đỏ và bác sĩ nói em có nguy cơ cao bị lupus mức độ nặng, mãn tính mà hiện tại chưa có cách điều trị.
Vicky đi khám thêm một bác sĩ theo trường phái tiếp cận và điều trị toàn diện (integrative medicine), người phát hiện ra em đồng thời mắc các chứng bệnh rò ruột, mẫn cảm nhiều loại thực phẩm bao gồm chất gluten và các sản phẩm từ sữa, giảm chức năng tuyến giáp, giảm estradiol và đề kháng insulin. Sau nhiều tháng điều trị bằng phác đồ kiêng các sản phẩm từ sữa, phục hồi sức khỏe đường ruột và cân bằng hormone, em trở lại cân nặng bình thường, nồng độ estradiol và chu kỳ kinh nguyệt ổn định, kể cả khả năng tập trung cũng cải thiện.
Các xét nghiệm theo dõi lupus sau đó cho kết quả âm tính. Tuy nhiên, mỗi lần Vicky thử ăn một lượng nhỏ thực phẩm có gluten, em lại bị đau khớp. Vicky vẫn duy trì được sức khỏe tốt mà không có dấu hiệu nào của bệnh lupus cho tới 9 năm kể từ triệu chứng đầu tiên.
Trường hợp một thiếu nữ bị bệnh rò ruột dẫn tới viêm mạch máu, viêm khớp và giảm chức năng hormone (do phản ứng tự miễn dịch xuất phát từ bệnh rò ruột) liên quan gì đến bệnh Alzheimer? Câu trả lời là mọi thứ đều liên quan. Một trong những yếu tố góp phần quan trọng nhất vào Alzheimer là hiện tượng viêm, và một trong những nguyên nhân phổ biến nhất gây đáp ứng viêm toàn cơ thể là bệnh rò ruột.
Vì vậy, điều thiết yếu là bạn cần biết về tính thấm đường ruột của mình. Có nhiều cách để tìm hiểu điều này. Một trong số đó là làm một xét nghiệm có tiêu thụ hai loại đường khác nhau, lactulose và mannitol: mannitol thấm được qua thành ruột một cách tự nhiên, trong khi lactulose thì không – trừ khi thành ruột bị rò rỉ. Sau khi vào máu, một hoặc cả hai loại đường này sẽ xuất hiện trong nước tiểu. Mannitol xuất hiện trong nước tiểu cho thấy đường ruột của bạn hấp thu tốt, nhưng nếu có cả lactulose nữa thì chứng tỏ ruột có rò rỉ.
Một cách khác là bạn có thể đánh giá phản ứng miễn dịch xảy ra trong hệ tiêu hóa khi có một phân tử lọt qua được thành ruột dù bình thường không thể lọt qua. Cơ thể sản xuất các kháng thể chống lại vi khuẩn đi vào máu từ thành ruột bị rò, các kháng thể này tấn công phân tử LPS (lipopolysaccharide) trên bề mặt vi khuẩn. Tương tự, khi xuất hiện các kháng thể chống lại protein trên hàng rào thành ruột – phân tử zonulinoccludin – bệnh rò ruột hình thành.
Các kháng thể này có thể được đo lường qua một xét nghiệm tên là Cyrex Array 2. Do sự mẫn cảm thức ăn có thể dẫn tới bệnh rò ruột, một biện pháp hữu ích là kiểm tra khả năng này qua xét nghiệm Cyrex Arrays 3 và 4 hay bằng cách loại bỏ thức ăn nghi ngờ ra khỏi chế độ ăn, rồi sau đó dùng lại từng loại thực phẩm một để tìm ra loại nào gây các triệu chứng như đau khớp, đầy hơi hoặc đau bụng.
MỤC TIÊU: xét nghiệm Cyrex Array 2 (hoặc các biện pháp khác kiểm tra tính thấm thành ruột) âm tính.
Tính thấm hàng rào máu não
Danh sách các vi khuẩn, virus, nấm và vi sinh vật có hại ngày càng dài ra đối với những bệnh nhân Alzheimer. Đợi đã, gì chứ? Không phải điều đó vốn gặp trong bệnh viêm màng não hay viêm não sao? Việc không đơn giản như vậy. Viêm màng não và viêm não là tình trạng khi vi khuẩn đang hoạt động gây phản ứng viêm, giống như một trận chiến nảy lửa. Sự có mặt một lượng ít các tác nhân bệnh được ví như chiến tranh lạnh – một quá trình bào mòn chậm chạp và mất đi chức năng tối ưu. Tình thế này giống như cảnh giằng co, không bên nào phát động tổng tấn công.
Với một căn bệnh được xem là không lây như Alzheimer, việc tìm ra các tác nhân gây bệnh trong não lôi kéo sự ngạc nhiên lẫn lo ngại. Một vi khuẩn tênPorphyromonas gingivalis (P. gingivalis) được cho là hiện diện trong nhiều bộ não của người mắc Alzheimer khi người ta tìm thấy vài loại protein do vi khuẩn này tạo ra12. Chúng đến từ đâu?
Chính là từ khoang miệng! Các vi khuẩn khác cư trú ở miệng cũng được tìm thấy, bao gồm Fusobacterium nucleatum và Prevotella intermedia. VirusHerpes simplex (HSV) cũng vậy, loại vi khuẩn này có thể tồn tại nhiều năm trong các tế bào thần kinh của hạch sinh ba chi phối cho mặt và môi, cũng là loại sẽ xông ra tấn công khi có tình trạng stress hoặc da cháy nắng, gây ra những vết đỏ da không do viêm. Nó cũng có thể di cư theo dây thần kinh ban đầu vào trong não, gây ra đáp ứng viêm nhẹ và dai dẳng – kiểu như cuộc chiến tranh lạnh – có liên hệ đến bệnh Alzheimer.
Bạn còn nhớ bệnh giang mai không? Nhiều người trong chúng ta đã quên béng một nguyên nhân quan trọng gây sa sút trí tuệ trước cả khi bệnh trở nên dễ chẩn đoán bằng xét nghiệm và điều trị hiệu quả bằng penicillin. Giang mai do vi khuẩn Treponema pallidum gây ra, một loại vi khuẩn có tên gọi khác là “xoắn khuẩn” bởi vì hình dạng xoắn đinh ốc của nó. Treponema có thể sống trong cơ thể hàng thập kỷ, cuối cùng tấn công lên não và gây sa sút trí tuệ nhiều năm sau khi xâm nhập cơ thể lần đầu.
Trong một vài khía cạnh, Alzheimer giống như bệnh giang mai thần kinh của thế kỷ 21. Tuy nhiên, trong khi bệnh giang mai chỉ do một vi sinh vật đơn độc gây ra, quá trình viêm trong bệnh Alzheimer có thể do nhiều vi sinh vật khác nhau gây ra, hoặc thậm chí là do quá trình viêm vô trùng – nghĩa là không do tác nhân gây bệnh, nhưng do yếu tố khác như chế độ dinh dưỡng kém.
Một loại xoắn khuẩn khác gây bệnh Lyme, Borrelia burgdorgeri, cũng được tìm thấy trong bộ não của các bệnh nhân Alzheimer. Vi khuẩn Borrelia tồn tại ở một loài ve ký sinh trên con nai (Ixodes) – vốn phổ biến tại bờ Đông và bờ Tây nước Mỹ, châu Âu, khu vực châu Á ở vĩ độ trung bình và Bắc Phi. Vi khuẩn có thể xâm nhập vào máu khi loài ve này cắn bạn và tiêm vào da nước bọt chứa các xoắn khuẩn này. Hơn một nửa bệnh nhân bị bệnh Lyme cũng bị nhiễm các loài vi sinh vật khác có trên ve, bao gồm Ehrlichia (gây nhiễm cho các bạch cầu), Babesia (họ hàng của ký sinh trùng sốt rét, vốn gây nhiễm cho các hồng cầu) và Bartonella (gây nhiễm trùng các mạch máu). Bộ não của bệnh nhân Alzheimer còn hiện diện các vi nấm.
Như bạn thấy, bộ não bị bệnh Alzheimer cứ như một sở thú đúng nghĩa của các vi sinh vật. Không có một tác nhân đơn độc nào là nguyên nhân gây bệnh như: vi khuẩn Borelia là nguyên nhân gây bệnh Lyme, hay Treponema là tác nhân gây bệnh giang mai. Thay vào đó, vai trò của Alzheimer về cơ bản là đáp ứng có tính bảo vệ trước nhiều tác nhân nhiễm trùng, viêm và gây độc.
Làm cách nào các vi sinh vật này xâm nhập vào bộ não? Thường thì bộ não được bảo vệ bởi hàng rào máu não, nhưng hàng rào này có thể đổ vỡ. Giống như quá trình xảy ra trong bệnh rò ruột, bạn có thể bị rò rỉ hàng rào máu não. Các vi sinh vật có thể vào não từ đường mũi (chắc hẳn những người hít thuốc phiện thấu hiểu điều này nhất), đường ruột (dây thần kinh lang thang đi từ ruột đến thân não) và thậm chí qua mắt. Những tác nhân gây sa sút trí tuệ có thể đi đến não bằng tất cả con đường này.
Trong bệnh Alzheimer, có bằng chứng cho thấy các bất thường tại hàng rào máu não vào giai đoạn rất sớm của bệnh. Hơn nữa, nhiều nghiên cứu đã cho thấy đường vào từ lỗ mũi và các xoang cũng là một yếu tố tiên quyết trong bệnh Alzheimer tuýp 3.
Với tất cả những lý do trên, việc biết được tình trạng hàng rào máu não của người bệnh rất có ích. Xét nghiệm Cyrex Array 20 (giúp đánh giá đáp ứng cơ thể với các protein từ hàng rào máu não bị rò rỉ) có thể cung cấp thông tin này.
MỤC TIÊU: xét nghiệm Cyrex Array 20 âm tính.
Sự mẫn cảm với gluten và các chất khác
Mối liên hệ giữa não - ruột có vai trò thiết yếu đối với sự nhận thức. Dù chỉ 5% dân số mắc bệnh lý ruột non nhạy cảm với gluten (bệnh celiac) – một tình trạng liên quan đến sự bất dung nạp gluten mức độ nặng, nhưng đa số chúng ta có thể bị tổn thương đường ruột do gluten, đặc biệt là tại các liên kết chặt giữa các tế bào.
Chủ đề này được đề cập chi tiết trong cuốn sách bán chạy tên là Grain Brain (Tạm dịch: Não bộ và Ngũ cốc) viết bởi một người bạn và cũng là đồng nghiệp của tôi, bác sĩ David Perlmutter. Vì sự mẫn cảm với gluten có thể gây bệnh rò ruột và điều này (như mô tả ở trên) kích thích đáp ứng viêm mãn tính dẫn đến bệnh Alzheimer, việc đánh giá tình trạng mẫn cảm gluten rất quan trọng.
Có một phương pháp là đánh giá những kháng thể huyết thanh phản ứng với men transglutaminase trong mô. Cách khác là làm xét nghiệm Cyrex Array 3, giúp đánh giá các kháng thể phản ứng với nhiều vị trí khác nhau của hai phân tử tạo nên gluten. Sự mẫn cảm với lúa mạch đen, đại mạch, hạt vừng, yến mạch hoặc gạo – những chất có khả năng gây bệnh rò ruột – có thể được kiểm tra bằng xét nghiệm Cyrex Array 4.
SLIM (74 TUỔI) bắt đầu bị mắt trí nhớ vào năm 67 tuổi. Ông được thăm khám tại hai trung tâm y khoa hàng đầu quốc gia. Bác sĩ thông báo rằng nhiều khả năng ông đã bị bệnh Alzheimer. Mặc dù việc thăm khám khi đó không bao gồm xét nghiệm di truyền, đánh giá quá trình viêm, hình ảnh chụp phim của amyloid, chụp PET hay phương pháp đo thể tích não bằng MRI, ông bắt đầu nhận được thư mời tham gia vào các thử nghiệm lâm sàng thuốc điều trị Alzheimer.
Sau khi trí nhớ và nhận thức của ông sa sút hơn, Slim được đánh giá sâu hơn. Hình ảnh MRI thể hiện sự teo não diện rộng, với thể tích hồi hải mã chỉ ở mức bách phân vị thứ 5 ở độ tuổi của ông. Xét nghiệm Cyrex Array 2 cho thấy ông bị bệnh rò ruột. Xét nghiệm Array 20 cũng dương tính, thê hiện sự rò rỉ hàng rào máu não. Kết quả Array 5 chứng tỏ sự hiện diện của các tự kháng thể: hệ miễn dịch của bệnh nhân đang phản ứng chống lại protein của chính cơ thể, bao gồm các protein của bộ não như protein ái kiềm trong phân tử myelin và menglutamic acid decarboxylase.
Sau khi ông điều trị bằng phác đồ ReCODE một năm, kèm với việc kiêng thực phẩm chứa gluten, các xét nghiệm cho thấy tình trạng rò ruột hay rò hàng rào máu não không còn, chức năng nhận thức của ông không tiếp tục sa sút thêm.
MỤC TIÊU: kháng thể chống lại men transgiutaminase âm tính hoặc Cyrex Array 3 và Cyrex Array 4 âm tính.
Các “tự kháng thể”
Nếu hệ miễn dịch của bạn đang phát động tấn công lên bộ não, như trong trường hợp của Slim, quan trọng là bạn cần nhận biết được điều đó, bởi vì các tự kháng thể - đặc biệt là những loại tấn công lên protein trong não - là những yếu tố góp phần quan trọng vào sự sụt giảm nhận thức. Xét nghiệm Cyrex Array 5 giúp đánh giá một nhóm các tự kháng thể.
MINDY bắt đầu bị bệnh trầm cảm sau khi trải qua phẫu thuật cắt tử cung vào năm 50 tuổi, dù đã điều trị với liệu pháp hormone thay thế. Bốn năm sau, bà bắt đầu thấy khó khăn khi chọn lựa từ ngữ, lái xe, tuân thủ chế độ ăn và những hướng dẫn khác. Bà thấy mình giảm minh mẫn. Sau khi con trai bà dọn khỏi nhà, chứng trầm cảm ngày càng nặng hơn.
Chồng của Mindy nói rằng tâm trạng và nhận thức của bà đều cải thiện đáng kể sau khi bà dành nhiều ngày nghỉ ngơi, nhưng tệ đi nhiều khi bà mất ngủ, bị nhiễm siêu vi hoặc có các tác nhân gây stress khác.
Điểm số MoCA (Montreal Cognitive Assessment) của bà là 19 (khoảng bình thường là 26-30), thể hiện sự sa sút đáng kể, tương ứng như trong bệnh Alzheimer. Kết quả thăm khám tâm - thần kinh cho thấy bà không thê nhớ về tiền căn gia đình mình (điều mà theo họ hàng của bà là không thuộc triệu chứng của sa sút trí tuệ), ngập ngừng khi nói, ngôn từ bà dùng thể hiện ngữ nghĩa nghèo nàn, nói nhiều chỉ tiết không thật (bịa ra câu trả lời để che giấu rằng mình quên) khi được kiểm tra về trí nhớ và không thể ngửi mùi.
Tất cả các triệu chứng chỉ ra sự thiếu hụt chức năng thùy trán - thái dương và thùy đỉnh của não bộ. Kết quả MRI được cho là bình thường nhưng không thê hiện con số đo lường thê tích não. Hình chụp PET có bất thường, cho thầy sự giảm tiêu thụ glucose ở vùng não thùy trán và thùy đỉnh - thái dương, một đặc trưng trong bệnh Alzheimer.
Các xét nghiệm thể hiện sự hiện diện các tự kháng thể chống lại protein tuyến giáp (thyroglobulin) gấp 2.000 lần so với mức bình thường. Bà cũng tăng bổ thể C4a và TGF-B1, là đặc trưng cho sự hoạt hóa hệ miễn dịch bẩm sinh và điển hình trong bệnh Alzheimer tuýp 3. Kiểu gen ApoE của bà là 3/3.
Mindy được điều trị tình trạng CIRS (chronic inflammatory fesponse syndrome — hội chứng đáp ứng viêm mãn tính, vốn có thể bị kích hoạt bởi độc tố nắm mốc, bệnh Lyme hoặc các tác nhân gây bệnh khác) bằng cholestyramine (chất này gắn với các độc tố tại ruột) và VIP (vasoactive intestinal peptide — peptide vận mạch ở ruột, một chất hỗ trợ cho các tế bào thần kinh) đường xịt mũi, kèm theo phác đồ ReCODE. Sau nhiều tháng, bà đã cải thiện triệu chứng rõ rệt: bà có thể đọc và nhớ từng thứ một, làm theo được các chỉ dẫn, có thê định hướng không gian và nhìn chung là sinh hoạt tốt hơn trước nhiều.
MỤC TIÊU: xét nghiệm Cyrex Array 5 âm tính.
Các độc chất, bệnh Alzheimer tuýp 3 và CIRS
Ngạc nhiên thay, các độc chất hóa ra là một nguyên nhân quan trọng của bệnh Alzheimer. Khóa học về độc chất mà tôi từng học ở trường y không trang bị đủ để tôi hiểu được một đại dương độc chất mà chúng ta tiếp xúc mỗi ngày. Chúng ta hít vào độc chất, ăn phải độc chất, hấp thu độc chất qua da, chúng ta cũng sản sinh các độc chất nội sinh, ví dụ như các sản phẩm phụ của phản ứng sinh hóa. Chúng ta phơi nhiễm với các trường điện từ và phóng xạ độc hại. Trong đa số trường hợp, giác quan của ta không cảm nhận được những chất độc này, nên ta thậm chí còn không có cơ hội để tránh chúng. Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy nhiều loại trong đó là những “tác nhân gây sa sút trí tuệ” như tôi từng đề cập ở trên.
Nhiều năm trước, khi các cộng sự cùng tôi lần đầu khám phá ra mối cân bằng giữa quá trình tín hiệu tế bào liên quan sự tạo và duy trì synapse với quá trình tái tổ chức và tái cấu trúc synapse, chúng tôi thiết lập môi trường thử nghiệm về ảnh hưởng của bất kỳ hóa chất nào lên sự cân bằng thiết yếu này.
Nói cách khác, chúng tôi tầm soát tất cả tác nhân gây sa sút trí tuệ và cả những đối trọng của chúng – những hợp chất giúp tăng cường sự tạo mới và duy trì synapse. Chúng tôi lược qua từng loại thuốc đã được Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) chấp thuận cũng như các hóa chất có tiềm năng trở thành thuốc điều trị, xem xét để tìm ra những ứng viên đáng giá giúp dịch chuyển cán cân thăng bằng ở trên theo hướng tích cực (hướng thiên về tạo mới và duy trì synapse) và cả những chất có tiềm năng gây sa sút, tức dịch chuyển cán cân theo hướng tiêu cực.
Thật ngạc nhiên, nhiều loại thuốc statin, nhóm thuốc giảm cholesterol máu được bác sĩ kê toa rộng rãi, có vẻ đã làm cán cân này lệch về phía có hại: chúng làm APP bị phân cắt theo hướng tạo ra “bộ tứ phá hủy” kích thích quá trình chết tế bào13. Thú vị là loại statin gây ra hiệu ứng này mạnh nhất – cerivastatin (trước đây có tên thương mại là Baycol tại Mỹ) – đã bị thu hồi khỏi thị trường vào năm 2001, sau khi liên quan tới hơn 50 ca tử vong trên toàn thế giới và các tác dụng phụ như sự chết tế bào cơ bắp.
Một nhóm các tác nhân gây sa sút khác là độc tố nấm mốc14, được tìm thấy ở nhiều bệnh nhân Alzheimer tuýp 3, tạo bởi các loại nấm mốc nhưStachybotrys, Aspergillus, Penicillium và Chaetomium. Gì cơ? Bệnh Alzheimer là do nấm mốc? Đáng buồn là ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy các loài nấm mốc góp phần vào một vài trường hợp bệnh, nhiều khả năng là có ít nhất 500.000 bệnh nhân bị ảnh hưởng, chỉ tính tại Mỹ. Vì thế, điều nên làm là đánh giá mức độ tiếp xúc với độc tố nấm mốc nếu bạn hoặc bất kỳ thành viên gia đình nào có triệu chứng sụt giảm nhận thức, như những gì tôi sẽ nói ở phần sau.
Trong hai thập kỷ qua, bác sĩ Ritchie Shoemaker đã nghiên cứu những tác động của các độc tố nấm mốc trên hàng nghìn bệnh nhân, như những gì ông đã viết trong cuốn sách xuất bản năm 2010 của mình Surviving Mold: Life in the Era of Dangerous Buildings (Tạm dịch: Chống chọi với nấm mốc – Cuộc sống trong thời đại của những tòa nhà nguy hiểm).
Bác sĩ Shoemaker đã mô tả hội chứng ông đặt tên là CIRS (hội chứng đáp ứng viêm mãn tính – chronic inflammatory response syndrome). Hội chứng này gồm nhiều triệu chứng đa dạng: hen suyễn, mệt mỏi kéo dài, đau cơ-khớp (cơn đau ở các cơ, mô, xương trên diện rộng), chảy máu mũi, nổi mẩn ngứa, khó thở, sụt giảm nhận thức, nhức đầu. Tất cả đều liên quan đến sự hoạt hóa dai dẳng của thành phần lâu đời trong hệ miễn dịch, hay còn gọi là hệ miễn dịch bẩm sinh.
Dưới đây là cơ chế hoạt động của hệ thống này. Bạn hãy tưởng tượng một quả bom phát nổ tại một tòa nhà trong thành phố của bạn. Sự ứng phó khẩn cấp diễn ra ngay lập tức trước khi có bất kỳ thông tin cụ thể nào về kẻ xâm nhập, bao gồm huy động lực lượng đáp ứng ban đầu, đặt lệnh giới nghiêm và phát đi cảnh báo hãy ở trong nhà cho đến khi có những thông tin tiếp theo.
Sau khi các camera quan sát nhận diện được thủ phạm, sự ứng phó có thể tập trung vào chính tác nhân gây ra vụ nổ. Đây chính là cách hệ miễn dịch bẩm sinh của bạn hoạt động. Nó gửi đi các tín hiệu và các tế bào thuộc tất cả các nhóm chức năng để chống lại sự nhiễm trùng. Chỉ đến giai đoạn sau, phần còn lại của hệ miễn dịch (gọi là miễn dịch thích nghi) mới sản xuất ra các kháng thể đặc hiệu nhằm vào tác nhân nhiễm trùng và tiêu diệt chúng. Thông thường, một khi sự nhiễm trùng được chế ngự, cả hai hệ thống đáp ứng miễn dịch sẽ rút lui.
Nhưng gì sẽ xảy ra nếu các camera quan sát không bao giờ nhận diện được thủ phạm? Lệnh giới nghiêm và mức cảnh báo cao trên toàn hệ thống sẽ được duy trì. Đây chính là những gì xảy ra trong CIRS. Hệ miễn dịch bẩm sinh được kích hoạt bởi độc tố nấm mốc hoặc những kẻ xâm nhập khác, thường là suốt nhiều năm, nhưng hệ miễn dịch thích nghi không nhận diện và tiêu diệt được chúng.
Điều gì quyết định việc camera quan sát của cơ thể có hoạt động hay không? Đó là mã di truyền! Đối với 75% dân số chúng ta, các camera ở trong trạng thái “bật”, vì thế chúng ta có sức khỏe tốt. Nhưng với 25% còn lại, các camera bị tắt đi bởi những độc tố nấm mốc (hoặc các tác nhân vi sinh xâm nhập khác như vi khuẩn Borrelia trong bệnh Lyme). Điều này làm cho hệ miễn dịch bẩm sinh bị hoạt hóa kéo dài, tạo ra phản ứng viêm liên tục, kéo tế bào não theo hướng bệnh Alzheimer.
May mắn là chúng ta có thể dễ dàng tìm hiểu xem liệu mình thuộc nhóm 75% hay 25% bằng một xét nghiệm máu di truyền, nhằm tìm ra kiểu gen của protein HLA-DRDQ. Hơn nữa, chúng ta có thể biết liệu hệ miễn dịch bẩm sinh của mình có bị hoạt hóa quá mức hay không bằng những xét nghiệm máu đơn giản như C4a, TGF-β1 và MSH. Ngoài ra, chúng ta có thể làm xét nghiệm nước tiểu để phát hiệu những độc tố nấm mốc nguy hiểm nhất như: trichothecences, ocharatoxin A, aflatoxin và gliotoxin.
MỤC TIÊU: C4a < 2830 ngml; TGF-β1 < 2380 pgml; MSH = 35-81 pgml; HLA-DRDQ không biểu thị xu hướng bị CIRS; xét nghiệm độc tố nấm mốc trong nước tiểu âm tính với trichothecenes, ochratoxin A, aflatoxin và dẫn xuất của gliotoxin.
Chức năng ty thể
Giống như những viên pin nhỏ nhắn, ty thể cung cấp năng lượng cho tế bào thực hiện các chức năng. Chúng chuyển đổi dạng năng lượng trong thức ăn và khí oxy mà bạn hít vào thành phân tử ATP, cung cấp năng lượng cho các tế bào. Cái tên mitochondria có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp với ý nghĩa “chuỗi hạt nhỏ”. Những viên pin tuyệt vời này thực ra là hậu bối của những vi khuẩn xâm nhập vào các tế bào của chúng ta từ hàng triệu năm trước, chúng cư trú lâu dài tại đó và phục vụ cho lợi ích của cơ thể.
Vì có nhiều hóa chất phá hủy ty thể, việc biết được liệu bạn có phơi nhiễm các hóa chất này hay không rất có ích, đặc biệt khi tiếp xúc với lượng nhiều hoặc trong một thời gian dài. Danh sách này bao gồm các kháng sinh (vốn tiêu diệt vi khuẩn, do vậy có thể độc hại với các ty thể vì chúng là hậu bối của vi khuẩn), các thuốc nhóm statin, chất cồn, L-DOPA (thuốc kê toa để điều trị bệnh Parkinson), griseofulvin (thuốc điều trị nhiễm nấm), acetaminophen (Paracetamol), NSAIDs (aspirin, ibuprofen và các thuốc liên quan), cocaine, methamphetamine hoặc AZT (azidothymidine, dùng trong các bệnh nhiễm virus bao gồm HIVAIDS). Ngoài ra, ApoE4 có thể liên quan đến sự phá hủy ty thể.
Không có xét nghiệm máu đơn giản đánh giá được chức năng ty thể, mặc dù có một vài xét nghiệm gián tiếp, ví dụ như xét nghiệm các a-xít hữu cơ. Việc xét nghiệm ty thể ở hiện tại nhằm vào mục đích phát hiện các bất thường ty thể trong bệnh lý nhi khoa, hơn là phát hiện các mảng suy giảm nhận thức. Vì vậy, việc cải thiện thêm các phương pháp xét nghiệm là cực kỳ cần thiết. Cho đến lúc đó, cách tốt nhất để kiểm tra sự biến đổi chức năng ty thể trong chứng sụt giảm nhận thức là dùng những xét nghiệm hơi thở, chụp cộng hưởng từ hạt nhân, giải trình tự DNA ty thể và sinh thiết cơ.
Ở hiện tại, để nhận diện những yếu tố góp phần tiềm tàng vào sự sụt giảm nhận thức, một việc hữu ích là biết được liệu ta có phơi nhiễm các hóa chất gây phá hủy ty thể đã liệt kê ở trên không.
MỤC TIÊU: không có sự phơi nhiễm hóa chất phá hủy ty thể.
BMI (Body Mass Index - Chỉ số khổi cơ thể)
Chỉ số BMI không lành mạnh làm tăng nguy cơ suy giảm chức năng nhận thức. Bạn có thể tìm một công cụ giúp tính chỉ số này trên mạng internet hoặc tự mình tính. Cách làm khá đơn giản, bạn lấy cân nặng của mình (tính bằng đơn vị kilogram) chia cho chiều cao của bạn (tính bằng mét), sau đó chia kết quả thu được cho chiều cao một lần nữa.
Ví dụ: bạn cao 167cm (1,67 mét) và nặng 59 kg, vậy BMI của bạn = 59 chia cho 1,67 là 35,329. Lấy số này chia tiếp cho 1,67 được 21,155 (có thể làm tròn thành 21). Đây là một mức BMI rất tốt: để đạt chỉ số tối ưu đối với chức năng nhận thức, BMI nên nằm ở khoảng 18 đến 25.
BMI lớn hơn 26, đặc biệt là trên 30, làm tăng nguy cơ mắc đái tháo đường tuýp 2, điều này gia tăng nguy cơ bệnh Alzheimer. Thời điểm viết cuốn sách này, chúng tôi vẫn chưa hiểu rõ nguy cơ của những người có BMI nhỏ hơn 18, có thể những chỉ số thuộc nhóm này liên quan đến tình trạng hormone và dinh dưỡng chưa tối ưu, vì thế mục tiêu là duy trì BMI trong khoảng 18 đến 25.
Tuy nhiên, BMI không phải là dấu chỉ tốt nhất cho tình trạng chuyển hóa. Tình trạng mỡ ở cơ quan nội tạng (mà bạn có thể đo được nhờ các công cụ chẩn đoán hình ảnh như siêu âm hoặc chụp MRI) là một chỉ dấu chính xác hơn, đặc biệt là mỡ ở trong gan. Bạn có thể biết được thông tin này qua những thiết bị phân tích thành phần cơ thể. Mục tiêu bạn cần hướng tới là có chỉ số Tanita tầm 1-12. Một chỉ dấu tốt khác cho tình trạng chuyển hóa là số đo vòng eo: vòng eo nên nhỏ hơn 89 cm ở nữ giới và nhỏ hơn 102 cm ở nam giới.
MỤC TIÊU: BMI = 18-25; vòng eo < 89 cm (ở nữ) hoặc < 102 cm (ở nam).
Di truyền
Tính di truyền có tác động đến nguy cơ của bệnh Alzheimer, nhưng số phận căn bệnh này không hề được quyết định sẵn trong DNA của bạn. Thay vào đó, bạn đang kiểm soát số phận của mình nhiều hơn mức bạn tưởng. Để kiểm soát tối ưu, bạn cần biết về tình trạng di truyền của mình: một lý do đơn cử, có các chế độ ăn tối ưu khác nhau dành cho người có gen ApoE4, so với những người không mang gen này.
Nhiều người trong chúng ta ngờ vực việc xét nghiệm di truyền. Việc tìm hiểu về DNA của bản thân có thể gây lo sợ. Tuy nhiên, bạn hãy nhớ rằng, xét nghiệm di truyền có thể là một công cụ hỗ trợ đắc lực, giống như ví dụ trên về ApoE và chế độ ăn. Bạn có thể giải trình tự bộ gen của mình với chi phí tầm 1.600 đô la Mỹ. Bạn cũng có thể giải trình tự gen của các exon (những đoạn gen mã hóa cho các protein) với chi phí khoảng 600 đô la. Đơn giản bạn cũng có thể biết được mình có bao nhiêu bản sao của gen ApoE4 (0, 1 hay 2).
Ở Mỹ, bạn có thể thực hiện xét nghiệm tại một công ty tên là 23andMe, nơi đánh giá một số lượng lớn các đoạn SNP (single nucleotide polymorphirms – đoạn gen đa hình đơn nucleotide, là những biến thể của các gen trong cơ thể). Tuy nhiên, khi tôi viết những dòng này, 23andMe đã ngừng cung cấp dịch vụ đọc kết quả xét nghiệm các gen liên quan sức khỏe bao gồm ApoE (họ vẫn cung cấp dịch vụ cho vài thông số khác như đọc xét nghiệm gen quy định màu mắt). Vì thế bạn cần yêu cầu họ gửi một tập tin kết quả xét nghiệm của mình, có thể qua dạng file nén (zip file) bằng đường email, rồi đem đến website có dịch vụ phân tích kết quả như Promethease hoặc MTHFR Support. Có khoảng 15% số trường hợp xét nghiệm của 23andMe không nhận dạng được tình trạng gen ApoE. Và 23andMe cũng không xét nghiệm được tất cả các biến thể gây bệnh của mỗi gen liên quan đến Alzheimer.
Vào tháng 4 năm 2017, Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã cấp phép lưu hành cho 10 loại xét nghiệm của 23andMe, bao gồm một xét nghiệm đánh giá nguy cơ mắc bệnh Alzheimer dạng khởi phát muộn thông qua tình trạng ApoE.
MỤC TIÊU: biết được tình trạng gen ApoE của bạn.
MỤC TIÊU TÙY CHỌN: biết được tình trạng của tất cả các đoạn SNP liên quan quá trình thoái hóa thần kinh, như APP, PS1, PS2, CD33, TREM2, CR1 và NLRP1.
Xét nghiệm tâm - thần kinh định lượng
Việc biết được bạn đang ở đâu xét trên khả năng ghi nhớ và các khía cạnh khác của chức năng nhận thức – như tổ chức, tính toán và nói – có một ý nghĩa thiết yếu. Có nhiều cách để làm việc này. Đơn giản nhất là đánh giá bằng trắc nghiệm lượng giá MoCA (Montreal Cognitive Assessment), được cung cấp miễn phí trên mạng và chỉ tốn chừng mười phút để thực hiện (bản tiếng Anh: https://www. mybraintestorgdl2/moca-test-english-7-1.pdf)(*).
(*) Đường dẫn gốc trong nguyên tác (http://demetiaieimagesuploadssite-imagesMoCA- Test-English_7_1.pdf) không còn truy cập được tại thời điểm dịch sách. Người dịch đã thay thế bằng đường dẫn khác có tài liệu tham khảo tương tự (2018).
Trắc nghiệm này có ba phiên bản, bạn có thể làm lại mà không cần lo lắng về kết quả nếu có cải thiện do trùng lặp câu hỏi bạn đã từng làm. Điểm số MoCA bình thường là từ 26 đến 30. Số điểm từ 19 đến 25 liên quan đến tình trạng suy giảm nhận thức nhẹ (MCI). Số điểm từ 19 đến 22, nếu kèm với việc bệnh nhân có khó khăn trong những sinh hoạt, thường cho thấy tình trạng MCI đã chuyển sang sa sút trí tuệ, có thể là do bệnh Alzheimer hoặc một nguyên nhân khác. Còn số điểm dưới 19 thể hiện tình trạng sa sút rõ rệt.
Có những bài trắc nghiệm đơn giản khác như Trắc nghiệm Chức năng Tâm thần Mini (Mini-Mental State Examination – MMSE) hoặc Trắc nghiệm Tự lượng giá Chức năng Nhận thức Người lớn tuổi (Self- Administered Gerocognitive Examination – SAGE). Nhưng so với MoCA, độ nhạy của chúng không cao đối với những thay đổi sớm, vì thế sẽ có ích hơn khi áp dụng cho những bệnh nhân ở mức độ nặng.
Những trắc nghiệm này (bao gồm MoCA) đánh giá nhiều chức năng nhận thức, nhiều vùng của bộ não. Nhưng vẫn có những phương pháp lượng giá toàn diện hơn (một số có sẵn trên mạng internet) có độ nhạy cao hơn, giúp phát hiện những biến đổi mới xảy ra và cho phép phân tích cụ thể hơn chức năng của não. Nhóm này bao gồm CNS Vital Signs, BrainHQ, Dakim, Lumosity và Cogstate, tất cả chúng đều cho ra kết quả theo mức bách phân vị (tức là nói lên bạn đang hơn x % số người trong một dân số nào đó) cho nhiều vùng chức năng của não.
Những chuyên gia về tâm - thần kinh có thể tiến hành nhiều bài kiểm tra toàn diện hơn, đánh giá sâu hơn nhiều nhóm chức năng nhận thức. Nhưng những đánh giá này có thể tốn nhiều giờ và làm bạn căng thẳng. Vì thế, nhiều người muốn tránh tình trạng căng thẳng có tiềm năng gây hại này và dùng một phương pháp kiểm tra ngắn hơn thay thế, như những gì tôi đề cập ở trên.
MỤC TIÊU: biết được khả năng nhận thức của mình so với phần trăm dân số có cùng độ tuổi hoặc thực hiện trắc nghiệm MoCA (với điểm số tuyệt đối 30/30).
MỤC TIÊU TÙY CHỌN: thực hiện bài kiểm tra toàn diện chức năng tâm - thần kinh và biết được mức bách phân vị của nhiều nhóm chức năng nhận thức.
Hình ảnh học, dịch não tủy và sinh lý điện thần kinh
Bộ não của bạn trông ra sao? Việc chụp phim não có thể cho thấy những vùng bị teo và những vùng đang tiêu thụ ít năng lượng hơn, dẫn đến hoạt động ít hơn (nếu có). Phim chụp MRI cùng với việc đo thể tích não cung cấp dữ liệu thô để những phần mềm như Neuroreader và NeuroQuant dùng tính toán mức bách phân vị – một lần nữa, đây là con số cho biết thể tích hồi hải mã của bạn cao hơn x % những người có cùng độ tuổi.
Ví dụ, Neuroreader tính toán được chỉ số này ở 39 vùng não khác nhau. Bất kỳ ai có triệu chứng suy giảm nhận thức, dù ở giai đoạn sớm cỡ nào, cũng nên được chụp MRI và đo thể tích não. Và bất cứ ai có nguy cơ cao, ví dụ như có tiền căn gia đình đáng lưu ý hoặc mang gen di truyền – cũng nên cân nhắc chụp MRI. Với những người không có triệu chứng và không thuộc nhóm nguy cơ cao, MRI là một tùy chọn.
Chụp PET (positron-emission tomography – chụp cắt lớp positron) thường có ích khi chẩn đoán chưa chắc chắn, ví dụ khi không có cách nào khác để phân biệt giữa sa sút trí thuệ thùy trán - thái dương và bệnh Alzheimer. Đối với vế sau, phương pháp chụp FDG-PET cho thấy đặc điểm của sự giảm chuyển hóa glucose tại vùng não thùy đỉnh - thái dương, thường bao gồm vỏ não vùng hồi đai sau và hồi trước chêm, vốn là vùng hay bị tổn thương trong bệnh Alzheimer.
Chụp PET amyloid có thể thấy được sự tích tụ amyloid trong não. Nhưng vì hiện tượng này có thể xảy ra trên người không có bệnh Alzheimer và ngược lại, một người có đặc điểm sa sút trí tuệ giống bệnh Alzheimer có thể không có tích tụ amyloid, thế nên lợi ích của phương pháp này còn chưa rõ ràng.
Trên thực tế, nhiều nghiên cứu đang tiến hành đều có mục đích làm rõ vấn đề này. Nếu bạn chợt nhận ra phim chụp PET của mình có sự hiện diện amyloid trong khi bản thân không có triệu chứng nào, khuyến cáo đưa ra là bạn nên nghiêm túc cân nhắc việc phòng bệnh. Tuy nhiên, sự tích lũy amyloid không liên quan mật thiết đến vùng não có triệu chứng bệnh: ví dụ, hình ảnh cho thấy amyloid tích tụ vùng thùy trán (nơi điều khiển hành vi, thực hiện chức năng điều hành và nhiều thứ khác), nhưng triệu chứng chủ yếu của bệnh nhân là mất trí nhớ, vốn liên quan đến thùy thái dương. Ngược lại, có một phương pháp chụp PET mới – tau PET – có khả năng thể hiện những bất thường liên quan chặt chẽ với triệu chứng lâm sàng.
Dịch não tủy (DNT, lấy từ kỹ thuật chọc dò thắt lưng) cũng là một lựa chọn, nhưng chỉ hữu ích khi bác sĩ còn nghi ngờ chẩn đoán. Trong bệnh Alzheimer có sự sụt giảm đặc trưng chất amyloid-beta 42 trong DNT kèm tăng protein tau toàn phần và phospho tau.
EEG (điện não đồ), một xét nghiệm tùy chọn khác, có thể rất ích lợi trong việc đánh giá xem liệu có dấu chứng của hoạt động động kinh hay không. Mặc dù động kinh chỉ xảy ra ở 5% số người bệnh Alzheimer, nhưng EEG có thể phát hiện hoạt động động kinh khi người bệnh thậm chí chưa từng bị giật cơ hoặc biểu hiện những triệu chứng bên ngoài của cơn động kinh (đây được gọi là thể động kinh không co giật). Đối với các trường hợp này, thuốc chống co giật (chống động kinh) có thể được kê toa cho bệnh nhân.
MỤC TIÊU: hình chụp MRI não kèm chỉ số thể tích não bình thường, cho thấy không vùng não nào bị teo.
MỤC TIÊU TÙY CHỌN: phương pháp FDG-PET âm tính, chụp PET amyloid âm tính vàhoặc EEG bình thường, không có hoạt động động kinh hoặc chậm dẫn truyền.
Những xét nghiệm tân tiến và sắp-sửa-xuất-hiện giúp đánh giá sự suy giảm nhận thức
1. Các túi chứa mảnh vụn (exosomes) của tế bào thần kinh
Một lĩnh vực mới mẻ và đầy lý thú trong mảng xét nghiệm đánh giá bệnh Alzheimer, nguy cơ mắc Alzheimer và đáp ứng điều trị là hệ gen exosome – những mảnh phần tử tế bào và vật chất ly giải từ đó. Lĩnh vực này có thể ví như Chén Thánh (một báu vật vô giá mang lại quyền năng cho người sử dụng) của ngành thần kinh học: một cách đơn giản để đánh giá tín hiệu hóa học và thần kinh của bộ não qua xét nghiệm máu. Sao có thể như vậy? Làm sao chúng ta có thể hiểu về tín hiệu não bộ bằng cách phân tích máu? Nào, bạn hãy tưởng tượng bạn là một thám tử tư và bạn muốn biết điều gì đang diễn ra trong một tòa nhà kín cổng cao tường kia. Bạn không thể đột nhập, nhưng bạn cần biết có gì đang xảy ra ở đó. Vậy bạn làm gì? Bạn đành lục lọi đống rác thải ra từ tòa nhà, đúng không?
Bộ não – cấu trúc kín kẽ gần như không thể xâm nhập – thải đi các exosome thần kinh, mảnh vụn và chất tiết từ các tế bào vào dòng máu. Những mảnh vụn và vật chất tế bào li ti này có kích thước trung bình khoảng 1/17 chiều rộng một tế bào hồng cầu. Có rất nhiều phân tử exosome trong máu, con số lên đến hàng tỷ phân tử trong mỗi 30 ml máu! Vậy nên, vấn đề ở đây thực sự thú vị: bạn có thể lấy một ít máu, phân tách thành phần exosome thần kinh, rồi đo nhiều chỉ số hóa sinh thiết yếu của não. Đây chính là những gì bạn cần biết để xác định nguy cơ suy giảm nhận thức, dù bạn mắc bệnh Alzheimer tuýp 1, 2 hay 3. Quan trọng hơn, đánh giá xem chương trình điều trị đang có tác dụng hay cần điều chỉnh.
Giáo sư Edward Goetzl và cộng sự tại Đại học California, thành phố San Francisco và Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ đã tìm thấy dấu chứng bệnh Alzheimer trong các exosome thần kinh, bao gồm sự tăng amyloid-beta và protein tau có gắn gốc phospho.
Họ cũng tìm thấy dấu chứng của sự đề kháng insulin trong các exosome thần kinh của bệnh nhân Alzheimer và phát hiện ra quá trình này có thể đã diễn ra suốt một thập kỷ cho đến lúc căn bệnh Alzheimer được chẩn đoán. Những khám phá này nhiều khả năng chỉ mới là phần nổi của tảng băng về exosome. Cách tiếp cận này có tiềm năng trong việc đánh giá các cơ chế của chất dẫn truyền thần kinh, quá trình tín hiệu của hormone và các yếu tố hướng nội tiết, tác động của vitamin lên chức năng thần kinh, ảnh hưởng của chấn thương, sự tắc mạch, các đáp ứng với điều trị và nhiều dấu chứng hóa sinh khác trong não. Bạn có thể hiểu tại sao tôi đam mê phương pháp tiếp cận này đến vậy.
Tôi tham gia hội đồng cố vấn khoa học cho một công ty mới thành lập, NanoSomiX. Tại đó, tôi hợp tác với Giáo sư Goetzl, khảo sát các exosome. Khi xét nghiệm này có mặt trên thị trường, nó sẽ giúp biết được nồng độ các exosome thần kinh mã hóa cho protein amyloid-beta 42 (có liên quan chính yếu trong bệnh Alzheimer), phospho tau, cathepsin D (một loại men phân giải chất đạm mà exosome mã hóa cho nó tăng lên ở bệnh nhân Alzheimer), REST (thể hiện nồng độ các chất hỗ trợ) và tỷ số phosphoryl hóa của chất IRS-1 (thể hiện sự đề kháng hay nhạy cảm insulin).
MỤC TIÊU: nồng độ exosome thần kinh của các protein amyloid- beta 42, phospho tau, cathepsin D, REST và tỷ số phosphoryl hóa IRS- 1 bình thường.
2. Chụp hình võng mạc
Một cách tiếp cận mới đầy thú vị để khảo sát sớm và đánh giá nguy cơ suy giảm nhận thức là chụp hình võng mạc. Mặc dù bạn có thể chụp hình amyloid trong não bằng PET amyloid, nhưng phương pháp này chỉ phát hiện những vùng tích tụ amyloid tương đối nhiều. Nó không thể hiện được liệu amyloid có hiện diện trong các mạch máu hay không, và cũng không giúp nhận diện những biến đổi xảy ra nhanh chóng trong các mảng amyloid.
Nằm phía sau nhãn cầu, võng mạc là một phần mở rộng của bộ não. Do đó, nó phản ánh phần nào quá trình diễn ra trong não. Điều này làm việc khảo sát các mảng amyloid trong võng mạc trở thành hướng tiếp cận rất tiềm năng. Ta có thể nhận diện rất nhiều, thường là hàng trăm mảng lắng đọng rất nhỏ, lập bản đồ cho chúng rồi theo dõi sau điều trị để xem liệu số mảng lắng đọng có giảm không.
Với chi phí vài trăm đô la thay vì vài nghìn, chụp hình võng mạc ít tốn kém hơn nhiều so với chụp PET amyloid cho bộ não. Nó cũng giúp nhận diện các mảng lắng đọng nhỏ hơn, có thể đóng vai “thang so sánh” kết quả điều trị tốt hơn, đồng thời cũng có tiềm năng phát hiện liệu amyloid có ảnh hưởng đến mạch máu võng mạc chưa (vì sự liên hệ với bộ não, tình trạng của mạch máu võng mạc cũng giúp đánh giá amyloid trong mạch máu não), ngoài tác động lên các neuron và synapse. Việc này có ý nghĩa quan trọng, vì trong vài ca hiếm gặp, amyloid trong mạch máu có thể dẫn đến xuất huyết (chảy máu). Khi đó, ta cần thận trọng và tránh dùng các thuốc làm loãng máu như dầu cá hoặc aspirin.
NeuroVision Imaging, đồng sáng lập năm 2010 bởi bác sĩ ngoại thần kinh Keith Black tại bệnh viện Cedars-Sinai và doanh nhân Steven Verdooner, cung cấp dịch vụ và thiết bị chụp hình võng mạc. Khi tôi viết những dòng này, công ty này đang tiến hành những thử nghiệm lâm sàng để tìm hiểu liệu cách tiếp cận này có thể phát hiện sớm bệnh Alzheimer và theo dõi đáp ứng điều trị hay không.
MỤC TIÊU: hình chụp võng mạc các mảng amyloid âm tính (hoặc trong giới hạn bình thường).
2. Chụp hình võng mạc
Một trong những xét nghiệm hữu ích nhất để khảo sát tình trạng mất trí nhớ ở những chú chuột thí nghiệm là phương pháp nhận diện vật thể lạ (novel object recognition – NOR). Hãy tưởng tượng bạn thức dậy vào sáng hôm sau và ngạc nhiên khi thấy một chiếc xe hơi thể thao màu đỏ cáu cạnh ở nơi đỗ xe của mình. Có lẽ là bạn sẽ nấn ná một lúc để nhìn, sờ, ngồi vào chiếc xe vì nó mới cáu và mang lại cảm giác mới mẻ khi vừa phát hiện một thứ gì đó trong thế giới của bạn.
So với chiếc xe này, những vật dụng quen thuộc như chiếc xe cũ bạn đang đi sẽ ít thu hút sự chú ý và thời gian của bạn hơn. Tuy nhiên, nếu bạn không có trí nhớ, bạn sẽ không thể nhận ra chiếc xe mới này là mới, vì mọi thứ với bạn đều có vẻ mới. Các con chuột thí nghiệm cũng vậy. Những con có trí nhớ tốt dành nhiều thời gian hơn với các đồ vật mới, trong khi những con có trí nhớ kém hơn không như vậy. Vì thế, việc kiểm tra khả năng nhận diện đồ vật mới là cách nhiều phòng thí nghiệm khảo sát những biến đổi liên quan đến bệnh Alzheimer của bộ não chuột và đánh giá các phương án điều trị.
Ví dụ, nghiên cứu đã chỉ ra sự phá hủy vùng sâu thùy thái dương giữa làm giảm khả năng ghi nhớ và nhận diện đồ vật nào ở xung quanh là mới, một tình trạng xảy ra sớm trong bệnh Alzheimer.
Hiện tượng ưu tiên cho sự mới mẻ dựa trên trí nhớ này cũng có thể theo dõi trong dân số. Vào năm 2016, Neurotrack phát hành Bài
Kiểm tra Nhận thức Ghi khắc (Imprint Cognitive Assessment Test), một phương pháp đánh giá nhận thức thị giác qua giao diện web kéo dài năm phút nhờ vào việc theo dõi chuyển động mắt, phát hiện những vật thể hoặc các kích thích mà con người nhìn nhận là mới. Vì thế, nó phát hiện tổn thương ở hồi hải mã và các vùng não lân cận giúp nhận diện những người có rối loạn chức năng vùng não này và có thể biểu hiện quá trình sinh lý bệnh của Alzheimer.
MỤC TIÊU: sự ưu tiên chú ý các đồ vật mới ở mức bình thường.
3. Neurotrack và thùy thái dương giữa(nhận diện vật thể lạ)
Sự thiết yếu của các xét nghiệm đối với việc nhận diện các yếu tố hóa sinh và di truyền có thể góp phần gây suy giảm nhận thức, tương tự như tầm thiết yếu của tiền căn sinh hoạt đối với việc gợi ý nguyên nhân gây ra tình trạng này. Vì thế, thông tin quan trọng cần biết là liệu bạn có đang hoặc từng:
◆ bị chấn thương đầu
(Bạn có từng bị té và ngất đi chưa? Hay từng bị tai nạn giao thông? Hay chơi các môn thể thao va chạm?)
◆ được gây mê toàn thân (và bao nhiêu lần)
Trong gây mê toàn thân, việc sử dụng một vài chất gây mê có độc tính kết hợp với tình trạng oxy hóa máu không tối ưu ảnh hưởng đến chức năng não.
◆ trám răng bằng amalgams
Vật liệu này làm bạn phơi nhiễm thủy ngân vô cơ.
◆ ăn các loại cá chứa nhiều thủy ngân
Điều này làm bạn phơi nhiễm thủy ngân hữu cơ.
◆ dùng vài loại thuốc nhất định (đặc biệt là những thuốc tác động lên não như benzodiazepines với tên gọi Valium, thuốc chống trầm cảm, thuốc huyết áp, thuốc nhóm statin, thuốc ức chế bơm proton hoặc kháng histamine)
◆ dùng thuốc
◆ uống bia, rượu (và bao nhiêu)
◆ hút thuốc lá
◆ giữ vệ sinh răng miệng tốt
Vệ sinh răng miệng kém có thể gây ra quá trình viêm.
◆ có vật liệu cấy ghép y khoa (ví dụ khớp hông hoặc mô vú nhân tạo)
◆ mắc các bệnh tim, phổi, thận, gan
◆ ngủ ngáy
Điều này gợi ý khả năng mắc chứng cơn ngưng thở khi ngủ.
◆ dùng các loại dầu chế biến bằng nhiệt độ cao (như dầu cọ) Những loại dầu này mất đi một phần vitamin E trong quá trình chế biến bằng nhiệt và do đó có thể gây hại cho não.
◆ dùng các thức ăn chứa nhiều chất béo chuyển hóa (trans-fat) hoặc carbohydrate đơn
Những loại này gây ra nhiều tác động như phá hủy mạch máu và đề kháng insulin.
◆ có bệnh xoang mãn tính
Có thể điều này cảnh báo bạn có tiếp xúc nấm mốc và những độc tố của chúng.
◆ có bất thường hệ tiêu hóa như đầy hơi hoặc tiêu chảy tái đi tái lại
Điều này có thể gợi ý bạn bị bệnh rò ruột.
◆ có nấm mốc trong nhà, xe hơi hoặc nơi làm việc
Phần lớn mọi người không nhận ra việc tiếp xúc với nấm mốc là một yếu tố nguy cơ gây suy giảm nhận thức.
◆ dùng thực phẩm chế biến sẵn và không có nguồn gốc hữu cơ Điều này góp phần gây tình trạng đề kháng insulin và sự tiếp xúc với độc chất.
◆ bị ve cắn
Những loài ve mang trên mình hơn 70 tác nhân gây bệnh khác nhau, như Borrelia gây bệnh Lyme, và phản ứng viêm do những tác nhân này có thể góp phần vào sự suy giảm nhận thức.
◆ dùng thuốc ức chế bơm proton để điều trị trào ngược dạ dày Nhóm thuốc này làm giảm a-xít dạ dày vốn cần cho quá trình tiêu hóa, vì thế làm giảm hấp thu chất kẽm và vitamin B12 cùng với các chất dinh dưỡng khác.
◆ dùng các sản phẩm trang điểm, dung dịch xịt tóc hoặc chất chống đổ mồ hôi
Việc này liên quan đến sự tiếp xúc các độc chất.
◆ bị táo bón (nhu động ruột cũng là yếu tố giúp loại bỏ các chất độc)
◆ không uống đủ nước tinh khiết (việc đi tiểu cũng giúp thải các độc chất)
Bất cứ yếu tố nào kể trên đều có thể góp phần vào sự suy giảm nhận thức. Khi có ít nhất 36 lỗ dột trên mái nhà – tượng trưng cho 36 yếu tố gây ra phản ứng phá hủy synapse, việc cần làm là chọn ra những yếu tố cần ưu tiên giải quyết trước. Giống như các xét nghiệm mô tả ở trên, tiền sử y khoa và cá nhân của bạn có thể giúp nhận diện điều này.
Yếu tố tài chính
Các xét nghiệm kể trên tốn kém bao nhiêu? Tùy vào mức bảo hiểm y tế của bạn, số tiền phải trả có thể rất lớn hoặc không đáng kể. Ví dụ, nhiều chính sách bảo hiểm chi trả cho các xét nghiệm như hemoglobin A1c, homocysteine và CRP. Nhìn chung, việc chăm sóc y tế tập trung nhiều vào khâu ứng phó khi có bệnh hơn là phòng bệnh. Vì thế, những tổ chức như Medicare (chính sách bảo hiểm y tế công lập của chính phủ Mỹ) có thể chi trả nhiều xét nghiệm hơn trong tương lai khi giá trị lâm sàng và khoa học của các xét nghiệm này được minh chứng rõ ràng hơn. Do đó, chi phí đồng chi trả của bệnh nhân có thể rơi vào tầm vài trăm đến hơn 1.000 đô la tại Mỹ.
Tuy nhiên, khi cân nhắc ảnh hưởng của suy giảm nhận thức lên bệnh nhân và gia đình họ, chưa kể là chi phí chăm sóc điều dưỡng một khi Alzheimer đã toàn phát, tôi tin chắc rằng việc đầu tư vào khâu phòng bệnh và giải quyết tình trạng suy giảm nhận thức là một việc làm rất đúng đắn. Hy vọng là khi có nhiều người bệnh phục hồi tình trạng suy giảm nhận thức nhờ vào việc làm các xét nghiệm kể trên và điều trị theo phác đồ ReCODE, các công ty bảo hiểm sẽ bắt đầu chi trả cho những xét nghiệm thiết yếu này.
Tóm tắt: Tầm soát nhận thức
Hãy cùng tóm tắt những gì bạn cần biết về việc tầm soát chức năng nhận thức, điều mà tôi khuyến cáo thực hiện cho tất cả mọi người từ 45 tuổi trở lên. Điều này nghe có vẻ ám ảnh khi bạn đọc về chúng lần đầu. Trong thực tế, đây là danh sách khá rõ ràng: việc phối hợp các xét nghiệm máu, xét nghiệm di truyền, bài kiểm tra nhận thức lược giản trên mạng internet, cùng với việc chụp MRI kèm tính thể tích não bằng phần mềm tự động có thể cung cấp những thông tin thiết yếu về nguyên nhân gây suy giảm nhận thức hoặc làm tăng nguy cơ mắc tình trạng này.
Về cơ bản, các nội dung tầm soát nhận thức giúp phát hiện những quá trình gây hại synapse đang diễn ra trong não, và những quá trình duy trì synapse không được kích hoạt đầy đủ, dẫn tới sự mất synapse, từ đó là mất khả năng ghi nhớ và nhận thức. Điều này hoàn toàn tương phản với những xét nghiệm đang dùng hiện nay cho bệnh nhân suy giảm nhận thức. Gần như không có loại nào trong số đó chỉ ra một hoặc các nguyên nhân ẩn phía dưới.



