Tạm Biệt Alzheimer

Lượt đọc: 51 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 4. Bệnh Alzheimer xuất hiện như thế nào: Mồi lửa

❊ ❊ ❊

Bệnh nhân: Thưa bác sĩ, tôi thật khổ sở khi phải làm điều này.

Bác sĩ: Vậy thì đừng làm thế

Có ai muốn bản thân mình mắc bệnh Alzheimer đâu? Tất nhiên là trong thực tế bạn sẽ không muốn điều đó. Cứ nhìn hàng loạt yếu tố góp phần vào sự phát triển và diễn tiến của bệnh Alzheimer, bạn sẽ hiểu cách để phòng ngừa quá trình này ngay từ đầu, hoặc đảo ngược nó một khi triệu chứng vừa bắt đầu. Điều này giúp bạn có một bảng kiểm (checklist), để xem rằng bạn đã và đang có bao nhiêu yếu tố này trong cuộc sống của mình.

Được rồi, chúng ta sẽ bắt đầu như thế nào?

Nếu bạn giống như tôi, bạn sẽ thường làm việc trễ và nhận thấy mình đang ngấu nghiến bữa ăn khuya, thường là đồ ngọt. Điều này làm cho nồng độ insulin tăng vọt ngay trước khi đi ngủ và vẫn còn cao trong suốt giấc ngủ. Bạn có thể đi ngủ rất khuya sau nửa đêm và có giấc ngủ kém chất lượng vì những cơn ngưng thở khi ngủ (thường là hậu quả của việc tăng cân).

Tuy nhiên, bạn vẫn thức dậy sớm, tỉnh táo sau giấc ngủ chỉ vài giờ. Hai chân bạn còn chưa chạm xuống sàn nhà, bản thân đã bắt đầu thấy căng thẳng khi nghĩ tới một ngày trước mắt. Bạn chộp lấy bữa ăn sáng điển hình – ví dụ như đối với dân Mỹ là một chiếc bánh cuộn ngọt hay bánh rán, một ly nước cam lớn, một cốc cà phê lớn pha với sữa ít béo – nhập vào cơ thể một lượng sữa lớn, có khả năng kích hoạt quá trình viêm, ngày càng tiến tới tình trạng đề kháng insulin do dùng nhiều đường, dần gây nguy hại cho niêm mạc dạ dày do thành phần gluten.

Bạn uống thuốc ức chế bơm proton để phòng ngừa trào ngược dạ dày-thực quản, mặc dù loại thuốc làm giảm a-xít dạ dày này sẽ làm bạn giảm hấp thu những chất dinh dưỡng quan trọng như magnesium và vitamin B12. Sau đó, bạn uống tiếp thuốc statin, một cách tuyệt vời để hạ cholesterol xuống dưới 150 và tăng nguy cơ teo não. Ồ, hóa ra chúng ta thường làm tất cả những việc này trong vòng chưa tới 12 giờ kể từ bữa ăn khuya lần cuối, có nghĩa là cơ thể sẽ chẳng bao giờ tiêu thụ và loại bỏ được amyloid, cũng như nhiều mảnh vụn protein hết chức năng bị tích tụ lại.

Việc hối hả ra khỏi nhà làm mức độ căng thẳng của chúng ta cao hơn, sản sinh ra cortisol phá hủy các tế bào thần kinh ở hồi hải mã. Sau đó, chúng ta sẽ nhảy lên xe, chắc chắn không có bài tập thể dục nào trước khi đi làm và hạn chế tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, lại một cách tuyệt vời để làm mức vitamin D trong cơ thể hạ thấp dưới chuẩn.

Vì thiếu ngủ, chúng ta bị stress và dễ cáu gắt, chúng ta sẽ làm cho các mối quan hệ xã hội trở nên áp lực và không thoải mái, tránh xa các tương tác xã hội tích cực và giết chết niềm vui. Khi lượng đường trong máu giảm xuống vào giữa sáng, chúng ta đến phòng ăn công sở, ở đó một đồng nghiệp chu đáo đã để lại một hộp bánh bông lan rải chocolate vụn cho tất cả mọi người cùng ăn.

Và còn bữa trưa sau đó?! Sẽ không có thời gian để kịp ăn gì ngoài một chiếc sandwich mua từ tiệm cà phê hay cửa hàng bán thức ăn nhanh – gồm bánh mì trắng và miếng thịt gà bở đã bị bơm nước muối, tiêm hàng tá hormone, kháng sinh cũng như yếu tố gây stress – măm măm! Có một sự lựa chọn khác, đó là bạn đổi qua món cá-hồi-tẩm-đầy-thủy-ngân?! Dù sao đi nữa, món salad này nhìn có vẻ không ngon, chúng ta nốc soda ăn kiêng cho dễ tiêu, chỉ để phá hủy thêm hệ khuẩn đường ruột của chúng ta. Bây giờ, ta có thể tìm món bánh quy để nạp thêm lượng chất béo chuyển hóa (transfat) và giảm thiểu lượng chất béo omega-3 có lợi.

Tại thời điểm này, chúng ta đã hoàn thành việc lập trình quá trình sinh lý dẫn tới bệnh Alzheimer. Nếu chúng ta muốn mắc bệnh nhanh hơn nữa, hãy thêm vào đó một điếu thuốc, để làm giảm lượng oxy đến các mô cơ thể – bao gồm cả bộ não – và đưa hàng trăm hóa chất độc hại vào trong máu của ta. Không cần thiết phải đánh răng hay dùng chỉ nha khoa, vì ai mà quan tâm chuyện vệ sinh răng miệng kém sẽ dẫn tới quá trình viêm toàn thân và phá hủy hàng rào bảo vệ cơ thể khỏi những vi khuẩn như P. gingivalis tấn công bộ não chứ?!

Sự uể oải sau bữa ăn dẫn chúng ta đến với chiếc máy bán kẹo ngọt hoặc ly Frappuccino ngọt ngào trong tủ lạnh. Này, chúng ta đã làm việc vất vả hôm nay, chúng ta đáng được thưởng! Cuộc chạy đua ngọt- và-béo này là “bài tập” duy nhất của chúng ta hôm nay (và tất cả mọi ngày). Đâu ai có thời gian để thức dậy và chạy một vòng mỗi ngày?

Cuối ngày là thời gian để phóng xe ra đường, đua thẳng về nhà và hoảng hốt khi gặp một gã ngớ ngẩn nào đó hãm phanh gấp trước mặt chúng ta – toàn những chuyện làm huyết áp tăng và hàng rào máu não trở nên lủng lỗ chỗ như chiếc rổ ta định dùng để chế biến món mì-xào-chứa đầy-gluten cho bữa tối.

Một suy nghĩ bất chợt vụt lên, hãy mua gì đó tại trạm dừng chân. Chẳng hạn một bịch khoai tây chiên cỡ đại, một nguồn hoàn hảo chứa thành phẩm bậc cao của quá trình glycation gây ra bệnh Alzheimer; hay AGE – chất béo dạng trans, insulin không tự nhiên; hay dầu ăn chiên đi chiên lại bị oxy hóa và mất chất vitamin E; gồm cả chất acrylamide độc hại cho hệ thần kinh. Bạn gần như có thể hình dung ra mỗi miếng khoai tây chiên đang đeo những đôi găng boxing, hét lên: “Đưa bọn tao đến hồi hải mã ngay!”.

Rồi ta ăn thêm hamburger – làm từ thịt bò nuôi bằng bắp ngô thay vì cỏ, có nhiều chất béo omega-6 gây viêm và ít chất béo omega-3 kháng viêm. Thêm vào đó sốt cà chua chứa nhiều si-rô bắp giàu fructose, kẹp trong hai lớp vỏ bánh chứa đầy gluten. Đó là cách hoàn hảo để xuyên thủng niêm mạc ruột và hàng rào máu não của bạn.

Về tới nhà rồi! Bạn lờ đi mùi ẩm thấp thoang thoảng khi mở cửa nhà. Bạn ngồi phịch xuống trước màn hình và mở kênh phim yêu thích, miễn là nó không kích thích tinh thần hay thể chất bạn thêm nữa. Kế đến, chúng ta có thể kết thúc một ngày sinh hoạt điển hình dẫn bạn thẳng tiến đến với bệnh Alzheimer bằng một cốc cocktail magarita để thư giãn, có khi là ba cốc kèm với chiếc bánh phô mai amaretto nữa, sau đó làm ra vẻ phải tiếp tục hoàn thành việc công sở trước khi chìm vào giấc ngủ với đèn vẫn sáng và thiết bị điện tử vẫn mở. Sáng hôm sau, bạn thức dậy và lặp lại mọi việc.

Đúng như bạn suy đoán, lối sống gây ra bệnh Alzheimer chính là cách sống của hầu hết chúng ta. Tuy nhiên, đừng sợ hãi! Vì phải mất rất nhiều năm để chứng suy giảm nhận thức nhẹ như Eleanor toàn phát thành bệnh Alzheimer, cũng phải mất nhiều năm để các yếu tố chuyển hóa và yếu tố khác xuất phát từ chế độ ăn cũng như lối sống của một người Mỹ điển hình tàn phá não bộ của một người.

Đó là tin tốt!

Tin xấu là nếu bạn thấy lối sống của bạn giống những gì tôi vừa mô tả ở trên, khả năng cao là lối sống đó đã và đang làm suy giảm sự nhạy bén trí não bạn. Không chỉ thế, nó còn mang đến ba yếu tố đe dọa hệ thần kinh (hiện tượng viêm, sự thiếu hụt các phân tử hỗ trợ não bộ và việc phơi nhiễm với độc chất), làm cho bộ não phản ứng bằng những quá trình dẫn đến bệnh Alzheimer, bao gồm việc sản sinh ra những mảng amyloid tích tụ và phá hủy các synapse của não.

Đó là lý do tại sao phác đồ ReCODE nhắm vào bộ ba nguy hiểm này. Nếu bạn có thể loại trừ những mối nguy hại này bằng cách thay đổi lối sống, bộ não sẽ không bị thúc đẩy sản sinh ra mảng amyloid có liên quan tới bệnh Alzheimer. Hãy nghĩ về điều đó theo cách chúng ta “ngăn chặn” những tên khủng bố bước lên máy bay: nếu nhân viên an ninh sân bay kiểm soát được chúng, các hành khách sẽ chẳng bao giờ phải đối mặt với những vụ khủng bố trên khoang của một chiếc 747. Bạn sẽ muốn giữ những tên khủng bố “hệ thần kinh” tránh khỏi bộ não càng xa càng tốt.

Có rất nhiều thứ bạn có thể làm để tự mình đạt được điều này, chẳng hạn như xác định mối nguy hại trong số bộ ba nguyên nhân đang gây hại cho não và khiến bộ não phải chịu đựng. Việc cộng tác với một bác sĩ lâm sàng hoặc một chuyên viên huấn luyện sức khỏe sẽ giúp bạn lên lịch làm xét nghiệm, tối ưu hóa phác đồ điều trị cho riêng bạn và theo dõi đáp ứng của cơ thể.

Như đã lưu ý ở trên, suy giảm nhận thức là một vấn đề lớn, bao trùm cả ba mối nguy hại nền tảng đối với bộ não, gồm: sự viêm; thiếu chất dinh dưỡng, hormone và các phân tử hỗ trợ nhận thức khác để nuôi dưỡng não; và sự tiếp xúc độc chất. Cái chúng ta gọi là bệnh Alzheimer thực ra là một đáp ứng bảo vệ trước những mối nguy hại này. Hai trong số chúng, sự viêm và thiếu hụt các phân tử hỗ trợ, có mối liên hệ mật thiết tới quá trình chuyển hóa.

Chuyển hóa là một chức năng của việc ăn uống, mức độ hoạt động, bộ gen, cơ chế tiếp xúc và đương đầu với stress của chúng ta. Vì chế độ ăn uống, hoạt động và stress có khả năng ảnh hưởng tới sức khỏe tim mạch cũng như các khía cạnh khác của cơ thể, nên sự mạnh khỏe của bộ não cũng liên quan chặt chẽ tới sức khỏe nói chung. Không có gì phải bàn cãi rằng có rất nhiều yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh Alzheimer – từ tình trạng tiền đái tháo đường, béo phì tới việc thiếu hụt vitamin D và lối sống thụ động – đây là những hệ quả từ cách chúng ta ăn uống và tập luyện.

Một tin vui là mặc dù có hàng tá yếu tố có thể gây viêm, thiếu hụt phân tử hỗ trợ hay nhạy cảm với thành phần độc chất – hiển nhiên là những yếu tố này đều góp phần làm suy giảm nhận thức – nhưng chúng ta đều có thể nhận diện được tất cả yếu tố đó, nhận diện càng sớm càng tốt. Dưới đây là những điều cơ bản để giải quyết từng yếu tố có khả năng tạo ra nguy cơ:

1. Phòng ngừa và làm giảm hiện tượng viêm

Viêm là đáp ứng của cơ thể, chống lại sự tấn công của những tác nhân nhiễm trùng như Borrelia (trong bệnh Lyme) hay những tình trạng gây stress cho cơ thể không do nhiễm trùng như những protein phá hủy đường, chất béo dạng chuyển hóa.

Chúng ta liên tục tiếp xúc những kẻ xâm lăng nguy hiểm từ virus và vi khuẩn, đến nấm và ký sinh trùng. Một trong những cách cơ thể chiến đấu chống lại “những kẻ xâm lăng” này là kích hoạt hệ thống miễn dịch. Nói một cách hình tượng, hệ miễn dịch sẽ đưa các tế bào bạch cầu đổ bộ đến vùng tổn thương để vây bắt và tiêu hủy các tác nhân này.

Đó là một phần của quá trình viêm. Nhưng trong lúc chúng ta cần đáp ứng viêm để chống lại những mối đe dọa cấp tính (ví dụ vùng đỏ bao quanh vết cắt trên da là sự viêm, đó là lúc mà các tế bào bạch cầu chống lại các tác nhân nhiễm trùng có thể xuất hiện), nếu như các mối đe dọa này tồn tại kéo dài, đáp ứng viêm sẽ bị kích hoạt liên tục, khi đó vấn đề mới nảy sinh.

Cơ thể đáp ứng với những tác nhân xâm lấn một phần nhờ vào việc sản xuất amyloid, một phân tử cốt lõi tạo nên những mảng amyloid ở não – đặc trưng trong bệnh Alzheimer1,2. Khi nhìn vào bên trong bộ não của một người mắc bệnh Alzheimer đã tử vong, bạn sẽ thấy các tác nhân như: vi khuẩn từ miệng, vi nấm từ mũi, các siêu vi như Herpes từ môi, Borrelia (virus gây bệnh Lyme) từ vết ve cắn. Ngày càng có nhiều bằng chứng khoa học đưa đến kết luận rằng, sau khi bị tấn công bởi các tác nhân gây bệnh, não sẽ sản sinh ra amyloid, một chất vốn có tính bảo vệ mạnh mẽ nhưng cuối cùng lại đi quá giới hạn, giết chết chính các synapse và tế bào não mà ban đầu chúng được cử tới bảo vệ.

Do vậy, để phòng ngừa và đảo ngược quá trình suy giảm nhận thức, bạn cần phải nhận diện được những quá trình nhiễm trùng tiềm tàng, tối ưu hóa chức năng hệ miễn dịch để phá hủy những tác nhân gây bệnh và giảm hiện tượng viêm mãn tính – kết quả của việc chống lại các vi sinh vật này trong nhiều năm.

Sự viêm cũng có thể diễn ra dù không bị nhiễm trùng. Chẳng hạn, nó được kích hoạt khi chúng ta tiêu thụ chất béo dạng chuyển hóa, thứ chất béo nhân tạo từng một thời có mặt ở khắp các loại đồ nướng và thức ăn nhanh, hay các loại đường. Cơ thể cũng sinh ra đáp ứng viêm khi đường ruột bị tổn thương (thường do tiêu thụ gluten, bơ sữa hay ngũ cốc), gây ra tình trạng “rò ruột” (Xem bảng bên dưới để biết danh sách thực phẩm có hàm lượng gluten cao – bạn nên tránh những loại thực phẩm này!).

t1
t2
t3

Ở người có những bệnh này, ống tiêu hóa xuất hiện những lỗ siêu nhỏ, cho phép những mảnh nhỏ thức ăn hoặc vi khuẩn đi vào dòng máu. Điều này sẽ kích hoạt quá trình viêm: hệ thống miễn dịch nhận diện những mảnh vỡ thức ăn này, nghĩ chúng là tác nhân gây bệnh ngoại lai và tấn công chúng.

Quá trình viêm mãn tính có thể xuất hiện khi ta liên tục tiếp xúc với những vi sinh vật nguy hiểm (ví dụ như vi khuẩn từ miệng đi vào dòng máu qua thành ruột bị dò, nhất là vi khuẩn từ nướu răng bị tổn thương) hoặc khi ta thường xuyên tiêu thụ những thực phẩm kích thích sự viêm như đồ ngọt. Đó là lý do phác đồ ReCODE nhắm vào việc đảo ngược tiến trình viêm bằng cách loại bỏ cả hiện tượng nhiễm trùng đang tiến triển lẫn các thực phẩm gây viêm.

Khi hiện tượng viêm xảy ra do ngộ độc đường, nó thường đi kèm với sự đề kháng insulin, thứ mà hầu hết người Mỹ cũng như hàng tỷ người trên thế giới đang mắc phải. Con người chúng ta chỉ có thể xử lý được một lượng nhỏ đường (khoảng 15 gam mỗi ngày, ít hơn phân nửa lượng đường có trong một lon nước ngọt 350 ml).

Đường cũng giống như lửa, vừa là nguồn năng lượng nhưng cũng vừa rất nguy hiểm. Nếu nhà bạn có một lò sưởi, lượng củi và kích cỡ đám lửa bạn cần để sưởi ấm phụ thuộc vào kích thước ngôi nhà: ít củi/ lửa nhỏ nếu nhà nhỏ, nhiều củilửa lớn hơn nếu nhà rộng.

Hãy tưởng tượng, bạn thu hẹp diện tích ban đầu của ngôi nhà tới 90% – về cơ bản nghĩa bạn chỉ ở trong một xó nhà, vốn dĩ cũng giống lối sống tĩnh tại của người Mỹ – bạn sẽ cần ít năng lượng hơn. Điều này làm cho đám lửa ban đầu của bạn tăng hiệu quả gấp 10 lần. Nếu bạn cứ tiếp tục cho thêm củi vào lò để giữ lửa cháy, căn nhà sẽ mau chóng trở nên nóng không chịu nổi, ngọn lửa có thể lan ra khỏi lò, và bạn sẽ cần thực hiện nhiều biện pháp để nhà không bị cháy.

Đây chính là tình trạng stress của cơ thể mà hầu hết chúng ta đều đang gặp phải. Cơ thể chúng ta nhận diện đường như một chất độc hại, và do đó nhanh chóng kích hoạt hàng loạt cơ chế để giảm nồng độ đường trong máu cũng như trong các mô. Có một cách giải quyết, đó là cơ thể dự trữ năng lượng dư thừa dưới dạng mỡ, điều này sản sinh ra những yếu tố gây hại cho não gọi là adipokines.

Nhưng việc lưu trữ năng lượng dưới dạng mỡ vẫn chưa đủ, dòng máu trong cơ thể vẫn còn tràn ngập đường, đặc biệt là glucose. Phân tử glucose gắn vào nhiều protein, ức chế rõ rệt chức năng của chúng – giống như một con bạch tuộc vươn vòi bám vào một vận động viên nhảy sào vậy.

Các tế bào của chúng ta đối phó với đường thông qua việc tăng sản xuất insulin, chất làm giảm lượng đường máu bằng cách đưa đường vào trong tế bào. Khi đối mặt với tình trạng tăng insulin kéo dài, đáp ứng với insulin sẽ giảm và cơ thể trở nên đề kháng với hiệu quả của insulin. Mà insulin lại có liên hệ mật thiết với bệnh Alzheimer qua nhiều cơ chế. Chẳng hạn, sau khi phân tử insulin thực hiện nhiệm vụ làm giảm đường huyết, cơ thể phải tiêu hủy insulin nhằm ngăn ngừa việc nó làm hạ đường huyết quá mức.

Việc này được thực hiện bởi một enzyme gọi là enzyme thoái giáng insulin IDE (insulin-degrading enzyme). Bạn đoán xem IDE còn thoái giáng thứ gì khác nữa? Chính là amyloid, thành phần protein của các mảng dính gây phá hủy synapse trong bệnh Alzheimer. Nhưng enzyme này không thể làm hai việc một lúc. Nếu IDE tiêu hủy insulin, nó không thể làm điều tương tự với amyloid, giống như một người lính cứu hỏa không thể chữa một vụ hỏa hoạn ở cực bắc của thành phố nếu anh tacô ta đang bận chữa một vụ hỏa hoạn khác ở cực nam thành phố. Do làm giảm tiêu hủy amyloid bởi IDE, nồng độ insulin cao kéo dài trong máu sẽ tăng nguy cơ mắc bệnh Alzheimer.

Bởi vậy, một thành phần quan trọng của ReCODE là giảm sự đề kháng insulin, phục hồi sự nhạy cảm với insulin và giảm nồng độ glucose, qua đó phục hồi quá trình chuyển hóa tối ưu.

2. Tối ưu hóa các hormone, yếu tố sinh dưỡng và chất dinh dưỡng

Khi chúng ta loại bỏ hiện tượng viêm bằng cách giảm sự nhiễm trùng mãn tính và đề kháng insulin, chúng ta loại bỏ được những yếu tố đe dọa làm tích tụ amyloid. Việc này ngăn chặn sự tổn thương não. Một việc thiết yếu nữa là cần tăng cường sức khỏe cho bộ não. Bạn càng giúp các synapse vững bền hơn, các mảng amyloid sẽ càng khó tích tụ và khó phá hủy các synapse.

Điều này trở nên hoàn toàn dễ hiểu từ nghiên cứu được trình bày tại hội nghị thường niên của Hội khoa học thần kinh (Hoa Kỳ) vào cuối năm 2016. Các nhà khoa học phân tích bộ não của những bệnh nhân tử vong ở tuổi 90, những người vẫn còn duy trì được trí nhớ tuyệt vời ở độ tuổi đó. Một số bộ não xuất hiện lỗ chỗ mảng amyloid. Rõ ràng là, bằng một cách nào đó, não của những người sống thọ có khả năng miễn nhễm với “sự phá hủy synapse và trí nhớ” gây ra bởi amyloid. Điều này có thể xảy ra như thế nào? Các nghiên cứu theo dõi vẫn đang được tiến hành, nhưng có hai giả thiết nổi trội. Một là nếu một người có trình độ học vấn tốt và sử dụng trí óc trong suốt cuộc đời, họ có thể có đủ lượng synapse được dự trữ, dư sức đối trọng với sự mất synapse do mảng amyloid. Giả thuyết còn lại là, một số cơ chế sinh hóa có thể tham gia chiến đấu chống lại amyloid, có lẽ bằng cách thanh lọc chúng khiến chúng không thể phá hủy các synapse, hoặc các cơ chế này củng cố synapse đủ để chống lại sự tấn công của amyloid.

Tôi rất ủng hộ việc bạn làm tất cả mọi thứ có thể để giúp hồi phục chức năng nhận thức. Đồng thời, tôi cũng rất ủng hộ việc tận dụng những cơ chế hóa - sinh học để giúp các synapse đề kháng lại sự tàn phá của các mảng amyloid. Để não hoạt động ở mức tốt nhất, bạn cần các yếu tố hỗ trợ neuron và synapse, bao gồm một số nội tiết tố (hormone), yếu tố sinh dưỡng và chất dinh dưỡng. Chương trình ReCODE cung cấp những phương thức để thúc đẩy các yếu tố này.

Trong số các hợp chất củng cố synapse, có các yếu tố sinh dưỡng BDNF có nguồn gốc từ não (brain-derived neurotrophic factor) – một chất có thể được gia tăng thông qua việc tập thể dục; các hormone như estradiol và testosterone, có thể được tối ưu hóa thông qua việc kê đơn thuốc hay bổ sung vào chế độ ăn; các chất dinh dưỡng như vitamin D và folate. Điều thú vị là, khi bộ não bị sụt giảm các hợp chất tăng cường neuron và synapse như BDNF, não sẽ đáp ứng bằng cách sản xuất ra các amyloid.

Bạn sẽ thấy danh sách các yếu tố góp phần sản sinh amyloid và làm suy giảm nhận thức – nói cách khác là những yếu tố gây bệnh Alzheimer – ngày càng dài ra, từ những quá trình kích thích viêm cho đến sự đề kháng insulin, sự thiếu hụt hormone, sụt giảm nồng độ vitamin D hay chất BDNF (cũng như các yếu tố sinh dưỡng có liên quan) và cuối cùng là việc mất các chất dinh dưỡng cũng như yếu tố hỗ trợ khác. Chúng ta cần đo lường và giải quyết tất cả các yếu tố này nếu muốn tối ưu khả năng quay ngược sự sụt giảm nhận thức.

3. Thải trừ độc tố

Nếu bạn bị một con rắn cắn và tiêm nọc độc vào người, bạn cần dùng kháng độc tố – một chất gắn kết với nọc độc rắn để bất hoạt nó. Trên thực tế, các phân tử amyloid cũng đóng vai trò tương tự khi não bộ bị nhiễm các kim loại độc hại như đồng và thủy ngân, hay các độc tố sinh học như độc tố vi nấm tạo ra bởi nấm mốc. Bằng cách gắn vào các chất độc này, amyloid ngăn chặn việc chúng phá hủy các tế bào thần kinh.

Một lần nữa, vì việc ngăn ngừa sự hình thành của các mảng amyloid là điều tối quan trọng, phác đồ ReCODE đã đem lại một phương pháp hiệu quả để giảm quá trình kích hoạt amyloid vốn bất lợi cho cơ thể. Điều này bắt đầu từ sự nhận diện việc phơi nhiễm các độc tố, loại bỏ nguồn tiếp xúc và sau đó là quá trình khử độc. Các bước này bao gồm việc sử dụng các thực phẩm giúp thải độc tố như rau củ họ cải, bổ sung nước tinh khiết, dùng phương pháp xông hơi đối với một số độc tố chuyên biệt và gia tăng các loại phân tử thiết yếu như glutathione (chất chống oxy hóa). Bằng cách đó, bộ não không còn lý do để sản xuất vô tội vạ amyloid nữa.

***

Sau khi bạn đã làm tất cả những gì có thể để loại bỏ ba yếu tố nguy hại bao gồm tình trạng viêm, thiếu hụt yếu tố hỗ trợ synapse và sự phơi nhiễm độc tố, việc thiết yếu là tái tạo các synapse đã mất, bảo vệ những synapse mới và còn nguyên vẹn. Một lần nữa, nghiên cứu từ nhiều nhóm khoa học đã nhận diện các phức hợp giúp tăng cường sự hình thành synapse, tôi sẽ giải thích chi tiết sau.

Có thể bạn đã nhận ra rằng, chương trình tôi vừa mới tóm tắt hoàn toàn khác so với việc chỉ kê một đơn thuốc. Các bệnh mãn tính phức tạp như bệnh Alzheimer có nhiều yếu tố góp phần, đó là lý do ta cần tối ưu hóa việc điều trị bằng cách tác động vào tất cả các thành tố góp phần – nghĩa là một chương trình có thể điều chỉnh linh hoạt tùy theo mỗi bệnh nhân chứ không chỉ đơn giản là uống một viên thuốc.

ReCODE không chỉ bao hàm việc điều trị toàn diện như vậy. Nó còn cho thấy hiệu quả cao hơn. Nó không phải một viên đạn bạc nhắm đến một rối loạn đơn thuần. Nó là loại đạn ghém(*) bằng bạc nhắm vào nhiều thành tố gây suy giảm nhận thức.

(*) Đạn ghém (hay còn gọi là đạn hoa cải): Khi nổ làm văng ra những viên bi nhỏ làm cho tầm sát thương rộng hơn.

Đạn ghém bằng bạc: vừa quý vừa hữu dụng hơn.

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.