Bạn không bao giờ tạo ra sự thay đổi bằng cách chống lại cái hiện hữu
Để thay đổi, xây dựng một mô hình mới làm cho cái hiện hữu trở nên lạc hậu
- R. BUCKMINSTER FULLER
Thật khó để trốn tránh những tin tức ảm đạm, dồn dập về cuộc chiến với bệnh Alzheimer: nào là căn bệnh không chữa được, không có cách điều trị hiệu quả, không có cách phòng ngừa đáng tin cậy, và rằng đây là căn bệnh đã làm đau đầu các nhà khoa học thần kinh lỗi lạc nhất thế giới trong nhiều thập kỷ qua.
Hàng tỷ đô la đã được các chính phủ, các công ty dược, các hãng công nghệ sinh học đổ vào việc phát minh và thử nghiệm thuốc chữa trị Alzheimer, nhưng có tới 99,6 % các nghiên cứu đã thất bại hoàn toàn, thậm chí còn không vượt qua được giai đoạn thử nghiệm. Nếu bạn hy vọng 0,4 % còn lại đã đến được thị trường với suy nghĩ “Dù sao, chúng ta cũng chỉ cần một loại thuốc có khả năng chữa được bệnh từ hàng trăm thử nghiệm, đúng không?”, bạn sẽ cần phải nghĩ lại.
Năm 2016, báo cáo của Hiệp hội Alzheimer Hoa Kỳ đã đề cập một thực tế ảm đạm: “Từ năm 2003, chưa có loại thuốc Alzheimer mới nào được lưu hành, trong khi những thuốc đang lưu hành hiện không hiệu quả trong việc ngăn chặn hoặc làm chậm tiến trình bệnh”. Mặc dù bốn loại thuốc trị Alzheimer hiện nay “có thể giảm nhẹ triệu chứng như mất trí nhớ và lú lẫn”, nhưng chúng chỉ có tác dụng “trong thời gian giới hạn”.
Đến đây, có thể bạn đọc đang cố lục lọi trí nhớ xem lần cuối mình đọc được thông tin rằng FDA (Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ) cho phép lưu hành một loại thuốc trị Alzheimer mới là khi nào. Đừng lo lắng nếu bạn không thể nhớ chính xác: trong số 244 loại thuốc được thử nghiệm từ năm 2000 đến năm 2010, chỉ có đúng một thuốc – memantine – được lưu hành vào năm 2003. Tôi sẽ nói thêm ở đoạn sau vì sao tác dụng của thuốc này còn rất khiêm tốn.
Thế đấy, một bức tranh không có gì tươi tắn. Cho nên chẳng có gì ngạc nhiên khi không ai muốn nghe chẩn đoán mình bị bệnh Alzheimer. Một người đàn ông có vợ đang chống chọi với căn bệnh này ngán ngẩm lắc đầu: “Bác sĩ nói với chúng tôi rằng nhiều loại thuốc đang được nghiên cứu có thể làm chậm diễn tiến của bệnh tật. Tôi tự hỏi điều đó có ích gì? Tin tôi đi, chẳng ai muốn kéo dài việc sống cùng căn bệnh này thêm một ngày nào cả”.
Alzheimer dần chiếm được sự quan tâm của cộng đồng. Qua báo đài, các trang mạng, kênh truyền hình, các bộ phim cả tài liệu lẫn viễn tưởng, chúng ta dễ dàng đọc và nghe nhiều câu chuyện về bệnh Alzheimer. Đáng buồn là tất cả đều kết thúc không có hậu. Do đó, cách chúng ta e ngại trước căn bệnh này không giống bất cứ căn bệnh nào khác, ít nhất là vì hai lý do sau.
Lý do thứ nhất, đây là căn bệnh duy nhất – xin nhắc lại “duy nhất” – không có cách chữa trị hiệu quả trong số “10 nguyên nhân tử vong hàng đầu ở Mỹ”. Ở đây, khi nói đến “hiệu quả”, tôi đã hạ tiêu chuẩn đánh giá xuống khá thấp. Nếu chúng ta có một loại thuốc hay biện pháp can thiệp nào giúp người bệnh cải thiện tốt hơn (chỉ cần tốt lên một chút, chứ chưa nói đến việc chữa khỏi) căn bệnh Alzheimer, tôi sẽ ca ngợi thành tựu này lên tận mây xanh. Không chỉ tôi vui mừng, bất cứ ai có người thân bị Alzheimer, bất cứ ai có nguy cơ mắc bệnh này và bất cứ ai đang phải chiến đấu với căn bệnh đều sẽ cảm thấy như vậy. Thế nhưng, thứ thuốc đó chưa tồn tại! Thậm chí, chúng ta còn chưa thể điều trị hiệu quả để giúp những người bị “suy giảm nhận thức bản thân” hoặc “suy giảm nhận thức nhẹ” (hai tình trạng thường xảy ra trước khi bị Alzheimer) không phát triển thành bệnh Alzheimer.
Đây là một thực tế đáng kinh ngạc, đặc biệt là khi nhìn vào những tiến bộ vượt bậc trong các lĩnh vực y học khác suốt 20 năm gần đây – chẳng hạn với bệnh ung thư hay HIVAIDS, bệnh xơ nang hay tim mạch. Kể từ thời điểm tôi viết cuốn sách này vào năm 2017 trở về trước, chúng ta không chỉ không có cách chữa khỏi bệnh Alzheimer, chúng ta còn chưa có cách nào đáng tin cậy để ngăn ngừa hoặc làm chậm tiến triển bệnh.
Bạn hẳn đã nghe nhiều nhà phê bình trào phúng về những bản tin đặc biệt buổi chiều hoặc kênh truyền hình Lifetime Movies kể về những đứa trẻ thiên thần hoặc các ông bố bà mẹ cao cả như các vị thánh chống chọi dũng cảm với bệnh tật nhờ sự trợ giúp của những loại thuốc mới thần kỳ, từng có giai đoạn hồi phục sức khỏe như chưa hề có bệnh tật gì, cho đến đoạn TV hiện lên dòng chữ rằng bệnh nhân cuối cùng cũng không qua khỏi. Nghe có cái gì đó ủy mị phải không? Thật ra, là những người làm trong mảng Alzheimer, chúng tôi ước gì được cảm nhận niềm vui ngắn ngủi đó, mong đợi bất kỳ tia hy vọng le lói nào về khả năng chữa khỏi căn bệnh này.
Lý do thứ hai khiến mọi người e sợ bệnh Alzheimer là nó không “chỉ” dẫn đến tử vong. Có rất nhiều căn bệnh gây chết người, cũng như câu nói “có sinh là có tử”. Vấn đề là bệnh Alzheimer còn tồi tệ hơn cái chết. Trong suốt nhiều năm hay thậm chí vài chục năm trước khi cái chết xảy đến, căn bệnh dần tước mất nhân dạng của bệnh nhân và khủng bố tinh thần những người thân trong gia đình. Tất cả mọi thứ – trí nhớ, tư duy, khả năng sống một cuộc sống trọn vẹn và độc lập – đều bị tước đi, thay vào đó là hố sâu tâm thần thăm thẳm và tàn nhẫn, nơi bệnh nhân không còn nhớ gì về người thân yêu, quá khứ, thế giới xung quanh hay chính bản thân họ.
Bạn có thể hình dung ra bức tranh này qua bộ phim Still Alice (Tạm dịch: Vẫn là Alice) được sản xuất vào năm 2014, nhân vật chính gây nhiều xúc động trong phim là một vị giáo sư ngôn ngữ học, mang trong mình một đột biến ADN gây ra bệnh Alzheimer vào độ tuổi trung niên. Đột biến này được khám phá vào năm 1995. Có lẽ bạn đọc từng nghe về những bước tiến vĩ đại mà các nhà sinh học nghiên cứu ung thư đã đạt được khi tìm ra các gen liên quan đến khối u, từ đó giúp chế tạo thuốc điều trị. Còn với bệnh Alzheimer thì sao? Khám phá năm 1995 đó vẫn chưa dẫn đến việc tìm ra bất kỳ thuốc nào có khả năng chữa bệnh Alzheimer.
Căn bệnh đáng sợ này còn thu hút sự chú ý vì một lý do khác. Trong 50 năm gần đây, chúng ta đã đạt được nhiều thành quả trong lĩnh vực sinh học phân tử và khoa học thần kinh. Các nhà sinh học đã giải mã được những con đường cực kỳ phức tạp dẫn đến bệnh ung thư và tìm cách ngăn chặn được nhiều đường trong số đó. Chúng ta đã lập được bản đồ những tiến trình hóa học và điện học chi phối suy nghĩ cũng như cảm xúc của não bộ, đã phát triển nhiều loại thuốc tuy chưa hoàn hảo nhưng khá hiệu quả trong việc chữa bệnh trầm cảm, tâm thần phân liệt, chứng lo âu hoặc rối loạn lưỡng cực. Chắc chắn vẫn còn nhiều thứ phải học hỏi, và còn nhiều hợp chất cần được cải thiện trong ngành dược phẩm; nhưng với hầu hết những căn bệnh khác, chúng ta khá lạc quan rằng các nghiên cứu đang đi đúng hướng, chúng ta đã hiểu được các nguyên lý cơ bản. Mặc dù tạo hóa sẽ còn thách thức con người nhưng ít ra chúng ta đã được tạo hóa trao cho sự hiểu biết về quy luật cuộc chơi. Còn bệnh Alzheimer thì khác.
Với Alzheimer, cứ như thể tạo hóa đã trao cho chúng ta cuốn sổ tay luật chơi viết bằng mực tàng hình, lại còn bị thế lực ác quỷ nào đó chơi khăm và sửa sai toàn bộ. Điều tôi muốn nói là: những chứng cứ có vẻ rất đáng tin cậy trên chuột thí nghiệm đã cho thấy nguyên nhân gây ra bệnh Alzheimer là do các mảng protein dính chùm amyloid- beta tích tụ trong não, chúng bám vào và phá hủy các điểm kết nối thần kinh. Những nghiên cứu cho thấy mảng amyloid-beta(*) được sản sinh trong não qua nhiều bước liên tiếp, và nếu phá hủy hoặc ngăn chặn được việc hình thành các mảng này, ta có thể điều trị hiệu quả, thậm chí ngăn ngừa bệnh Alzheimer.
(*) Để đơn giản, từ đây tôi sẽ gọi tắt amyloid-beta là amyloid
Từ thập niên 80, đa số các nhà sinh học thần kinh đã xem ý tưởng này (còn được gọi là “giả thuyết amyloid”) như một thứ giáo lý. Nó đã đem lại cho những người khám phá ra nó hàng triệu đô la giải thưởng, vô số lần được vinh danh và những địa vị chuyên môn danh giá. Lý thuyết này đã tác động rất lớn đến việc chọn đăng những bài báo nghiên cứu về Alzheimer trên các tạp chí khoa học hàng đầu (gợi ý nhé, cứ nhất mực bám vào thuyết amyloid sẽ được ưu tiên đăng bài!) và chọn dự án để cấp kinh phí nghiên cứu từ Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ – cơ quan đầu ngành hỗ trợ cho các nghiên cứu y sinh học.
Nhưng, khi các công ty dược thử nghiệm các hợp chất được nghiên cứu dựa trên giả thuyết amyloid, các kết quả dao động rất nhiều, từ gây thất vọng cho tới rối tung rối mù. Trong những thử nghiệm lâm sàng, cách bộ não con người đáp ứng với các hợp chất thuốc không giống với cách lý thuyết và sách vở mô tả. Chúng ta vẫn thường nghe chuyện thuốc thử nghiệm không phát huy tác dụng như khi nghiên cứu, nhưng ở đây thực tế không phải như vậy.
Trong nhiều trường hợp, các thuốc đó (thường có bản chất là các kháng thể gắn vào amyloid để phá hủy chúng) đã giúp xóa sổ các mảng amyloid một cách hiệu quả. Khi được chế tạo để vô hiệu hóa các men (enzyme) sản xuất amyloid, thuốc cũng phát huy rất tốt tác dụng này. Tóm lại, các thuốc được thử nghiệm đã thực hiện chính xác những gì các nhà phát minh mong muốn, dựa trên giả thuyết amyloid;
nhưng đáp ứng của bệnh nhân với thuốc không như mong muốn: hoặc không hồi phục, hoặc thậm chí còn tệ hơn. Kết quả của các thử nghiệm trên bệnh nhân (mỗi lần có thể tiêu tốn đến 50 triệu đô) đều trái ngược với những dự đoán được đưa ra từ nghiên cứu trên chuột trong phòng thí nghiệm.
Thuyết amyloid từng được xem là chìa khóa vàng mở ra cánh cửa điều trị bệnh Alzheimer. Nhưng đáng tiếc, thực tế không diễn ra như trong lý thuyết. Mọi chuyện cứ như thể những chiếc tàu con thoi nổ tung ngay trên bệ phóng mỗi lần khai hỏa.
Có sai sót nghiêm trọng gì đó ở đây.
Thật là thảm họa khi nhất mực bám vào thuyết amyloid một cách phiến diện, tương tự với quan niệm phổ biến trong giới y khoa cho rằng Alzheimer là một căn bệnh đơn lẻ. Thông thường, bệnh sẽ được điều trị bằng thuốc donepezil (Aricept) vàhoặc memantine (Namenda). Tôi từng nhắc đến ở đoạn trên rằng hiện chưa có thuốc điều trị căn bệnh Alzheimer, nên tôi sẽ giải thích điều này ở đây.
Aricept là tên một loại thuốc có khả năng ức chế men cholinesterase(*), ngăn không cho loại men đặc biệt này phá hủy acetylcholine (một chất hóa học của não thuộc nhóm “chất dẫn truyền thần kinh”). Các chất dẫn truyền thần kinh mang tín hiệu từ tế bào thần kinh này đến tế bào thần kinh khác, nhờ sự truyền tín hiệu này mà chúng ta có thể suy nghĩ, ghi nhớ, cảm nhận và biểu lộ cảm xúc. Do vậy, chức năng này rất quan trọng cho trí nhớ và chức năng tổng thể của não bộ. Gốc rễ của vấn đề nghe chừng đơn giản: ở những người bệnh Alzheimer, nồng độ chất achetylcholine trong cơ thể họ sụt giảm. Nếu cản trở được quá trình men cholinesterase phân hủy achetylcholine thì ta bảo tồn được nhiều achetylcholine tại các điểm tiếp hợp thần kinh (synapse) hơn. Nhờ đó, ngay cả khi căn bệnh Alzheimer đang tàn phá não bộ, các synapse này sẽ vẫn tiếp tục vận hành lâu hơn chút nữa.
(*) Các thuốc ức chế cholinesterase khác được dùng cho bệnh Alzheimer bao gồm rivastigmine (Exelon), galantamine (Razadyne) và huperzine A - riêng thuốc này không cần kê đơn.
Trong một chừng mực nào đó, điều trị dựa trên lý lẽ gốc rễ này có vẻ hiệu quả, nhưng thực tế vẫn có nhiều cảnh báo quan trọng:
◆ Thứ nhất, việc cản trở men phân hủy achetylcholine không có tác động gì lên nguyên nhân hoặc sự tiến triển của bệnh Alzheimer, tức là bệnh vẫn tiếp diễn.
◆ Thứ hai, não bộ thường đáp ứng với sự ức chế men cholinesterase theo cách mà chúng ta có thể dự đoán được: sản xuất thêm men cholinesterase! Điều này hạn chế hiệu quả của thuốc và có thể gây hại khi bệnh nhân ngưng thuốc đột ngột.
◆ Thứ ba, giống như mọi loại thuốc khác, chất ức chế men cholinesterase có các tác dụng phụ bao gồm: tiêu chảy, buồn nôn, nôn ói, đau đầu, đau khớp, ngầy ngật, ăn không ngon miệng và chậm nhịp tim.
Memantine cũng là một thuốc tác động lên các chất hóa học và phân tử ở não, nhưng không mấy tác động trên nền tảng sinh lý bệnh học của căn bệnh Alzheimer. Tuy vậy, cũng như thuốc Aricept, memantine chỉ có thể giúp giảm các triệu chứng trong một khoảng thời gian nào đó. Thuốc này thường được sử dụng trong giai đoạn sau của bệnh, nhưng cũng có thể dùng phối hợp các thuốc ức chế men cholinesterase từ đầu. Memantine ức chế sự dẫn truyền các tín hiệu não bộ từ tế bào thần kinh này đến tế bào thần kinh khác thông qua chất dẫn truyền thần kinh glutamate. Việc ức chế dẫn truyền này giúp giảm hiện tượng kích thích thần kinh có hại của glutamate, tức là giảm tác dụng gây độc đi kèm với sự hoạt hóa bình thường của hệ thần kinh. Không may là memantine cũng có thể ức chế cả sự dẫn truyền thần kinh – có vai trò thiết yếu trong việc hình thành trí nhớ, và do vậy có thể khởi phát sự phá hủy chức năng nhận thức.
Điều quan trọng nhất là các thuốc ức chế men cholinesterase lẫn thuốc memantine đều không loại bỏ được các nguyên nhân gốc rễ gây ra bệnh Alzheimer, cũng không thể ngăn bệnh diễn tiến xấu đi. Và hẳn rồi, chúng không chữa khỏi bệnh hoàn toàn được.
Tất cả các điều kể trên nghe đã đủ tệ hại, nhưng ở đây còn một vấn đề cốt lõi hơn: bệnh Alzheimer không phải là một căn bệnh đơn lẻ. Các triệu chứng của bệnh có thể khiến nhiều người lầm tưởng đây là bệnh đơn lẻ. Như tôi sẽ giải thích trong Chương 6, chúng tôi đã khám phá ra ba phân nhóm của bệnh Alzheimer. Nghiên cứu trên các bộ xét nghiệm sinh hóa khác nhau của bệnh nhân Alzheimer đã giúp chúng tôi hiểu rõ: ba phân nhóm khác nhau được chi phối bởi những quá trình sinh - hóa học khác nhau. Mỗi quy trình cần có cách điều trị khác biệt. Việc dùng một công thức điều trị cho cả ba phân nhóm cũng ngớ ngẩn tương tự việc dùng một loại kháng sinh điều trị mọi loại nhiễm trùng.
Trong hơn 30 năm qua, bệnh Alzheimer đã đánh bại những bộ óc lỗi lạc nhất trong ngành khoa học thần kinh và y khoa. Đó là tôi chưa gộp luôn hơn 70 năm kể từ lúc bệnh này được đặt tên và kể từ khi giả thuyết về amyloid ra đời, vì thời đó còn quá ít nghiên cứu về bệnh này. Bất kỳ người nào chịu khó để ý sẽ nhận thấy chúng ta đã dùng sai cách tiếp cận đối với căn bệnh này, đặc biệt bao gồm cả ý tưởng chưa từng được kiểm chứng là “xác định nguyên nhân gây sản sinh chất amyloid, loại bỏ nguyên nhân đó, sau đó loại bỏ amyloid”.
Nếu bản thân bạn có nguy cơ mắc bệnh Alzheimer cao vì có mang gen gây bệnh này, nếu bạn đã có triệu chứng của bệnh hoặc người thân bạn đã có triệu chứng, thì hiển nhiên bạn có quyền bực bội vì hiện trạng này. Do vậy, không lạ gì khi nhiều người sợ căn bệnh Alzheimer như thể đây là căn bệnh nắm giữ quyền năng tuyệt đối và không thể đánh bại bằng bất kỳ phương thức điều trị nào.
Để rồi cho đến hôm nay, bạn cầm trên tay cuốn sách này.
Tôi sẽ cố gắng diễn đạt theo cách rõ ràng nhất: bệnh Alzheimer là một căn bệnh có thể ngăn ngừa được, và trong nhiều trường hợp, sự suy giảm nhận thức đi kèm với căn bệnh này có thể được cải thiện. Điều tôi vừa nói đã được chứng minh qua các nghiên cứu mà tôi và các cộng sự đã thực hiện. Lần đầu tiên trong lịch sử, nghiên cứu cho ra kết quả mô tả chính xác hiệu quả kể trên khi điều trị trên bệnh nhân. Các kết quả này đã được tôi trình bày trong các bài báo được hội đồng chuyên gia bình duyệt, đăng trên các tạp chí y khoa hàng đầu thế giới. Vâng, tôi biết tuyên bố này có thể sẽ bị miệt thị, nhiều người sẽ không chịu thừa nhận rằng tình trạng suy giảm nhận thức là tình trạng có thể cải thiện được. Trong thực tế, nhiều bệnh nhân suy giảm nhận thức đã thể hiện sự hồi phục, và có nhiều bước chúng ta có thể cùng áp dụng ngay từ giờ để ngăn ngừa tình trạng suy giảm nhận thức – điều mà nhiều chuyên gia vẫn tin là không bao giờ có thể tránh khỏi và không bao giờ có thể cải thiện.
Tuyên bố táo bạo này đáng được chúng ta chiêm nghiệm một cách lành mạnh. Tôi mong bạn đọc sẽ giữ thái độ hoài nghi và có đánh giá của riêng mình khi đọc về ba thập kỷ nghiên cứu trong phòng thí nghiệm của chúng tôi. Kết quả của quá trình nghiên cứu này đã cho thấy những ca bệnh đầu tiên có thể quay ngược tiến trình suy giảm nhận thức ở giai đoạn chớm mắc bệnh Alzheimer, cũng như các biểu hiện sớm hơn của bệnh như tình trạng suy giảm nhận thức nhẹ (MCI – Mild Cognitive Impairment) và suy giảm nhận thức chủ quan (SCI – Subjective Cognitive Impairment).
Tôi mong các bạn sẽ tiếp tục đặt nghi vấn khi đọc chuyện kể về các bệnh nhân đã vượt ra khỏi hố sâu của sự suy giảm nhận thức, cũng như nội dung của các chương trình điều trị được thiết kế chuyên biệt cho từng cá nhân, giúp phòng ngừa chứng suy giảm nhận thức. Trong trường hợp người bệnh đã có triệu chứng thực thể (nghĩa là triệu chứng được bác sĩ ghi nhận), chúng tôi lên kế hoạch điều trị, ngăn chặn sự suy giảm nhận thức diễn tiến theo hướng định sẵn ban đầu và giúp hồi phục khả năng ghi nhớ, suy nghĩ để bệnh nhân có thể quay trở lại với cuộc sống khỏe mạnh.
Nếu các kết quả nghiên cứu mà tôi mô tả vượt qua được sự nghi ngờ của bạn thì hy vọng bạn sẽ cởi mở để xem xét việc thay đổi cuộc sống của bản thân – không chỉ khi đã bắt đầu rơi vào tình trạng suy giảm nhận thức, mà ngay trước khi triệu chứng xuất hiện.
Dĩ nhiên, những người mà cuốn sách này có khả năng mang lại thay đổi trực tiếp và ngay lập tức thường sẽ là những bệnh nhân đang phải sống chung với chứng sụt giảm trí nhớ và nhận thức (bao gồm cả người thân lẫn người chăm sóc). Bằng việc tuân thủ các phác đồ điều trị mà tôi mô tả, những người đang bị suy giảm nhận thức nhưng chưa diễn tiến đến bệnh Alzheimer, cũng như những người đang gắn chặt đời mình với căn bệnh này, không chỉ có thể ngăn chặn sự sụt giảm mà còn cải thiện được tình trạng suy giảm nhận thức mà họ đang phải chịu đựng.
Nhóm đối tượng thứ hai có thể tìm thấy ý nghĩa lớn lao khi đọc cuốn sách này là các bệnh nhân mang gen đột biến ApoE4 (viết tắt của từ apolipoprotein E – một loại protein vận chuyển chất béo). ApoE4 là yếu tố nguy cơ di truyền mạnh nhất(*) của bệnh Alzheimer. Người mang một gen đột biến ApoE4 (di truyền từ ba hoặc mẹ) có rủi ro mắc bệnh cao hơn người bình thường tới 30%, còn mang cả hai gen này (di truyền từ cả ba và mẹ) có rủi ro mắc bệnh cao hơn tỷ lệ 50% khi so với người bình thường (dao động từ 50% đến 90% tùy kết quả nghiên cứu). Đối với những người không mang gen đột biến này, rủi ro mắc bệnh chỉ chừng 9%.
(*) Các gen khác như presenilin-1 (PS1) và presenilin-2 (PS2) cũng có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh Alzheimer và hầu như luôn làm triệu chứng bệnh khởi phát trước tuổi 60, có thể còn sớm hơn khi chớm vào tuổi 30. Tuy vậy, các gen đột biến này chỉ được tìm thấy ở vài trăm gia đình có phả hệ lớn, chiếm tỷ lệ dưới 5% tổng số các trường hợp.
Phần lớn người mang gen ApoE4 không hề biết rằng trong bộ gen của mình đã được cài sẵn bom hẹn giờ của căn bệnh này, và chỉ phát hiện ra sau khi họ bắt đầu có các triệu chứng của bệnh Alzheimer – một lý do khiến họ thực hiện xét nghiệm di truyền học.
Đối mặt với quan niệm “đây là căn bệnh không có biện pháp phòng ngừa hay điều trị” nên nhiều người không muốn biết liệu bản thân có mang gen ApoE đột biến hay không. Trong thực tế, khi tiến sĩ James Watson – người đoạt giải Nobel nhờ đồng phát hiện ra cấu trúc xoắn kép của chuỗi ADN – nhận được kết quả giải trình tự bộ gen của mình vào năm 2007, ông đã nói là ông ước gì chưa từng biết việc mình có mang gen ApoE4 hay không, và rằng tại sao phải biết một tin thảm hại như vậy khi bản thân không thể làm gì để thay đổi thực trạng đó?
Tuy nhiên, hiện nay đã có một chương trình có thể giảm rủi ro mắc bệnh Alzheimer, ngay cả ở những người mang gen đột biến ApoE4. Chương trình này giúp giảm tần suất mắc sa sút trí tuệ ở những người chịu đi xét nghiệm di truyền để xác định xem bản thân có mang gen đột biến ApoE hay không và khởi động chương trình điều trị phòng ngừa thật sớm, trước khi các triệu chứng bệnh xuất hiện. Hy vọng cháy bỏng của tôi khi viết quyển sách này là một ngày nào đó những mong mỏi trên sẽ trở thành hiện thực. Tôi đặc biệt hy vọng những người có gen đột biến ApoE4 nhờ đọc sách sẽ hiểu rằng tình trạng của họ không vô vọng, và rằng họ có thể chủ động từng bước, ngăn ngừa căn bệnh Alzheimer hoặc cải thiện tình trạng suy giảm nhận thức.
Tôi tin rằng quyển sách này còn hữu ích với một nhóm độc giả khác, đó là những người bước qua lứa tuổi 40 (độ tuổi não bộ bắt đầu lão hóa và dần suy thoái).
Ai trong chúng ta cũng có mối lo “mất đi khả năng nhận thức” khi già đi, bao gồm hiện tượng suy giảm những khả năng như:
◆ đọc hiểu được lá thư người thương viết cho mình;
◆ theo dõi được mạch câu chuyện khi xem phim hoặc đọc sách;
◆ quan sát và hiểu được những người có liên quan đến cuộc đời mình;
◆ nhận thức được các sự kiện xảy ra quanh ta và duy trì được cảm giác về sự hiện hữu của mình trong thế giới mình đang sống;
◆ tự thực hiện được các hoạt động chăm sóc cơ bản cho bản thân trong đời sống hằng ngày, thay vì phải lệ thuộc vào người khác trong việc ăn uống, mặc quần áo, đi lại và tắm rửa;
◆ ghi nhớ được những sự kiện đã trải qua trong đời và cả những người trân quý gắn liền với các sự kiện đó...
Đây là những điều giúp định nghĩa bản thân với tư cách là một con người. Mất đi những điều đó cũng tương đương với việc mất đi nhân dạng với tư cách một con người có cuộc sống đầy đủ ý nghĩa.
Dành cho tất cả những ai đủ may mắn để thoát khỏi sự mất mát này, tôi chỉ có một thông điệp như sau: hãy hít một hơi thật sâu và hiểu rằng sự suy giảm nhận thức là tình trạng có thể xác định và cải thiện được (với nhiều người trong chúng ta, đặc biệt là khi được phát hiện và tiến hành can thiệp từ sớm).
Lý lẽ để tin vào điều đó là chúng tôi đã khám phá ra một điều có tính nền tảng, rằng cái gọi là “bệnh” Alzheimer không phải do não bộ làm điều gì đó lẽ ra nó không nên làm (như bệnh ung thư là hậu quả của việc các tế bào tăng sinh vô tội vạ, hoặc bệnh tim mạch là do các mạch máu bị tắc nghẽn bởi mảng xơ vữa). Bệnh Alzheimer xuất phát từ một quá trình nội sinh, giúp thu hẹp một cách lành mạnh mạng lưới synapse rộng lớn của bộ não; tuy nhiên, quá trình này lại đi quá giới hạn, khiến cơ chế dọn dẹp bình thường của não rối loạn, hậu quả là phát sinh bệnh Alzheimer.
QUYỂN SÁCH NÀY không phải là một tập sách khoa học – mặc dù tôi đã dùng các bằng chứng khoa học để ủng hộ cho những kết luận của mình – thay vào đó, nó là một tài liệu hướng dẫn thực hành, từng bước một và dễ sử dụng với mục đích phòng ngừa và đảo ngược sự suy giảm nhận thức trong giai đoạn sớm và các tình trạng tiền thân của bệnh Alzheimer (suy giảm nhận thức nhẹ và suy giảm nhận thức chủ quan), cũng như để tiếp tục duy trì sự cải thiện đó. Nó cũng là lời chỉ dẫn giúp 75 triệu người Mỹ mang gen ApoE4 có thể thoát khỏi định mệnh đã được định sẵn trong ADN của họ.
Phác đồ điều trị nhằm đạt được những mục tiêu này đã dẫn đường cho nghiên cứu khoa học đầu tiên trong toàn bộ công trình nghiên cứu – được đăng báo vào năm 2014(*). Bài báo có nói về kết quả quay ngược tiến trình suy giảm nhận thức ở 9 trong số 10 bệnh nhân mắc bệnh Alzheimer hoặc các bệnh tiền thân của nó, nhờ vào phác đồ điều trị tích hợp nhiều yếu tố được điều chỉnh theo từng người, dựa trên hàng thập kỷ nghiên cứu của chúng tôi về khía cạnh sinh học thần kinh của bệnh Alzheimer. Với tên gọi ReCODE(**), viết tắt của cụm từ “đảo ngược sự suy giảm nhận thức” (reversal of cognitive decline), phác đồ này không chỉ giúp đảo ngược suy giảm nhận thức ở bệnh Alzheimer và tiền Alzheimer – một việc không ai nghĩ là có thể – mà còn cho phép bệnh nhân duy trì sự cải thiện đó.
(*) Ba bài báo khoa học sau đó (vào năm 2015 và 2016) đã khẳng định nghiên cứu đầu tiên.
(**) Phương pháp ban đầu được gọi là MEND, viết tắt của "sự tăng cường chuyển hóa đối với quá trình thoái hóa thần kinh" (metabolic enchancement for neurodegeneration). Nhưng hiện nay MEND đã lỗi thời và được thay thế bằng phương thức ReCODE nâng cao hơn.
Khi tôi viết những dòng này, bệnh nhân đầu tiên được điều trị với ReCODE đã theo phác đồ được 5 năm, vẫn duy trì được nhận thức lành mạnh ở tuổi 73, đi du lịch khắp thế giới và làm việc toàn thời gian. Khi chúng tôi mở rộng phạm vi công việc của nhóm với hàng trăm bệnh nhân, thực tế đã chứng tỏ trường hợp trên không phải là cá biệt.
Sau khi xuất bản nghiên cứu năm 2014, chúng tôi đã nhận được hàng ngàn email, cuộc gọi và sự viếng thăm của nhiều bác sĩ, nhân viên y tế, bệnh nhân và gia đình của họ từ khắp các khu vực như Mỹ, Anh, Úc, châu Á, châu Âu, và Nam Mỹ. Họ muốn học hỏi nhiều hơn nữa về phác đồ đã được chứng minh là thành công này.
Tạp chí đã xuất bản nghiên cứu này có tên là Aging. Người của tạp chí đã gọi điện thông báo với chúng tôi rằng, trong số hàng ngàn bài báo khoa học mà tạp chí đã xuất bản trong những năm qua, bài báo của chúng tôi nằm trong số hai bài dẫn đầu – và vì thế nằm ở mức bách phân vị(*) 99,99 trong hệ thống đo lường tầm ảnh hưởng và mức độ quan tâm đối với bài báo.
(*) Một chủ thể thuộc mức bách phân vị thứ 99,99 trong một tập hợp hoặc bảng xếp hạng nghĩa là chủ thế đó được xếp hạng cao hơn 99,99% các thành phần còn lại trong tập hợpbảng xếp hạng.
Trong bài báo khoa học đầu tiên đó, tôi không mô tả từng bước chi tiết của phác đồ (tạp chí khoa học có giới hạn số trang cho mỗi bài báo). Tôi sẽ làm điều đó trong quyển sách này. Tôi sẽ kể lại chi tiết cách tôi đã phát triển ReCODE và giải thích nền tảng khoa học của nó. Trong phần phụ lục, tôi liệt kê các nguồn thực phẩm, dưỡng chất bổ sung và các thành phần khác của chương trình ReCODE kèm đường dẫn giới thiệu đến các bác sĩ chuyên khoa và những chuyên gia khác trong lĩnh vực y học có chuyên môn về mảng bệnh này. Họ có thể giúp bạn củng cố cuộc sống cá nhân của mình, hoặc là cuộc sống người thân yêu của bạn.
Không có gì quan trọng hơn là tạo nên sự khác biệt trong cuộc sống của các bệnh nhân. Đó là thứ đã dẫn dắt tôi trong hàng thập kỷ tìm kiếm cách phòng ngừa và đảo ngược bệnh Alzheimer. Nếu có nhiều người áp dụng phác đồ ReCODE, mỗi người sẽ giúp đỡ được nhiều người khác ngoài việc giúp ích cho chính họ. Bởi lẽ, cứ 9 người dân Mỹ từ 65 tuổi trở lên lại có 1 người bị mắc Alzheimer, tương ứng với con số 5,2 triệu người tại thời điểm tôi đang viết cuốn sách này. Trong khi đó, thế hệ sinh vào giai đoạn bùng nổ dân số từ thập niên 40 đến thập niên 60 đang già đi, đe dọa mang đến một cơn sóng thần bệnh Alzheimer đủ để làm phá sản hệ thống bảo hiểm quốc gia Medicare và Medicaid, đồng thời làm quá tải cơ sở vật chất của hệ thống chăm sóc y tế dài hạn của quốc gia.
Chưa bàn đến chi phí y tế, căn bệnh tàn nhẫn này sẽ ảnh hưởng đến hàng chục triệu gia đình có người thân đang bị căn bệnh hủy hoại cuộc sống. Đến năm 2050, trên toàn thế giới dự kiến sẽ có 160 triệu người mắc bệnh Alzheimer. Điều này khiến cho việc phòng ngừa và điều trị trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Qua việc chứng kiến hàng trăm bệnh nhân đã chiến thắng căn bệnh suy giảm nhận thức – mặc dù y học từng cho rằng việc hồi phục này là điều không thể – tôi đã bị thuyết phục rằng phòng ngừa và điều trị Alzheimer không còn là chiếc bánh vẽ trong phim viễn tưởng nữa. Ngay trong thời đại này, chúng ta đã biết cách thức thực hiện điều đó.
Đây là hàm ý của tôi khi nói rằng nếu có nhiều người áp dụng ReCODE, hệ quả đem lại sẽ có tác động xuyên quốc gia và trên toàn thế giới, giúp cắt giảm hàng tỷ đô la chi phí y tế mỗi năm, ngăn ngừa nguy cơ vỡ quỹ bảo hiểm y tế, giảm gánh nặng toàn cầu liên quan đến bệnh sa sút trí tuệ và giúp kéo dài tuổi thọ. Tất cả những điều đó đều khả thi.
Cuối cùng, đây là những tin tức tốt lành đầu tiên về bệnh Alzheimer và sẽ không dừng lại ở đó. Đây là trang sử mới của niềm vui, của phúc lành khi bạn có thể quay lại với cuộc sống thường ngày. Ở phần sau, bạn sẽ đọc được chia sẻ từ một trong những bệnh nhân. Bệnh nhân này cho biết ông đã nghĩ về tương lai, một lần nữa có thể nói chuyện với các cháu của mình. Một người khác lại nói rằng, trí nhớ của bà ấy đã cải thiện hơn so với tình trạng cũ đã kéo dài suốt 30 năm qua. Không chỉ vậy, vợ của một nhạc công cho biết, khả năng chơi ghita của chồng cô đã hồi phục. Hay cô con gái của một bệnh nhân khác nói, mẹ cô ấy (người đã dần dần mất trí qua mỗi lần cô từ trường đại học về thăm nhà) nay đã trở lại là một phần của gia đình. Điều mà bạn đọc được ở đây là khởi đầu của một thế giới đã thay đổi, một khởi đầu cho sự lụi tàn của bệnh Alzheimer.
Sau đây là nội dung của các chương sau:
Từ Chương 2 đến Chương 6, tôi sẽ nói về cuộc hành trình khoa học giúp phát minh ra phác đồ ReCODE. Các chương này sẽ mô tả những khám phá khoa học đóng vai trò nền tảng cho phác đồ điều trị — về bản chất và điểm xuất phát của bệnh Alzheimer, cũng như lý do tại sao bệnh Alzheimer lại phổ biến đến vậy.
Đây là những khám phá ủng hộ cho phương pháp tiếp cận có hiệu quả đầu tiên — giúp phòng ngừa suy giảm nhận thức, xác định các yếu tố chuyên hóa và gia tăng nguy cơ mắc bệnh, đồng thời đảo ngược sự suy giảm nhận thức nếu nó đã bắt đâu.
Bên cạnh đó, có những khám phá thách thức niềm tin cố hữu khi nhắc tới bệnh Alzheimer: chúng chứng tỏ rằng căn bệnh tàn khốc này là kết quả của một quá trình thích nghi vốn có tính lành mạnh và bình thường của não, nay diễn ra quá mức kiểm soát. Điều này có nghĩa là khi bộ não chịu các tác nhân chấn thương, nhiễm trùng và các tổn thương khác (tôi sẽ giải thích nhiều loại tác nhân ở phần sau), nó sẽ phản ứng lại để bảo vệ chính nó. Cơ chế phòng vệ này bao gồm việc sản sinh phân tử amyloid có liên quan đến Alzheimer.
Đúng vậy! Bạn không nhìn lầm đâu — các mảng amyloid mà ai cũng muốn tống khứ ra khỏi cơ thể vốn dĩ là một phần của phản ứng bảo vệ cơ thê. Nên không có gì ngạc nhiên khi việc cố gắng loại bỏ các mảnh amyloid này chẳng mang lại lợi ích nào cho các bệnh nhân Alzheimer.
Do đó, trái ngược với niềm tin cô hữu hiện nay, cái mà người ta gọi là bệnh Alzheimer thực ra là một đáp ứng bảo vệ có liên quan chuyên biệt đến ba quá trình khác nhau: sự viêm, nồng độ các chất dinh dưỡng và những phân tử nâng đỡ synapse khác thiếu tối ưu, cùng với sự phơi nhiễm độc chất.
Tôi sẽ nói nhiều hơn về những quá trình đó trong Chương 6. Còn bây giờ, hãy để tôi nhân mạnh một thông điệp giản đơn: việc nhận ra bệnh Alzheimer có thể biểu hiện theo ba phân nhóm (tuýp) riêng biệt (và thường là có sự kết hợp giữa những phân nhóm đó) đã tác động sâu đậm đến cách chúng ta lượng giá, phòng ngừa và điều trị bệnh. Khám phá đó cho phép ta điều trị tốt hơn các dạng bệnh nhẹ như suy giảm nhận thức nhẹ và suy giảm nhận thức chủ quan, trước khi nó tiễn triển đến bệnh Alzheimer toàn phát.
Trong Chương 7, bạn sẽ tìm hiểu về các xét nghiệm giúp nhận diện điều gì đang gây suy giảm nhận thức cho bạn hoặc khiến bạn có nguy cơ bị bệnh — nghĩa là bạn đã hoặc sẽ mắc Alzheimer như thế nào. Những bài kiểm tra này là bước cần thiết, bởi vì có rất nhiều yếu tố góp phần làm suy giảm nhận thức cho người này, nhưng nhiều khả năng sẽ khác với những yếu tố đã ảnh hưởng lên người khác. Những bài kiểm tra đó sẽ tạo một hồ sơ thông tin chuyên biệt cho bạn, để xem yếu tố nào có thê giải quyết nhằm tối ưu hóa quá trình cải thiện nhận thức. Bạn sẽ hiểu được lý do đẳng sau mỗi xét nghiệm — nghĩa là, bằng cách nào các chỉ số sinh lý đo được đã góp phần vào chức năng của não và triệu chứng của bệnh Alzheimer. Chương 7 tóm tắt các xét nghiệm liên quan việc “nội soi tầm soát nhận thức” và giải thích các nguyên lý đẳng sau, giúp hướng dẫn hành động.
Chương 8 và Chương 9 giải thích những việc cần làm, tương ứng với các kết quả xét nghiệm của bạn. Các chương này thảo luận về những nguyên tắc nền tảng để đảo ngược tiền trình suy giảm nhận thức và giảm nguy cơ sa sút cho tương lai: quá trình viêmnhiễm trùng, sự đề kháng insulin, tình trạng thiếu hụt dinh dưỡng và nội tiết tố, hiện trạng phơi nhiễm độc chất cùng với sự thay thế và bảo vệ các synapse não bị mất hoặc rối loạn chức năng.
Đây không phải là cách tiếp cận “một khuôn mẫu cho tất cả”. Phiên bản phác đồ ReCODE dành cho mỗi người đều được cá nhân hóa, dựa trên các kết quả kiểm tra của họ: phiên bản của bạn sẽ khác với những người khác, vì nó đã được điều chỉnh nhằm tối ưu hóa với tình trạng sinh lý riêng của cơ thể bạn. Dĩ nhiên, sự thật là ReCODE có hiệu quả trong phòng ngừa và đảo ngược suy giảm nhận thức đã khiến nó trở nên độc nhất và mới lạ. Tuy nhiên, điều quan trọng không kém là nó vẫn tập trung vào nguyên tắc điều trị cá thê hóa.
Từ Chương 10 đến Chương 12, tôi sẽ giải thích chìa khóa để đạt được kết quả điều trị tốt nhất và cách duy trì sự cải thiện đó. Những chương này mang lại những giải pháp thay thế, không chỉ giúp bạn đảo ngược sự suy giảm nhận thức, mà còn giải quyết các câu hỏi và chỉ trích liên quan trực tiếp đến cách tiếp cận này.
Kể từ khi y học “hiện đại” ra đời vào thế kỷ 19, các bác sĩ đã được đào tạo để chẩn đoán bệnh – ví dụ, tăng huyết áp, suy tim sung huyết hoặc viêm khớp – và để kê một toa thuốc chuẩn dành-cho-tất-cả-mọi- người, chẳng hạn như thuốc giảm huyết áp dành cho bệnh tăng huyết áp. Điều đó đang từ từ thay đổi, chẳng hạn qua các liệu pháp điều trị chính xác đối với bệnh ung thư, trong đó bác sĩ lựa chọn thuốc tùy vào kết quả xét nghiệm đặc tính di truyền khối u của bệnh nhân.
Lực đẩy cho nền y học cá thể hóa có thể đưa chúng ta đến gần hơn khía cạnh cốt lõi của Đông y như TCM (Traditional Chinese Medicine – Y học Cổ truyền Trung Hoa) và y học cổ truyền Ayurvedic của Ấn Độ. Mặc dù các thầy lang xưa thuộc trường phái y học chữa lành không nhận thức được một cách chi tiết khía cạnh sinh học phân tử của các căn bệnh, nhưng họ lại là các chuyên gia trong việc điều trị toàn diện cho cơ thể thay vì chỉ tập trung vào một “bệnh” đơn lẻ như tăng huyết áp.
Nền y học mới – y học thế kỷ 21 – kết hợp những tinh hoa của phương pháp tiếp cận phương Tây hiện đại với phương Đông truyền thống. Nó kết hợp những hiểu biết về cơ chế phân tử với kiến thức tổng thể về con người. Điều này cho phép chúng ta đi xa hơn việc đặt câu hỏi đơn giản về “Vấn đề gì?”, mà thay vào đó là câu hỏi “Tại sao vấn đề lại sinh ra?”. Trong việc phòng ngừa và điều trị bệnh Alzheimer, việc đặt câu hỏi “Tại sao” làm cho mọi thứ khác biệt hẳn.
Nghiên cứu mà các đồng nghiệp và tôi đã tiến hành trong phòng thí nghiệm còn bổ sung thêm một ý: không ai đáng phải chết vì bệnh Alzheimer. Để tôi nhấn mạnh lần nữa: Không ai đáng phải chết vì bệnh Alzheimer! Để đạt được điều này, chúng ta – các bác sĩ và bệnh nhân – cần cập nhật cách thực hành y khoa từ nền y học thế kỷ 20 sang y học thế kỷ 21, đồng thời cần chủ động chăm sóc sức khỏe trí tuệ và sức khỏe chung của mình.
Những quyển sách về khoa học trong y khoa thường được cho là khô khan, liệt kê các “dữ kiện thực tế” khách quan như kiểu văn bản được bình duyệt bởi người trong ngành và chứng thực bởi các chuyên gia. Vì thế, tôi rất mong cuốn sách này sẽ không khô khan như vậy.
Như lịch sử đã chứng minh, hết lần này qua lần khác một cách rất thường xuyên, các dữ kiện, tri thức mà cộng đồng khoa học nói chung và lĩnh vực y sinh nói riêng chấp nhận, tán thành và tuyên truyền như thánh kinh cuối cùng hóa ra lại không chính xác (Ví dụ kinh điển: trẻ sơ sinh không biết đau, viêm loét gây nên bởi stress, liệu pháp hormone thay thế cho phụ nữ hậu mãn kinh giúp ngăn ngừa bệnh tim mạch, vân vân và vân vân). Lĩnh vực các bệnh lý thoái hóa thần kinh cũng không thoát khỏi sự ảnh hưởng sâu sắc và tàn phá của các giáo điều cố hữu trong chính ngành này. Tùy vào việc bạn hỏi chuyên gia nào và hỏi vào lúc nào, câu trả lời nhận được có thể là bệnh Alzheimer do gốc tự do gây ra, hoặc do sự gắn kết phân tử kim loại, hoặc do các protein gấp sai cấu trúc, hoặc do bệnh đái tháo đường ảnh hưởng lên não, hoặc do protein tau, hoặc do các tác động khác tương tự cơ chế gột rửa...
Chà, danh sách này cứ thế kéo dài. Đơn giản là chúng ta chưa có sự đồng thuận. Hơn nữa, không có giả thuyết hiện hành nào giải thích được tất cả các dữ liệu đã được công bố, chứa trong hơn 50.000 trang các bài báo khoa học. Còn gì đáng ngạc nhiên hơn nữa khi bệnh Alzheimer đang tác động đến 45 triệu trong số 325 triệu người Mỹ hiện nay?
Đó là lý do tôi muốn tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh, bản chất căn bệnh, quá trình thoái hóa thần kinh xảy ra đằng sau nó, những cách tiếp cận có phần quá đơn giản đã được dùng để điều trị bệnh, khía cạnh tài chính và chính trị đằng sau những quyết định được đưa ra, và cả hàng triệu bệnh nhân đang héo mòn dần ngoài kia.
Là các bác sĩ, chúng tôi e ngại rằng xúc cảm và đam mê có thể tác động đến những quyết định y khoa mình đưa ra, và khiến chúng tôi mất đi tính khách quan. Đây là mối quan tâm chính đáng. Tuy nhiên, bất cứ ai làm trong lĩnh vực Alzheimer – những người đang chứng kiến sự đau khổ và tuyệt vọng mà nó gây ra – đều có thể kết luận hợp lý rằng sự lãnh đạm cũng tác động không kém đến các quyết định hằng ngày của chính chúng ta.
Có phải xã hội của chúng ta đã trở thành một xã hội thờ ơ đối với bi kịch do sa sút trí tuệ gây ra? Có phải chúng ta đã từ bỏ trước khi cố gắng hết sức để tìm ra giải pháp? Có phải chúng ta đã quá vội vàng khi kết luận rằng những bộ óc thiên tài (từng phát minh ra phương pháp mổ bắc cầu mạch vành, thuốc kháng sinh, phương pháp lọc huyết tương, chân tay giả, tế bào gốc và phương pháp ghép tạng) hoàn toàn vô dụng trong cuộc chiến chống lại bệnh Alzheimer? Có phải chúng ta, những bác sĩ và nhà khoa học, cũng chính là những tù nhân của định kiến y khoa khi tập trung hoàn toàn vào các cách tiếp cận đơn trị liệu, một-liệu-pháp-dùng-cho-tất-cả-mọi-người đối với bệnh Alzheimer bất kể nó đã thất bại bao nhiêu lần đi nữa?
Tôi hy vọng là không, bởi vì nếu nhu cầu thực sự là mẹ của phát minh thì có lẽ niềm đam mê là cha của nó.